“Sarah…”
“Không, Johnny. Tốt nhất đừng nói gì cả. Thời gian đã hết rồi.”
“Anh muốn nói là em rất đẹp.”
“Vậy sao?”
“Phải,” anh khẽ nói, “Sarah thân yêu.”
“Chúng ta đã bù đắp lại tất cả chưa?” Cô hỏi anh.
Johnny mỉm cười nhẹ, “Sarah, chúng ta đã làm tất cả những gì có thể rồi.”
Herb đi làm về, nhìn thấy Sarah mà dường như không chút ngạc nhiên. Ông chào đón cô, cố gắng đùa nghịch với đứa bé, rồi trách Sarah sao không đưa thằng bé đến sớm hơn.
“Màu da và gương mặt nó giống hệt con,” Herb nói, “Cha nghĩ sau này mắt nó cũng sẽ giống con thôi.”
“Hy vọng nó được thông minh như cha nó,” Sarah nói. Cô đang thắt tạp dề. Bên ngoài trời đã tắt nắng, chỉ hai mươi phút nữa là trời sẽ tối hẳn.
“Con biết đấy, nấu nướng đáng lẽ là việc của Johnny,” Herb nói.
“Không cản được cô ấy đâu. Cô ấy dí súng vào đầu con đấy.”
“À, có lẽ thế lại hay,” Herb nói, “Mọi món con nấu đều có vị như mì ống cả.”
Johnny vớ lấy cuốn tạp chí ném về phía ông, Danny bật cười, âm thanh sắc lẹm lấp đầy căn phòng.
Ông ấy có nhận ra không? Johnny nghĩ. Mọi chuyện tưởng chừng như rõ như ban ngày, Johnny nhìn cha mình lục tìm những món đồ chơi cũ trong tủ, một ý nghĩ kinh ngạc nảy ra trong đầu: Có lẽ ông hiểu.
Họ dùng bữa. Herb hỏi Sarah về công việc của Walt ở Washington, cô kể cho họ nghe về hội nghị mà ông đang tham gia, một hội nghị liên quan đến các yêu sách đất đai của người da đỏ. Sarah nói, hầu hết các cuộc họp của Đảng Cộng hòa đều chỉ là để thăm dò tình hình.
“Hầu hết những người ông ấy gặp đều cho rằng, nếu năm tới Reagan thắng Ford, điều này đồng nghĩa với sự sụp đổ của Đảng Cộng hòa,” Sarah nói, “Nếu đảng này chết, có nghĩa là Walt sẽ không thể cạnh tranh chiếc ghế của Bill Cohen vào năm 1978, năm mà Cohen sẽ tranh cử ghế của Thượng nghị sĩ Bill Hathaway.”
Herb đang nhìn Danny ăn đậu, thằng bé ăn từng hạt một cách rất nghiêm túc, dùng hết cả sáu chiếc răng của mình. “Cha nghĩ Cohen sẽ không đợi đến năm 1978 đâu, ngày mai ông ta sẽ cạnh tranh với Muskie luôn cho xem.”
“Walt nói Bill Cohen không ngốc đến thế,” Sarah nói, “Ông ấy sẽ đợi. Walt nói cơ hội của chính ông ấy sắp đến rồi, và em đã bắt đầu tin vào lời ông ấy.”
Sau bữa tối, họ ngồi trong phòng khách, không bàn chuyện chính trị mà nhìn Danny chơi những chiếc xe gỗ cũ kỹ, món đồ mà Herb đã làm cho con trai mình hai mươi lăm năm trước. Khi đó, Herb còn rất trẻ, kết hôn với một người phụ nữ tốt bụng, người thỉnh thoảng buổi tối vẫn uống chút bia. Khi đó tóc ông vẫn chưa bạc, và ông tràn đầy hy vọng vào đứa con trai của mình.
Ông ấy thực sự hiểu, Johnny vừa uống cà phê vừa nghĩ. Dù ông có biết chuyện gì đã xảy ra giữa Sarah và tôi chiều nay hay không, dù ông có nghi ngờ hay không, ông ấy vẫn hiểu. Con không thể thay đổi hay sửa chữa nó, chỉ có thể chấp nhận hiện thực. Chiều nay cô ấy và tôi đã hoàn tất một cuộc hôn nhân. Tối nay ông ấy đang chơi với cháu mình.
Anh nhớ đến vòng quay định mệnh đang chầm chậm xoay chuyển.
Nhà cái thắng, tất cả mọi người đều thua.
Sự u sầu dường như muốn xâm chiếm tâm hồn anh, nhưng anh gạt nó đi. Đây không phải là lúc để u sầu, anh sẽ không để nó chi phối mình.
Tám rưỡi, Danny bắt đầu quấy khóc, Sarah nói: “Chúng ta phải đi thôi. Trên đường về Kennebunk, nó có thể bú một bình sữa. Cách đây ba dặm, nó sẽ uống sạch bình thôi. Cảm ơn sự chiêu đãi của hai bác.” Đôi mắt xanh lấp lánh của cô nhìn Johnny một cái.
“Rất vui vì hai con đã đến,” Herb nói, đứng dậy, “Phải không, Johnny?”
“Vâng,” anh nói, “Để con khiêng chiếc nôi đó ra, Sarah.”
Tại cửa. Herb hôn lên trán Danny (bàn tay mũm mĩm của Danny nắm lấy mũi Herb, ấn mạnh khiến hai mắt ông ứa lệ) và hôn lên má Sarah. Johnny khiêng chiếc nôi đến bên chiếc xe màu đỏ, Sarah đưa chìa khóa cho anh, bảo anh đặt nôi vào ghế sau. Sau khi anh đặt xong, cô đứng bên cửa ghế lái, nhìn anh. “Chúng ta đã cố gắng hết sức rồi,” cô nói, mỉm cười nhẹ. Nhưng đôi mắt lấp lánh của cô cho anh biết nước mắt sắp trào ra.
“Như vậy là tốt rồi,” Johnny nói.
“Chúng ta sẽ giữ liên lạc chứ?”
“Anh không biết, Sarah. Chúng ta sẽ chứ?”
“Thật quá dễ dàng, phải không?”
“Đúng, vô cùng dễ dàng.”
Cô tiến lại gần hôn lên má anh. Anh có thể ngửi thấy mùi tóc cô, thanh khiết và thơm ngát.
“Bảo trọng nhé,” cô thì thầm, “Em sẽ nhớ anh.”
“Ngoan nhé, Sarah,” anh nói, chạm vào mũi cô.
Cô quay người, chui vào trong xe, một người phụ nữ xinh đẹp có người chồng đang trên đà thăng tiến. Tôi nghi là năm sau họ sẽ không còn lái chiếc xe này nữa đâu, Johnny nghĩ thầm.
