Vùng Chết

Lượt đọc: 75 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 09

❊ ❊ ❊

"Nhắm mắt lại đi." Bác sĩ Weizak nói.

Ông là một người thấp đậm, kiểu tóc trông thật khó tin, lại còn để râu quai nón. Johnny không tài nào hiểu nổi kiểu tóc đó, một người để kiểu tóc như vậy ở bất kỳ quán bar nào tại phía đông Maine cũng sẽ thu hút cả đám người vây xem, còn người ở độ tuổi như Weizak mà để kiểu tóc này thì người ta sẽ nghĩ ông ta nên bị nhốt lại mới đúng.

Cái kiểu tóc đó. Thật đấy.

Cậu nhắm mắt lại. Trên đầu cậu cắm đầy các đầu dây điện, những đầu dây này được nối với một chiếc máy điện não đồ. Bác sĩ Brown và một cô y tá đứng cạnh máy, chiếc máy điềm tĩnh nhả ra một dải giấy vẽ đồ thị rộng lớn. Johnny hy vọng y tá là Maria Michaud. Cậu cảm thấy hơi sợ.

Bác sĩ Weizak chạm vào mi mắt cậu, Johnny giật mình cử động. "Không... đừng cử động, Johnny. Đây là hai tấm cuối cùng rồi. Đừng... cử động..."

"Xong rồi, bác sĩ." Cô y tá nói.

Một tiếng vo ve rất thấp.

"Được rồi, Johnny. Cậu thấy thoải mái không?"

"Cảm giác như có đồng xu đè lên mi mắt tôi vậy."

"Thế à? Cậu sẽ sớm quen thôi, giờ để tôi giải thích quy trình này cho cậu. Tôi sẽ yêu cầu cậu tưởng tượng ra một vài thứ, tổng cộng có hai mươi thứ cần tưởng tượng, cậu hiểu chưa?"

"Rất tốt, chúng ta bắt đầu thôi." Bác sĩ Brown nói.

"Mọi thứ đã sẵn sàng."

"Rất tốt. Johnny, tôi yêu cầu cậu nhìn một cái bàn. Trên cái bàn này có một quả cam."

Johnny bắt đầu tưởng tượng. Cậu thấy một chiếc bàn nhỏ di động, có chân bằng thép gấp được, trên đó, lệch khỏi trọng tâm, là một quả cam lớn. Trên lớp vỏ sần sùi của nó có viết mấy chữ "được ánh mặt trời chiếu rọi".

"Rất tốt..." Weizak nói.

"Cái máy đó có thể nhìn thấy quả cam của tôi không?"

"Ừm... có thể, nó nhìn thấy theo cách ký hiệu. Máy đang theo dõi sóng não của cậu. Chúng tôi đang tìm kiếm những vật cản, những vùng bị tổn thương, có thể cho thấy áp lực vẫn còn trong hộp sọ. Giờ tôi yêu cầu cậu đừng đặt câu hỏi nữa."

"Được rồi, bây giờ tôi muốn cậu nhìn một chiếc tivi. Nó đang bật, nhưng không thu được chương trình nào."

Johnny nhìn thấy chiếc tivi trong căn hộ của mình — căn hộ của cậu. Trên màn hình là những hạt tuyết màu xám nhạt, để thu sóng tốt hơn, hai đầu ăng-ten được bọc giấy bạc.

"Rất tốt."

Cuộc kiểm tra tiếp tục. Đến món đồ thứ mười một, Weizak nói: "Bây giờ tôi muốn cậu nhìn một chiếc bàn dã ngoại, nó nằm ở bên trái một bãi cỏ xanh..."

Johnny bắt đầu tưởng tượng, trong đầu cậu thấy một chiếc ghế. Cậu nhíu mày.

"Có chuyện gì vậy?" Weizak hỏi.