Đèn xe bật sáng, rồi động cơ nổ máy. Cô giơ một tay lên vẫy anh, rồi lái xe ra khỏi đường lái. Johnny đút hai tay vào túi, đứng bên cạnh thớt gỗ, nhìn cô rời đi. Một thứ gì đó trong lòng anh dường như đã khép lại. Đây không phải là cảm giác chủ đạo. Điều tồi tệ nhất là – đây hoàn toàn không phải là cảm giác chủ đạo.
Anh đứng đó cho đến khi không còn nhìn thấy đèn hậu của xe, rồi leo lên bậc thềm hiên, quay vào nhà. Cha anh đang ngồi trên chiếc ghế bành lớn trong phòng khách. Tivi đã tắt. Đồ chơi vương vãi khắp sàn, ông đang nhìn đăm đắm vào chúng.
“Rất vui khi thấy Sarah,” Herb nói, “Con và cô ấy…” ông dừng lại một lát rất ngắn… “chơi vui chứ?”
“Rất vui,” Johnny nói.
“Cô ấy sẽ còn đến chứ?”
“Không, con nghĩ là không đâu.”
Anh và cha nhìn nhau.
“À, có lẽ thế lại tốt hơn,” Herb nói cuối cùng.
“Vâng, có lẽ vậy.”
“Con từng chơi những món đồ này,” Herb nói, quỳ xuống nhặt đồ chơi dưới sàn, “Khi Lori sinh đôi, cha đã cho nó vài món, nhưng cha biết mình vẫn còn giữ lại một ít.”
Ông đặt từng món vào chậu, kiểm tra từng cái trong tay. Một chiếc xe đua, một chiếc xe bò, một chiếc xe cảnh sát, một chiếc xe tải nhỏ đã bong tróc sơn đỏ, ông đặt chúng lại vào tủ cất kỹ.
Johnny đã ba năm không gặp lại Sarah Hazlett.
Năm đó tuyết rơi rất sớm. Đến ngày 7 tháng 11, mặt đất đã phủ một lớp tuyết dày sáu inch, Johnny phải mang ủng cao su và áo len khi đi lấy thư. Hai tuần trước, David Pearson gửi một bưu phẩm, bên trong là vài cuốn giáo trình anh sẽ dùng khi đi dạy vào tháng Một, Johnny đã bắt đầu chuẩn bị bài giảng. Anh rất mong chờ được quay lại dạy học. David đã tìm cho anh một căn hộ trên phố Holland ở thị trấn Cleaves. Số 24 phố Holland. Johnny viết điều này vào một tờ giấy, để trong ví, vì anh luôn không nhớ nổi cái tên và con số đó.
Hôm nay bầu trời âm u, nhiệt độ dưới 20 độ F. Johnny bước lên đường lái xe riêng, tuyết đang rơi. Vì chỉ có một mình, nên anh thè lưỡi ra hứng những bông tuyết. Anh đi bộ gần như không còn khập khiễng nữa, anh cảm thấy rất tốt. Đã hơn hai tuần rồi không bị đau đầu.
Thư từ bao gồm một tờ quảng cáo. Một cuốn "Newsweek" và một phong bì nhỏ, trên phong bì ghi "John Smith", không có địa chỉ người gửi. Trên đường về nhà, Johnny nhét đống thư khác vào túi quần, mở phong bì ra. Anh rút ra một tờ giấy in, nhìn thấy phía trên ghi "Insider", anh dừng lại giữa đường.
Đây là trang thứ ba của tạp chí "Insider" tuần trước. Tin tiêu điểm là về vụ bê bối của một ngôi sao truyền hình, người này từng bị đuổi học hai lần ở trường trung học (mười hai năm trước), và bị phạt vì tàng trữ cocaine (sáu năm trước). Đối với các bà nội trợ Mỹ, đây đúng là tin nóng hổi. Ngoài ra còn có một thực đơn giảm cân, ảnh một em bé và bài báo về một cô gái được chữa khỏi bại não một cách kỳ diệu. Ở cuối trang giấy đó, một bài báo được khoanh tròn. Tiêu đề là: "Nhà ngoại cảm ở Maine thừa nhận trò bịp bợm". Bài báo này không có tên tác giả.
Tạp chí "Insider" không chỉ đưa tin về những nhà ngoại cảm bị các "tờ báo quốc gia" gọi là phớt lờ, mà còn vạch trần những kẻ lừa đảo, những kẻ khiến mọi người không thể chấp nhận được những nhà ngoại cảm thực thụ.
Gần đây, một kẻ lừa đảo đã thừa nhận trò bịp bợm của mình với tạp chí "Insider". Cái gọi là "nhà ngoại cảm" này chính là John Smith ở Pownal, Maine. Hắn đã thừa nhận với nguồn tin của chúng tôi rằng "Tất cả mọi thứ đều là trò lừa đảo, là để trả chi phí y tế cho tôi. Nếu tôi có thể viết một cuốn sách, tôi sẽ có đủ tiền trả viện phí và có thể nghỉ ngơi vài năm." Smith cười nhếch mép, "Thời buổi này, người ta tin vào mọi thứ – tại sao tôi không nhân cơ hội này kiếm một món hời chứ?"
"Nhờ sự nỗ lực của tạp chí Insider, John Smith đã không thể kiếm được món hời nào. Chúng tôi xin nhắc lại, bất cứ ai có thể chứng minh một nhà ngoại cảm nổi tiếng quốc gia là kẻ lừa đảo, chúng tôi sẽ trao thưởng một ngàn đô la."
Hãy cảnh giác với những kẻ lừa đảo!
Johnny đọc bài báo hai lần, lúc này tuyết rơi càng lúc càng dày. Anh mỉm cười, nghĩ thầm: Phóng viên tạp chí rõ ràng rất không thích việc bị đá ra khỏi hành lang. Anh bỏ tờ giấy vào lại phong bì, nhét nó vào túi quần như những lá thư khác.
“Dees,” anh nói khẽ, “Tôi hy vọng anh vẫn còn bầm tím.”
Cha anh thì không thản nhiên như vậy. Herb sau khi đọc xong mẩu tin cắt đó đã đập mạnh nó xuống bàn bếp, vô cùng tức giận: “Con nên kiện tên khốn đó. Đây hoàn toàn là phỉ báng, Johnny. Đây là một cuộc tấn công ác độc.”
“Con rất đồng ý với cha,” Johnny nói. Bên ngoài trời đã tối hẳn. Trận tuyết buổi chiều đến tối đã biến thành một trận bão tuyết mùa đông. Gió rít gào, lớp tuyết dày phủ kín đường lái xe. “Nhưng khi chúng ta nói chuyện không có người thứ ba, Dees hiểu rõ điều đó, chỉ có hai người chúng ta.”
“Hắn ngay cả cái gan để ký tên cũng không có,” Herb nói. “Nhìn cái ‘nguồn tin của Insider’ này xem. Nguồn tin này là gì? Bảo hắn nói ra là ai xem nào.”
“Ồ, không thể làm thế được,” Johnny nói, cười nhếch mép, “Thế chẳng khác nào tự rước họa vào thân. Như vậy họ sẽ xào xáo chuyện này cả trang báo mất. Không thể làm thế. Con lại thấy họ làm một việc tốt đấy chứ. Con không muốn dựa vào việc tiên đoán để kiếm sống, bảo mọi người thứ gì ở đâu, hay mua loại vé số nào.” Sau khi Johnny tỉnh lại từ cơn hôn mê, một trong những điều khiến anh ngạc nhiên nhất chính là việc Maine và các bang khác hợp pháp hóa vé số. “Tháng trước con nhận được mười sáu lá thư, bảo con chỉ cho họ số nào trúng thưởng. Thật là thiếu suy nghĩ. Đừng nói là con không làm được, ngay cả khi con làm được, điều đó có ích gì cho họ chứ? Ở Maine, con không thể tự chọn số, chỉ có thể được gì thì chịu nấy. Nhưng họ vẫn viết thư cho con.”
“Cha không hiểu điều đó có liên quan gì đến bài báo chết tiệt kia.”
“Nếu mọi người nghĩ con là kẻ lừa đảo, có lẽ họ sẽ không làm phiền con nữa.”
“Ồ,” Herb nói, “Cha hiểu ý con rồi.” Ông châm tẩu thuốc. “Con luôn không thích cái năng lực đặc biệt này, phải không?”
“Đúng vậy,” Johnny nói, “Hai cha con mình chưa bao giờ nói về chuyện này, con rất vui. Những người khác dường như chỉ muốn nói về chuyện này.” Không chỉ đơn thuần là mọi người muốn nói về chuyện này, nếu chỉ là vậy thì anh cũng sẽ không phiền lòng đến thế. Nhưng khi anh mua bia hay bánh mì ở cửa hàng, cô gái thu ngân cố tránh chạm vào tay anh, vẻ kinh hãi trong mắt cô ta là điều hiển nhiên. Bạn bè của cha anh khi gặp anh chỉ vẫy tay chứ không bắt tay. Tháng Mười, Herb thuê một nữ sinh trung học địa phương đến dọn dẹp vệ sinh mỗi tuần một lần. Ba tuần sau, cô bé xin nghỉ, không nói lý do – có lẽ ai đó ở trường đã nói cho cô bé biết cô đang làm việc cho ai. Dường như ai cũng sợ bị chạm vào, sợ tiếp xúc với Johnny, đối xử với anh như với một bệnh nhân phong. Mỗi khi như vậy, Johnny lại nhớ đến những y tá nhìn anh chằm chằm ngày anh báo tin nhà bà Irene bị cháy, nhớ đến phóng viên truyền hình tại buổi họp báo đã tránh né anh, không dám để anh chạm vào. Tất cả những điều này đều rất bất thường.
“Không, hai cha con mình chưa từng nói về việc này,” Herb đồng ý, “Điều này làm cha nhớ đến mẹ con. Bà ấy tin con được ban cho… một năng lực đặc biệt nào đó. Đôi khi cha nghĩ có lẽ bà ấy đúng.”
Johnny nhún vai: “Con chỉ muốn sống một cuộc sống bình thường. Con muốn quên đi tất cả những điều này. Nếu bài báo này giúp con đạt được mục đích đó, thì thật tốt quá.”
“Nhưng con vẫn có năng lực đặc biệt, phải không?” Herb hỏi, chăm chú nhìn con trai mình.
Johnny nhớ lại một đêm cách đây một tuần. Họ ra ngoài ăn tối, trong tình cảnh eo hẹp hiện tại, đây là chuyện rất hiếm. Họ đến một nhà hàng tốt nhất địa phương, nơi đó lúc nào cũng đông khách, đêm đó trời rất lạnh, trong nhà hàng nóng hầm hập. Johnny cầm áo khoác của mình và của cha đến phòng gửi đồ, khi anh lật những chiếc áo treo trên móc để tìm móc treo trống, một loạt hình ảnh rõ nét hiện ra trong đầu anh. Tình huống này thỉnh thoảng sẽ xuất hiện, có lúc anh loay hoay hai mươi phút với đống quần áo mà chẳng thu được gì. Đây là chiếc áo khoác lông của một quý bà, bà ta đã ngoại tình với một người bạn chơi bài của chồng, rất sợ hãi nhưng không biết làm sao để kết thúc mối quan hệ đó. Một chiếc áo khoác da cừu của một người đàn ông. Gã này đang lo lắng – lo lắng cho anh trai mình, người anh vừa bị thương nặng tại công trường xây dựng tuần trước. Một chiếc áo len của một cậu bé – bà nội vừa tặng cậu bé một chiếc radio hôm nay, cậu bé rất tức giận vì cha không cho mang radio vào nhà hàng. Còn một chiếc áo khoác đen giản dị, chiếc áo này khiến anh lạnh toát cả người, mất sạch khẩu vị. Người đàn ông mặc chiếc áo này sắp phát điên rồi. Hiện tại bề ngoài ông ta rất bình thường, ngay cả vợ ông ta cũng không nghi ngờ, nhưng cái nhìn của ông ta về thế giới đang trở nên u ám dần, tràn ngập những ảo tưởng hoang tưởng. Chạm vào chiếc áo này giống như chạm vào một con rắn đang cuộn mình.
“Đúng, con vẫn có năng lực đặc biệt,” Johnny nói ngắn gọn, “Con thực sự ước mình không có.”
“Con thực sự nghĩ vậy sao?”
Johnny nhớ đến chiếc áo khoác đen giản dị đó. Anh chỉ ăn một chút, đảo mắt nhìn quanh, cố gắng nhận diện ông ta trong đám đông, nhưng không thành công.
“Đúng,” anh nói, “Con thực sự nghĩ vậy.”
“Tốt nhất là quên đi,” Herb nói, vỗ vỗ vai con trai. Tháng tiếp theo, dường như quá khứ đã thực sự bị lãng quên. Johnny lái xe đến trường trung học tham gia một cuộc họp giáo viên, đồng thời mang đồ đạc cá nhân của mình đến căn hộ mới, căn hộ tuy nhỏ nhưng rất thoải mái.
Anh lái xe của cha đi, khi chuẩn bị xuất phát, Herb hỏi anh: “Con không căng thẳng chứ? Lái xe không làm con căng thẳng sao?”