"Không có gì." Johnny nói. Cậu cố gắng tập trung hơn. Dã ngoại. Bếp than... Liên tưởng, chết tiệt, liên tưởng. Có gì khó khi nhìn thấy một chiếc bàn dã ngoại trong đầu cơ chứ, cậu đã thấy cả nghìn cái trong đời rồi. Liên tưởng. Thìa và dĩa nhựa, đĩa giấy, bố cậu đội một chiếc mũ đầu bếp, một tay cầm chiếc dĩa dài, đeo một chiếc tạp dề in xiêu vẹo dòng chữ: "Đầu bếp cần một ngụm". Bố cậu làm món bánh kẹp thịt bò băm, rồi tất cả họ ngồi vào một... À, nó hiện ra rồi!

Johnny mỉm cười, nhưng rồi nụ cười biến mất, lần này thứ xuất hiện trong não cậu là một chiếc võng. "Chết tiệt!"

"Không thấy bàn dã ngoại à?"

"Đây là điều kỳ quặc nhất, tôi không thể... nhớ ra nó. Ý tôi là, tôi biết nó là gì, nhưng không thể nhìn thấy nó trong não mình. Có phải rất kỳ quặc không?"

"Không sao cả. Thử cái này xem: một quả địa cầu, đặt trên đầu một chiếc xe tải chở hàng."

Cái đó rất dễ.

Đến món đồ thứ mười chín, một chiếc thuyền chèo nằm dưới một biển báo đường bộ (ai đã nghĩ ra mấy thứ này vậy? Johnny tự hỏi), tình huống đó lại xảy ra, khiến cậu cảm thấy bất lực. Cậu thấy một quả bóng da nằm cạnh một bia mộ. Cậu tập trung cao độ, nhìn thấy một cây cầu trên đường cao tốc. Weizak an ủi cậu, một lát sau, các dây điện được tháo khỏi đầu và mi mắt cậu.

"Tại sao tôi lại không nhìn thấy những thứ đó?" Cậu hỏi, mắt chuyển từ Weizak sang Brown. "Chuyện gì đã xảy ra vậy?"

"Rất khó để nói chính xác," Brown nói. "Nó có thể là một dạng mất trí nhớ nào đó. Cũng có thể là vụ tai nạn đó đã phá hủy một phần nhỏ trong não cậu — ý tôi là phần nhỏ đến mức chỉ kính hiển vi mới nhìn thấy được. Chúng tôi không biết chính xác chuyện gì, nhưng rõ ràng cậu đã mất đi một số ký ức hình ảnh. Chúng tôi vừa phát hiện ra hai cái. Có thể cậu sẽ còn gặp thêm nhiều cái nữa..."

Weizak đột nhiên nói: "Hồi nhỏ não cậu từng bị thương, đúng không?"

Johnny nghi ngờ nhìn ông.

"Có một vết sẹo cũ," Weizak nói. "Johnny, có một giả thuyết dựa trên các nghiên cứu thống kê..."

"Nghiên cứu đó hoàn toàn chưa đầy đủ." Brown gần như nghiêm túc nói.

"Đúng vậy. Nhưng giả thuyết này giả định rằng: những người có thể tỉnh lại sau trạng thái hôn mê kéo dài, trước đó đều từng bị tổn thương não... Sau lần tổn thương đầu tiên, não bộ dường như có khả năng thích nghi nhất định, giúp nó chịu đựng được tổn thương lần thứ hai."

"Giả thuyết này chưa được chứng minh..." Brown nói. Ông có vẻ không tán thành việc Weizak nhắc đến giả thuyết này.

"Vết sẹo ở đó," Weizak nói. "Cậu không nhớ đã xảy ra chuyện gì sao, Johnny? Tôi đoán cậu từng hôn mê. Cậu từng ngã cầu thang à? Hay là một vụ tai nạn xe đạp? Vết sẹo đó cho thấy chuyện này đã xảy ra khi cậu còn nhỏ."

Johnny nghiêm túc suy nghĩ, lắc đầu. "Ông đã hỏi bố mẹ tôi chưa?"

"Cả hai đều không nhớ bất kỳ chuyện tổn thương đầu nào... Cậu không nhớ được chút gì sao?"

Trong một khoảnh khắc, cậu nhớ ra thứ gì đó — màu đen, khói nồng nặc, giống như mùi cao su. Rồi nó biến mất. Johnny lắc đầu.