Johnny lắc đầu, bây giờ anh đã ít nhớ về vụ tai nạn đó rồi. Nếu anh phải gặp chuyện, thì cứ để nó xảy ra. Anh tin chắc rằng cùng một chuyện sẽ không xảy ra hai lần, anh không tin mình sẽ chết vì tai nạn xe hơi.
Thực tế, chuyến đi dài đó rất suôn sẻ, cuộc họp giống như buổi họp mặt bạn cũ. Những đồng nghiệp vẫn còn ở lại dạy tại trường trung học đều đến gặp anh, nhưng anh nhận thấy họ không ai bắt tay anh, và dường như anh cảm thấy có một vẻ né tránh trong mắt họ. Trên đường lái xe về nhà, anh tự thuyết phục mình đó chỉ là tưởng tượng… nếu không phải tưởng tượng… thì nó cũng có khía cạnh thú vị của nó. Nếu họ đã đọc tạp chí "Insider", thì nên biết anh là kẻ lừa đảo, không có gì phải lo lắng cả.
Họp xong, chỉ còn việc quay về Pownal đợi Giáng sinh đến, những bưu phẩm chứa vật dụng cá nhân không còn được gửi đến nữa, Johnny nói với cha mình, đây chính là sức mạnh của báo chí. Thay vào đó là vài lá thư nạt nộ nặc danh và bưu thiếp, những người gửi thư cảm thấy mình bị lừa.
“Ngươi nên chịu sự đau khổ dưới địa ngục.” Một lá thư viết như vậy. Lá thư này được viết trên một tờ giấy khách sạn nhàu nát, “Ngươi là một tên lừa đảo khốn kiếp. Ta cầu xin Chúa trừng phạt ngươi. Ngươi nên cảm thấy xấu hổ, thưa ông. Kinh Thánh nói tội nhân sẽ bị ném vào biển lửa bị thiêu cháy! Ngươi là kẻ bán linh hồn vì tiền. Hy vọng ta không gặp ngươi trên đường phố quê nhà ngươi.” Lá thư viết đến đó là hết. Ký tên, “Một người bạn (của Chúa chứ không phải của ngươi)!”
Trong vòng hai mươi ngày kể từ khi bài báo trên tạp chí "Insider" được đăng tải, có hơn hai mươi lá thư loại này được gửi đến. Có vài người thích mạo hiểm tỏ ý muốn hợp tác làm ăn với Johnny. “Tôi từng làm trợ lý cho một ảo thuật gia,” một trong những lá thư khoe khoang, “Tôi có thể làm trò lột sạch quần áo một bà lão gái điếm, nếu ông chuẩn bị chơi trò đọc tâm thuật, cần tôi tham gia!”
Sau đó thư cũng thưa dần. Một buổi chiều cuối tháng Mười một, khi Johnny kiểm tra hộp thư thì phát hiện nó trống không liên tiếp ba ngày, trên đường về nhà, anh nhớ lại Andy Warhol từng dự đoán ở Mỹ, mỗi người chỉ có thể nổi tiếng trong mười lăm phút. Rõ ràng, mười lăm phút của anh đã đến rồi đi, không ai vui mừng về điều đó hơn anh.
Nhưng sự thật cho thấy, chuyện này vẫn chưa kết thúc.
“Có phải Smith không?” giọng nói trong điện thoại hỏi, “John Smith phải không?”
“Đúng.” Giọng nói này rất lạ, có lẽ là gọi nhầm. Nhưng điều này không mấy khả thi, vì ba tháng trước cha anh đã xóa số điện thoại khỏi danh bạ rồi. Hôm nay là ngày 16 tháng 12, góc nhà đặt cây thông Noel, bên ngoài đang có tuyết rơi.
“Tôi tên là Berman, Cảnh sát trưởng George Berman của Castle Rock.” Ông hắng giọng, “Tôi… có người giới thiệu ông với tôi.”
“Làm sao ông biết số điện thoại này?”
Berman lại hắng giọng: “Lẽ ra tôi có thể lấy số này từ công ty điện thoại, vì đây là công vụ cảnh sát. Nhưng thực ra tôi lấy được từ một người bạn của ông. Bác sĩ Weizak.”
“Sam Weizak đưa số điện thoại của tôi cho ông?”
“Đúng.”
Johnny vô cùng bối rối ngồi xuống ghế. Anh nhớ lại cái tên Berman này, anh vừa mới thấy tên ông ta trên tờ phụ trương chủ nhật, ông ta là cảnh sát trưởng của Castle Rock. Thị trấn này nằm ở phía tây Pownal, thuộc khu vực ven hồ. Castle Rock là thủ phủ của khu vực đó, cách Norway ba mươi dặm; cách Bridgton hai mươi dặm.
“Công vụ cảnh sát?” anh lặp lại.
“Đúng, có thể nói là vậy. Liệu chúng ta có thể cùng uống một tách cà phê…”
“Liên quan đến Sam sao?”
“Không, bác sĩ Weizak không liên quan đến chuyện này,” Berman nói, “Ông ấy đã gọi cho tôi, nhắc đến tên ông. Đó là… ít nhất một tháng trước rồi. Thú thật, lúc đó tôi nghĩ ông ấy điên rồi. Nhưng bây giờ chúng tôi đã bó tay rồi.”
“Chuyện gì vậy? Ông Berman – Cảnh sát trưởng, tôi không biết ông đang nói gì.”
“Tốt nhất là chúng ta gặp nhau uống tách cà phê,” Berman nói, “Tối nay thế nào? Trên phố Bridgton có một nơi gọi là Joe’s. Nằm giữa thị trấn của ông và thị trấn của tôi.”
“Không, xin lỗi,” Johnny nói, “Tôi phải biết chuyện gì đang xảy ra. Tại sao Sam không gọi cho tôi?”
Berman thở dài, “Tôi đoán ông không bao giờ đọc báo.”
Nhưng điều này không đúng. Sau khi tỉnh lại, anh luôn cố gắng đọc báo, cố gắng hiểu những điều mình không biết. Gần đây anh vừa đọc được tên của Berman. Quả thực là vậy. Vì Berman đang gánh vác trọng trách. Ông ta phụ trách – Johnny đưa ống nghe ra xa tai, nhìn nó, giống như nhìn một con rắn độc, đột nhiên hiểu ra.
“Ông Smith?” tiếng nói chói tai truyền đến từ ống nghe, “Alo? Ông Smith?”
“Tôi đây.” Johnny đưa ống nghe trở lại bên tai nói. Anh rất tức giận với Sam Weizak, mùa hè năm nay Sam vừa bảo anh đừng phô trương, vậy mà lại sau lưng nói chuyện của anh cho tên cảnh sát nhà quê này.
“Có phải liên quan đến vụ siết cổ người không?”
Berman im lặng rất lâu. Sau đó ông nói, “Chúng ta có thể nói chuyện không, ông Smith?”
“Không, tuyệt đối không.” Sự tức giận của anh chuyển thành phẫn nộ, và những cảm xúc khác. Anh rất sợ hãi.
“Ông Smith, chuyện này rất quan trọng, hôm nay…”
“Không, đừng làm phiền tôi. Hơn nữa, ông không đọc tạp chí Insider sao? Tôi chỉ là một tên lừa đảo thôi.”
“Bác sĩ Weizak nói…”
“Ông ấy không có quyền nói gì cả!” Johnny hét lên, toàn thân run rẩy. “Tạm biệt!” anh dập máy cái rầm, nhanh chóng rời khỏi góc đặt điện thoại, như thể làm vậy có thể ngăn nó reo lần nữa. Anh cảm thấy thái dương bắt đầu đau nhức. Có lẽ mình nên gọi cho mẹ anh ở California, anh nghĩ thầm, nói cho bà biết con trai nhỏ của bà đang ở đâu, bảo bà liên lạc với anh. Ăn miếng trả miếng.
Thay vào đó, anh tìm thấy danh bạ trong ngăn kéo bàn điện thoại, tìm số điện thoại văn phòng của Sam ở Bangor, rồi quay số. Đầu dây bên kia vừa đổ chuông, anh liền cúp máy ngay lập tức, lại cảm thấy sợ hãi. Tại sao Sam lại làm như vậy? Rốt cuộc là tại sao chứ?
Anh không tự chủ được mà nhìn cây thông Noel.
Vẫn là những món đồ trang trí cũ kỹ đó. Hai ngày trước, họ lại lôi chúng từ trên gác mái xuống, lấy ra từ những túi giấy và treo lên. Đồ trang trí cây thông Noel trông thật nực cười. Khi một người lớn lên, rất nhiều thứ đã thay đổi, hiếm có thứ gì vừa phù hợp với trẻ con lại vừa hợp với người lớn. Quần áo hồi nhỏ đã đem quyên góp cho Hội Cứu Thế, chiếc đồng hồ hình Vịt Donald hỏng dây cót, đôi bốt cao bồi nhỏ xíu đã rách nát, chiếc túi da tự tay làm cũng đã bị thứ tốt hơn thay thế, đồ chơi xe hơi và xe đạp của bạn đã được thay bằng những món đồ chơi của người lớn—xe hơi, vợt tennis, vân vân. Bạn chỉ giữ lại rất ít thứ: vài cuốn sách, một đồng tiền vàng may mắn, hay một cuốn sổ sưu tập tem.
Còn cả đồ trang trí cây thông Noel trong phòng cha mẹ bạn nữa.
Năm này qua năm khác, vẫn những thiên thần nhỏ sứt mẻ ấy, vẫn những quả cầu thủy tinh ấy, và cả cái giá đỡ cây thông. Johnny vừa ấn vào thái dương vừa nghĩ, đôi khi, nếu quên hẳn những món đồ thời thơ ấu này đi, có lẽ sẽ tốt hơn. Những cuốn sách từng làm bạn phấn khích sẽ chẳng bao giờ còn mang lại tác động tương tự, đồng tiền vàng may mắn cũng chẳng giúp bạn thoát khỏi những phiền toái trong cuộc sống thường nhật. Khi nhìn vào những món đồ trang trí, bạn lại nhớ đến người mẹ xưa kia từng chỉ đạo việc đặt đồ lên cây, nhớ đến năm nay chỉ còn lại hai người, vì mẹ bạn đã phát điên rồi qua đời, nhưng đồ trang trí cây thông vẫn còn đó. Người ta chẳng bảo vào dịp Giáng sinh, số người tự sát đặc biệt nhiều sao? Lạy Chúa! Chẳng có gì đáng ngạc nhiên cả.
Chúa đã ban cho con bao nhiêu sức mạnh vậy, Johnny.
Quả đúng như vậy, Chúa là một người rất dễ đối phó. Ngài hất văng tôi ra khỏi kính chắn gió của một chiếc xe taxi, làm gãy chân tôi, khiến tôi hôn mê gần năm năm, ba người đã chết. Cô gái tôi yêu đã lấy chồng. Cô ấy sinh một đứa con với một luật sư, đứa trẻ đó đáng lẽ phải là của tôi, còn chồng cô ấy thì đang cố sống cố chết để đi Washington làm chính trị. Nếu tôi đứng liên tục vài tiếng, hai chân sẽ đau nhức dữ dội. Chúa thật biết đùa, ngay cả mấy quả cầu thủy tinh trên cây thông này còn sống lâu hơn tôi. Quả là một thế giới tuyệt vời, Chúa thật giỏi giang. Thời chiến tranh Việt Nam, Ngài đáng lẽ nên đứng về phía chúng ta, vì xưa nay vẫn luôn như thế mà.
Ngài có việc cần con làm đấy, Johnny.
Để tôi giúp một gã cảnh sát khốn kiếp thoát khỏi tình thế khó khăn, để hắn ta được bầu lại vào năm sau ư?
Đừng trốn tránh, Johnny. Đừng lẩn trốn.
Anh day day thái dương. Ngoài nhà, gió gào thét. Anh hy vọng cha mình trên đường đi làm về hãy cẩn thận.
Johnny đứng dậy, khoác lên mình chiếc áo len dày. Anh bước ra ngoài, đi đến cái chòi phía sau, nhìn hơi thở của mình hóa thành làn sương trắng. Bên trái là một đống củi lớn, do chính anh chẻ vào mùa hè, bên cạnh là một hộp mồi lửa, và cạnh đó nữa là một xấp báo cũ. Anh ngồi xổm xuống bắt đầu lục tìm báo. Đôi tay anh nhanh chóng tê dại, nhưng anh vẫn không ngừng tìm, cuối cùng cũng tìm thấy tờ phụ trương chủ nhật mà mình cần.
Anh mang tờ báo vào nhà, trải lên bàn bếp, tìm thấy bài viết trong chuyên mục phóng sự, rồi ngồi xuống đọc lại lần nữa.
Bài viết có kèm vài bức ảnh, một tấm chụp một người đàn bà lớn tuổi đang khóa cửa, một tấm khác là xe cảnh sát đang tuần tra trên con phố vắng tanh, những tấm còn lại chụp các cửa hàng hầu như không có bóng người. Tiêu đề bài viết là: "Công cuộc truy tìm kẻ sát nhân Castle Rock vẫn đang tiếp diễn".