Weizak thở dài, nhún vai: "Chắc cậu mệt rồi."

"Vâng, có một chút."

Brown ngồi trên cạnh bàn kiểm tra. "Mười một giờ mười lăm rồi. Sáng nay cậu kiểm tra mệt rồi. Nếu cậu muốn, bác sĩ Weizak và tôi sẽ trả lời vài câu hỏi, rồi cậu về phòng ngủ trưa nhé, được không?"

"Được ạ," Johnny nói. "Các ông chụp ảnh não tôi..."

"Đó là quét CAT," Weizak gật đầu. "Tức là chụp cắt lớp vi tính trục. Nó là một loạt các lần quét quang học vào não. Máy tính làm cho hình ảnh rõ nét hơn và..."

"Nó cho các ông biết điều gì? Tôi còn bao lâu nữa?"

"Câu đó nghĩa là sao?" Brown hỏi. "Nghe như một câu thoại trong phim cũ vậy."

"Tôi nghe nói, người tỉnh lại sau hôn mê kéo dài sẽ không sống được lâu," Johnny nói. "Họ lại quay về trạng thái cũ, giống như một bóng đèn trước khi cháy sẽ sáng rực lên vậy..." Weizak cười phá lên, đó là một tràng cười sảng khoái, thật khó tin là ông không bị nghẹn bởi miếng kẹo cao su trong miệng. "À, quá lời rồi! Ông đặt một tay lên ngực Johnny. "Cậu nghĩ Jim và tôi không biết gì trong lĩnh vực này sao? Ừm, chúng tôi là bác sĩ thần kinh, là cái mà các cậu gọi là nhân tài cấp cao ở Mỹ, chúng tôi không phải kẻ ngốc. Tôi nói cho cậu biết, đúng là có trường hợp quay về trạng thái cũ, nhưng cậu sẽ không bị vậy đâu. Tôi nghĩ chúng ta có thể nói thế này, Jim, đúng không?"

"Đúng vậy," Brown nói. "Chúng tôi không phát hiện tổn thương nghiêm trọng nào. Johnny, ở Texas có một gã hôn mê chín năm, giờ đang là người phụ trách cho vay của một ngân hàng, anh ta làm công việc đó đã sáu năm rồi. Trước đó, anh ta làm nhân viên thu ngân hai năm. Có một phụ nữ ở Arizona hôn mê mười hai năm, khi sinh con thuốc gây mê xảy ra vấn đề, giờ cô ấy ngồi xe lăn nhưng vẫn sống và rất tỉnh táo. Năm 1969 cô ấy tỉnh lại sau hôn mê, gặp đứa con mình sinh ra mười hai năm trước. Đứa trẻ đó đã học lớp bảy, còn là học sinh giỏi."

"Sau này tôi có phải ngồi xe lăn không?" Johnny hỏi. "Tôi không duỗi thẳng chân được. Tay tôi đỡ hơn chút, nhưng đùi tôi..." Giọng cậu nhỏ dần, lắc đầu.

"Dây chằng bị co rút," Weizak nói. "Đúng không? Đó là lý do tại sao bệnh nhân hôn mê bắt đầu xuất hiện tư thế mà chúng tôi gọi là tư thế bào thai, nhưng giờ chúng tôi đã hiểu nhiều hơn về sự thoái hóa cơ thể trong hôn mê, cũng dễ điều trị hơn. Bác sĩ vật lý trị liệu của bệnh viện sẽ định kỳ vận động cơ thể cậu, ngay cả khi cậu đang ngủ. Những bệnh nhân khác nhau có phản ứng khác nhau với hôn mê. Sự thoái hóa của cậu rất chậm, Johnny. Như cậu nói, cánh tay cậu rất ổn. Nhưng đúng là có sự thoái hóa, quá trình điều trị của cậu sẽ rất dài và... tôi có nên nói dối cậu không? Tôi không muốn làm vậy. Quá trình điều trị sẽ rất dài và đau đớn. Cậu sẽ rơi nước mắt, có thể cậu sẽ ghét bác sĩ điều trị cho mình, có thể cậu sẽ yêu chiếc giường của mình. Còn có các cuộc phẫu thuật nữa — nếu cậu rất rất may mắn, chỉ một lần, nhưng cũng có thể nhiều đến bốn lần — những cuộc phẫu thuật này là để kéo dài các dây chằng đó, chúng rất mới, có thể thành công rực rỡ, có thể thành công một phần, hoặc thất bại hoàn toàn. Tuy nhiên, tôi tin cậu sẽ đi lại được, tôi tin cậu không thể trượt băng hay nhảy rào nữa, nhưng cậu có thể chạy và chắc chắn có thể bơi."