Bài viết cho biết, năm năm trước, một nữ phục vụ trẻ tên Alma Fletcher đã bị cưỡng hiếp rồi bóp cổ chết trên đường đi làm về. Công tác điều tra do văn phòng Tổng chưởng lý bang và Sở Cảnh sát Castle Rock cùng chịu trách nhiệm. Kết quả là trắng tay. Một năm sau, tại một căn hộ tầng ba trên phố Cabin ở Castle Rock, người ta phát hiện một người đàn bà lớn tuổi hơn cũng bị cưỡng hiếp rồi bóp cổ chết. Một tháng sau, kẻ sát nhân lại ra tay, lần này nạn nhân là một nữ học sinh cấp hai.
Một cuộc điều tra nghiêm ngặt khác lại diễn ra, FBI cũng đã can thiệp, nhưng vẫn không có kết quả. Tháng 11, Cảnh sát trưởng thị trấn là Carl M. Kelso thất cử, George Bannerman được bầu làm Cảnh sát trưởng, chủ yếu vì ông ta tuyên bố sẽ bắt bằng được "Kẻ sát nhân Castle Rock".
Hai năm trôi qua. Kẻ sát nhân không bị bắt, nhưng cũng không có vụ án mạng nào mới xảy ra. Sau đó, tháng 1 năm ngoái, thi thể của Carol Durbago, mười sáu tuổi, được hai cậu bé tìm thấy. Cha mẹ Durbago từng báo cáo cô mất tích. Cô bé thường xuyên trốn học ở trường trung học, vì tội ăn cắp mà bị kỷ luật hai lần, trước đó từng bỏ nhà đi một lần, chạy tuốt đến Boston. Bannerman và cảnh sát bang đều cho rằng cô bé đã gặp phải kẻ sát nhân khi đang đi nhờ xe. Khi băng tuyết tan, hai cậu bé phát hiện thi thể cô tại ven con suối Streamer. Pháp y xác định cô đã chết từ hai tháng trước.
Tờ phụ trương chủ nhật này đã có từ sáu tuần trước, tỏa ra mùi hôi hám. Bài viết trích dẫn lời của hai nhà tâm lý học không muốn tiết lộ danh tính. Một nhà tâm lý học đề cập đến một loại sở thích tình dục đặc biệt—một xung động hành động bạo lực khi đạt cực khoái. Hay lắm, Johnny nghĩ, mặt nhăn nhó. Hắn bóp cổ họ khi đang xuất tinh. Cơn đau đầu của anh ngày càng dữ dội.
Nhà tâm lý học khác chỉ ra rằng, cả năm vụ án mạng đều xảy ra vào cuối thu hoặc đầu đông. Mặc dù bệnh nhân mắc chứng rối loạn lưỡng cực không có khuôn mẫu nhất định, nhưng rất có thể tâm trạng của kẻ sát nhân có mối liên hệ mật thiết với sự thay đổi của các mùa. Từ giữa tháng 4 đến cuối tháng 8, hắn có thể đang ở trong giai đoạn trầm cảm, sau đó bắt đầu dần dần đi lên, đạt đến đỉnh điểm vào lúc gây án.
Trong trạng thái hưng cảm hoặc đỉnh điểm, kẻ sát nhân có thể có ham muốn tình dục mạnh mẽ, năng động, táo bạo và lạc quan. "Hắn có thể tin rằng cảnh sát không thể bắt được mình", nhà tâm lý học giấu tên kết luận như vậy. Bài viết tổng kết rằng, cho đến nay, phán đoán của kẻ sát nhân là hoàn toàn chính xác.
Johnny đặt tờ báo xuống, ngước nhìn đồng hồ, nhận ra cha mình có thể về bất cứ lúc nào, trừ khi tuyết chặn đường ông. Anh mang tờ báo ra lò sưởi, ném vào ngọn lửa.
Không phải việc của mình. Sam Weizak chết tiệt.
Đừng trốn tránh, Johnny.
Anh vốn chẳng hề trốn tránh. Anh chỉ là không may, mới xảy ra tai nạn xe hơi đáng tiếc đó thôi. Chẳng lẽ điều đó có nghĩa là anh có thể tự coi mình là kẻ bất hạnh sao?
Chẳng lẽ anh có thể tự thương hại bản thân đến thế sao?
"Đi chết đi." Anh tự nhủ, rồi đi đến cửa sổ nhìn ra ngoài. Chẳng thấy gì cả, chỉ có gió gào thét thổi bay tuyết trắng. Anh hy vọng cha mình lái xe cẩn thận, nhưng anh cũng hy vọng cha mau chóng trở về để kết thúc những suy nghĩ vẩn vơ này. Anh lại đi đến bên điện thoại, chần chừ không quyết.
Dù anh có tự thương hại hay không, anh cũng đã mất đi những năm tháng đẹp nhất của cuộc đời mình. Anh cố gắng quay lại cuộc sống của một người bình thường. Chẳng lẽ anh không nên có quyền riêng tư của mình sao? Chẳng lẽ anh không nên sống một cuộc sống bình thường sao?
Này anh bạn, chẳng còn cuộc sống bình thường nào để mà sống nữa đâu.
Chỉ có cuộc sống bất bình thường mà thôi. Lần đi ăn ở nhà hàng đó là ví dụ, chạm vào quần áo người khác là biết được hỉ nộ ái ố của họ—đó là bất bình thường. Đó là một loại siêu năng lực; một lời nguyền.
Nếu anh thực sự gặp gã cảnh sát trưởng đó thì sao? Anh cũng đâu nhất thiết phải kể cho hắn nghe điều gì. Nếu anh có thể thì sao? Nếu anh thực sự có thể chỉ ra kẻ sát nhân một cách dễ dàng thì sao? Thế thì sẽ giống như buổi họp báo ở bệnh viện lần trước, chỉ là gây chấn động hơn thôi.
Trong cái đầu đau nhức của anh, một bài hát bắt đầu vang lên điên cuồng, đó là bài hát anh từng hát ở trường Chúa nhật hồi nhỏ: Ánh sáng nhỏ nhoi của tôi... tôi muốn nó tỏa sáng... ánh sáng nhỏ nhoi của tôi... tôi muốn nó tỏa sáng... để nó tỏa sáng, tỏa sáng, để nó tỏa sáng...
Anh nhấc ống nghe, quay số văn phòng của Weizak. Bây giờ đã qua năm giờ, rất an toàn. Weizak có lẽ đã về nhà rồi, mà chuyên gia thần kinh học nổi tiếng thì không tiết lộ số điện thoại nhà riêng. Điện thoại đổ chuông sáu, bảy lần, Johnny đang định đặt máy xuống thì Sam tự mình bắt máy, "Alo, ai đó?"
"Sam?"
"John Smith?" Sự vui mừng trong giọng nói của Sam rất rõ ràng—nhưng đằng sau niềm vui đó liệu có chút bất an nào không?
"Vâng, là tôi."
"Cậu có thích trận tuyết này không?" Weizak nói, có lẽ hơi nhiệt tình quá mức, "Chỗ cậu cũng đang có tuyết chứ?"
"Đang có tuyết."
"Ở đây mới bắt đầu từ một tiếng trước. Họ nói... John? Có phải vì chuyện của cảnh sát trưởng không? Có phải vì chuyện đó mà cậu mới lạnh lùng như vậy không?"
"Đúng, ông ta đã gọi cho tôi," Johnny nói, "Tôi cảm thấy ngạc nhiên về điều đó. Tại sao ông lại nói tên tôi cho ông ta. Tại sao ông không gọi cho tôi nói với tôi... tại sao ông không gọi cho tôi trước để xin sự đồng ý của tôi?"
Weizak thở dài: "Johnny, tôi có thể đã nói dối, chuyện sau đó tôi không nói cho cậu biết là vì cảnh sát trưởng đã cười nhạo tôi. Tôi nghĩ, khi một người nào đó cười nhạo đề nghị của tôi, thì người đó sẽ không chấp nhận đề nghị đó đâu."
Johnny dùng bàn tay còn lại day day thái dương đang đau nhức, nhắm mắt lại: "Nhưng tại sao, Sam? Ông biết thái độ của tôi mà. Chính ông bảo tôi đừng làm lớn chuyện, chính ông nói thế."
"Chuyện này lên báo rồi," Sam nói, "Tôi tự nhủ, Johnny phải quên đi quá khứ, bắt đầu một cuộc sống mới. Tôi lại tự nhủ, năm người phụ nữ đã chết, năm người!" Giọng ông chậm rãi, ngập ngừng, có chút xấu hổ. Nghe Sam nói vậy, Johnny cảm thấy rất khó chịu. Anh rất hối hận vì đã gọi cuộc điện thoại này.
"Hai người vẫn còn là thiếu nữ. Một người mẹ trẻ. Một nữ giáo viên yêu Browning. Tất cả những điều này có vẻ quá đỗi bình thường, phải không? Bình thường đến mức không thể dựng thành phim hay truyền hình. Tôi thường nghĩ đến nữ giáo viên đó. Bị nhét vào cống thoát nước như một túi rác..."
"Ông không có quyền lôi tôi vào những tưởng tượng tội phạm của ông." Johnny nói bằng giọng khàn đặc.
"Không, có lẽ là không."
"Chẳng có cái 'có lẽ' nào cả!"
"Johnny, cậu không sao chứ? Giọng cậu nghe..."
"Tôi rất ổn!" Johnny hét lên.
"Cậu nghe không ổn chút nào."
"Đầu tôi rất đau, điều đó lạ lắm sao? Tôi thực sự ước ông đừng lôi tôi vào. Khi tôi kể cho ông nghe chuyện về mẹ tôi, ông đã không gọi cho bà ấy. Vì ông nói..."
"Tôi nói có những chuyện tốt nhất nên quên đi. Nhưng đó không phải là chân lý áp dụng cho mọi nơi, Johnny. Dù kẻ này là ai, tính cách của hắn vô cùng đáng sợ. Hắn có thể sẽ tự sát. Khi hắn không giết người trong hai năm, tôi tin cảnh sát nghĩ rằng hắn đã tự sát rồi. Nhưng một bệnh nhân mắc chứng rối loạn lưỡng cực có một giai đoạn cân bằng rất dài—đó gọi là 'giai đoạn đình trệ bình thường'—rồi lại bắt đầu biến động. Sau khi giết nữ giáo viên đó vào tháng trước, hắn có thể đã tự sát. Nhưng nếu hắn chưa, thì sao? Hắn có thể sẽ giết thêm một người, hoặc hai, hoặc bốn, hoặc..."
"Câm miệng!"
Sam nói: "Tại sao Cảnh sát trưởng Bannerman lại gọi cho cậu? Điều gì khiến ông ta thay đổi ý định?"
"Tôi không biết. Tôi đoán cử tri đang ép ông ta."
"Tôi rất xin lỗi vì đã gọi cho ông ta, Johnny, rất xin lỗi vì đã làm cậu khó chịu đến thế. Nhưng tôi còn xin lỗi hơn vì đã không gọi để nói cho cậu biết những gì tôi đã làm. Tôi sai rồi. Trời biết cậu có quyền sống cuộc đời của mình một cách bình yên."
Nghe những suy nghĩ của mình được người khác nói ra, điều đó chẳng khiến anh dễ chịu hơn chút nào. Ngược lại, anh cảm thấy bất hạnh và tội lỗi hơn.
"Được rồi," anh nói, "Đừng nhắc đến nữa, Sam."
"Tôi sẽ không bao giờ nói với bất kỳ ai nữa. 'Mất bò mới lo làm chuồng' thôi. Là một bác sĩ, tôi quá thiếu thận trọng."
"Được rồi." Johnny lại nói. Anh cảm thấy cô độc và không nơi nương tựa, sự lúng túng của Sam chỉ làm anh thêm khó chịu.
"Liệu tôi có thể sớm gặp cậu không?"
"Tháng sau tôi sẽ đến Cleaves dạy học. Tôi sẽ ghé thăm ông."
"Được thôi. Một lần nữa xin lỗi cậu, John."
Đừng nói vậy!
Họ nói lời tạm biệt, Johnny gác máy, ước rằng mình đã không gọi cuộc điện thoại này. Có lẽ anh không muốn Sam nhận lỗi nhanh đến thế. Có lẽ điều anh thực sự muốn Sam nói là 'Tôi đã thực sự gọi cho cậu ấy. Tôi muốn cậu đứng lên làm một việc gì đó'. Anh đi đến bên cửa sổ, nhìn màn đêm gào thét. Bị nhét vào cống thoát nước như một túi rác... Lạy Chúa, đầu anh đau muốn nổ tung.
Nửa giờ sau, Herb về đến nhà, ông nhìn khuôn mặt tái mét của Johnny và hỏi: "Đau đầu à?"
"Vâng."
"Có nặng lắm không?"
"Không nặng lắm."
"Chúng ta sắp xem tin tức toàn quốc," Herb nói, "Tôi về nhà kịp lúc, thật tốt quá. Nhiều phóng viên của đài NBC chiều nay đều đã đến Castle Rock, cả nữ phóng viên mà cậu cho là rất xinh đẹp cũng ở đó. Kathy Marjinn."