"Cảm ơn ông." Johnny nói. Đối với người đàn ông giọng nặng và kiểu tóc kỳ quặc này, cậu đột nhiên tràn đầy cảm kích. Cậu muốn làm điều gì đó cho Weizak để báo đáp — và theo đó là thôi thúc muốn chạm vào ông, thôi thúc này gần như là một sự cần thiết.

Cậu đột nhiên đưa hai tay ra, nắm lấy một tay của Weizak. Bàn tay bác sĩ rất to, đầy nếp nhăn, rất ấm áp.

"Sao thế?" Weizak dịu dàng hỏi. "Tại sao lại thế này?"

Đột nhiên mọi thứ thay đổi. Không nói được chính xác thay đổi thế nào, chỉ là Weizak bỗng trở nên vô cùng rõ nét. Weizak dường như... đứng bật ra, tắm trong ánh sáng đáng yêu, trong trẻo. Mỗi vết hằn trên mặt Weizak, mỗi nốt sần và mỗi nếp nhăn đều rõ ràng. Mỗi nếp nhăn đều đang kể câu chuyện của riêng nó. Cậu bắt đầu hiểu ra.

"Tôi muốn ví của ông." Johnny nói.

"Ví của tôi..." Weizak và Brown kinh ngạc nhìn nhau.

"Trong ví ông có ảnh mẹ ông, tôi cần nó," Johnny nói. "Xin hãy đưa cho tôi."

"Sao cậu biết?"

Weizak nhìn chằm chằm vào mặt Johnny một lúc, rồi chậm rãi lục lọi dưới áo khoác, lấy ra một chiếc ví cũ, phồng to không ra hình thù gì.

"Sao cậu biết tôi mang theo ảnh mẹ tôi? Bà ấy đã chết rồi, chết khi Đức Quốc xã chiếm đóng Warsaw..."

Johnny giật lấy chiếc ví từ tay Weizak, cả Weizak và Brown đều sững sờ. Johnny mở ví ra, lướt qua túi đựng ảnh bằng nhựa, lại tìm ở mặt sau, ngón tay cậu lật qua những thẻ tín dụng cũ, biên lai, một tấm séc vô giá trị và một chiếc vé cũ tham dự cuộc mít tinh chính trị, cuối cùng cậu lấy ra một tấm ảnh ép plastic nhỏ xíu. Trong ảnh là một người phụ nữ trẻ, nhan sắc bình thường, đầu quấn khăn. Nụ cười của cô tràn đầy sức sống thanh xuân. Cô ôm một cậu bé, bên cạnh đứng một người đàn ông mặc quân phục Ba Lan.

Johnny ép tấm ảnh vào giữa hai bàn tay, nhắm mắt lại, tiếp theo là khoảnh khắc bóng tối, rồi từ trong bóng tối lao ra một chiếc xe tải... không, không phải xe tải, là xe tang, một chiếc xe tang kéo bằng ngựa, đèn phủ khăn đen, tất nhiên nó là xe tang vì họ — hàng trăm hàng nghìn người chết, không phải đối thủ của xe tăng Đức và lực lượng SS, kỵ binh thế kỷ 19 đối đầu xe tăng và súng máy. Nổ tung. Gào thét. Những người hấp hối, nội tạng của một con ngựa bị nổ tung ra, mắt nó đảo loạn, phía sau là pháo bị lật nhào, Weizak đến rồi, đứng trên bàn đạp ngựa, giơ cao thanh kiếm. Cơn mưa cuối hè năm 1939 đang rơi, người của ông theo sát ông, lao qua mặt đất bùn lầy, pháo của xe tăng Tiger Đức phát hiện ra ông, chĩa vào ông khai hỏa, đột nhiên phần dưới thắt lưng ông biến mất, thanh kiếm văng khỏi tay ông; phía trước là con đường đến Warsaw, lũ sói Đức Quốc xã đang hoành hành khắp châu Âu...