Ông nhìn vẻ mặt của Johnny, chớp chớp mắt. Trong khoảnh khắc đó, khuôn mặt Johnny dường như chỉ toàn là đôi mắt, chằm chằm nhìn ông, đầy đau đớn.
"Castle Rock? Lại một vụ án mạng nữa ư?"
"Vâng. Sáng nay họ phát hiện một cô bé ở công viên thị trấn, chuyện đau lòng nhất. Tôi đoán con bé băng qua công viên để đến thư viện làm bài tập, con bé đến thư viện, nhưng không bao giờ trở về nữa... Johnny, trông cậu đáng sợ lắm, con trai à."
"Con bé bao nhiêu tuổi?"
"Chỉ mới chín tuổi," Herb nói, "Kẻ làm chuyện này đáng bị cắt phăng cái của quý của hắn, tôi nghĩ vậy."
"Chín tuổi," Johnny nói, đổ ập xuống ghế, "Thật tàn nhẫn!"
"Johnny, cậu thực sự không sao chứ? Mặt cậu trắng như tờ giấy vậy..."
"Không sao. Xem tin tức đi."
Không lâu sau, John Chancellor xuất hiện trước mặt họ, đưa tin về các tin tức bầu cử, sắc lệnh chính phủ, tin tức quốc tế và "câu chuyện cảm động" về một cậu bé bại não nuôi bò.
"Có lẽ họ đã cắt bỏ nó rồi," Herb nói.
Nhưng sau một đoạn quảng cáo, Chancellor nói: "Ở phía tây bang Maine, đêm nay người dân của một thị trấn đang cảm thấy kinh hoàng và giận dữ. Thị trấn đó chính là Castle Rock, trong năm năm qua, tại đó đã xảy ra năm vụ án mạng kinh hoàng—năm người phụ nữ từ hai mươi bảy đến mười bốn tuổi bị cưỡng hiếp và bóp cổ chết. Hôm nay, tại Castle Rock lại xảy ra vụ án mạng thứ sáu, nạn nhân là một cô bé chín tuổi. Kathy Marjinn đang đưa tin về sự việc này tại Castle Rock."
Cô xuất hiện, trông giống như một vật thể hư cấu trên bối cảnh chân thực. Cô đứng đối diện với tòa nhà hành chính thị trấn. Cơn bão tuyết ban đêm thổi vào vai và mái tóc vàng của cô.
"Chiều nay, một trạng thái cuồng loạn bao trùm lấy thị trấn nhỏ vùng New England này," cô bắt đầu, "Người dân Castle Rock từ lâu đã cảm thấy bất an về kẻ sát nhân không rõ danh tính kia, báo chí gọi kẻ đó là 'Kẻ sát nhân Castle Rock' hoặc 'Kẻ sát nhân tháng 11'. Sự bất an đó đã biến thành nỗi sợ hãi—vì thi thể của Mary Kate Henderson đã được tìm thấy tại công viên thị trấn, không xa khán đài âm nhạc; nạn nhân đầu tiên của Kẻ sát nhân tháng 11, một nữ phục vụ tên Alma Fletcher, cũng chính là được tìm thấy tại khán đài âm nhạc đó."
Ống kính quay công viên thị trấn, nơi đó trông hoang vắng chết chóc trong tuyết lớn. Tiếp theo là ảnh của Mary Kate Henderson, cô bé đang cười toe toét, lộ ra bộ niềng răng bằng thép. Tóc cô bé màu vàng nhạt, quần áo màu xanh đậm. Đây có lẽ là bộ quần áo đẹp nhất của con bé, Johnny đau đớn nghĩ. Mẹ con bé đã mặc cho con bé bộ đồ đẹp nhất để chụp ảnh.
Phóng viên vẫn tiếp tục nói—bây giờ họ đang hồi tưởng lại những vụ án trong quá khứ—nhưng Johnny đã gọi điện thoại rồi, trước tiên là gọi tổng đài, sau đó gọi văn phòng cảnh sát Castle Rock. Anh quay số rất chậm, cơn đau đầu giật lên từng hồi.
Herb đi từ phòng khách ra, tò mò nhìn anh: "Con đang gọi cho ai thế, con trai?"
Johnny lắc đầu, lắng nghe tiếng chuông điện thoại ở đầu dây bên kia. Có người nhấc máy: "Đây là văn phòng Cảnh sát trưởng Castle Rock."
"Tôi muốn nói chuyện với Cảnh sát trưởng Bannerman."
"Ông có thể cho tôi biết tên không?"
"John Smith, gọi từ Pownal."
"Vui lòng chờ một chút."
Johnny nhìn lại tivi, thấy Bannerman mặc chiếc áo khoác dày, trên vai gắn quân hàm cảnh sát trưởng. Khi trả lời câu hỏi của phóng viên, ông ta trông rất gượng gạo và cứng nhắc. Vai ông ta rất rộng, đầu to, mái tóc xoăn màu đen. Ông ta đeo một cặp kính không gọng, trông rất không hài hòa, những người to lớn đeo kính thường là như vậy.
"Chúng tôi đang lần theo một số manh mối," Bannerman nói.
"Alo, ông Smith phải không?" Bannerman nói.
Cảm giác song trùng kỳ lạ đó lại xuất hiện. Bannerman xuất hiện ở hai nơi cùng một lúc. Johnny cảm thấy một cơn chóng mặt, giống như cảm giác khi đang ở trên vòng quay.
"Ông Smith? Ông còn đó không?"
"Vâng, tôi đây." Anh nuốt khan một cái, "Tôi đã thay đổi ý định."
"Tuyệt quá! Tôi rất vui khi nghe điều đó."
"Tôi vẫn có thể không giúp được gì cho ông đâu, ông biết đấy."
"Tôi biết. Nhưng mà... 'không vào hang cọp sao bắt được cọp con'. Nếu họ biết tôi tham khảo ý kiến của một nhà ngoại cảm, họ sẽ đuổi tôi ra khỏi thị trấn mất."
Johnny nhếch mép cười: "Và lại còn là một nhà ngoại cảm đã mất danh dự nữa chứ."
"Cậu có biết Joe ở đâu tại Bridgton không?"
"Tôi có thể tìm thấy nó."
"Cậu có thể gặp tôi ở đó lúc tám giờ được không?"
"Tôi nghĩ là được."
"Cảm ơn cậu, ông Smith."
"Không có chi."
Anh gác máy. Herb đang chăm chú nhìn anh. Phía sau anh, bản tin buổi tối vẫn đang phát.
"Ông ta đã gọi cho con sớm hơn à?"
"Vâng, đã gọi. Sam Weizak nói với ông ta là con có thể có ích."
"Con nghĩ con có ích không?"
"Không biết," Johnny nói, "Nhưng cơn đau đầu của con đã đỡ hơn một chút rồi."