"Thật sự, chúng ta phải ngăn cậu ấy làm thế này," Brown nói, giọng ông xa xăm và lo lắng. "Cậu quá phấn khích rồi, Johnny."

Giọng nói đến từ rất xa, từ một hành lang.

"Cậu ấy tự đặt mình vào một trạng thái xuất thần nào đó." Weizak nói.

Ở đây rất nóng. Cậu đang đổ mồ hôi. Cậu đổ mồ hôi vì — thành phố đang cháy, hàng nghìn người đang chạy trốn, một chiếc xe tải lao vun vút trên đường phố đá, trên xe đầy lính Đức, đội mũ đồng, đang vẫy tay, người phụ nữ trẻ không cười nữa, cô đang chạy trốn, không có lý do gì để không chạy. Con đã gửi đến nơi an toàn.

Xe tải lao qua góc đường, chắn bùn đâm vào cô, làm vỡ hông cô, khiến cô bay xuyên qua một ô cửa kính dày, rơi vào một cửa hàng đồng hồ, tất cả đồng hồ đều bắt đầu điểm chuông. Vì đã đến giờ, thời gian đồng hồ điểm là — "Sáu giờ," Johnny nói giọng khàn khàn. Mắt lộn ngược chỉ còn lòng trắng.

"Ngày 2 tháng 9 năm 1939, tất cả chim cúc cu đang hót."

"Ôi, chúa ơi, chúng ta đã gây ra chuyện gì thế này?" Weizak thì thầm. Cô y tá lùi lại cạnh máy điện não đồ, mặt cô tái nhợt, rất sợ hãi. Bây giờ ai cũng sợ hãi, vì trong không khí tràn ngập mùi chết chóc. Nơi này luôn tràn ngập mùi chết chóc, đây — là bệnh viện, mùi thuốc sát trùng. Họ gào thét nơi đất chết. Ba Lan chết rồi, Ba Lan thất thủ trước cuộc chiến chớp nhoáng. Hông bị đâm vỡ. Người bên cạnh giường đang hét đòi uống nước, hét lên, hét lên. Cô nhớ "Con rất an toàn". Con gì, cô không biết.

Con gì? Cô tên gì? Cô không nhớ. Chỉ là...

"Con rất an toàn." Johnny nói giọng khàn khàn. "Đúng, đúng, chúng ta phải ngăn cậu ấy lại." Brown lại nói.

"Ông bảo phải làm sao đây?" Weizak hỏi, giọng có chút bực bội. "Cậu ấy đã đi quá xa rồi..."

Giọng nói biến mất, biến mất dưới bầu trời. Tất cả mọi thứ đều ở dưới bầu trời. Châu Âu đang ở dưới bầu trời chiến tranh. Mọi thứ đều ở dưới bầu trời, ngoại trừ những đỉnh núi, đây là — những đỉnh núi ở Thụy Sĩ. Thụy Sĩ, giờ tên cô là Polentz. Tên cô là Johanna Polentz, chồng cô là kỹ sư kiến trúc, chuyên xây cầu. Anh ta xây cầu ở Thụy Sĩ, nơi có sữa dê. Phô mai. Một đứa trẻ. Sinh con! Sinh con thật đáng sợ, cô cần thuốc, cần morphine, người phụ nữ Johanna Polentz này, vì hông của cô.

Hông bị đâm vỡ, nó đã được chữa khỏi, không sao rồi, giờ lại tỉnh lại, khi cô mở khung chậu để đứa bé ra ngoài, nó lại bắt đầu đau nhức, một đứa bé, hai, ba, bốn. Chúng không sinh cùng lúc, không — chúng là thành quả của nhiều năm, chúng là — "Những đứa trẻ..." Johnny hát một cách nhẹ nhàng, giờ giọng cậu là của một phụ nữ, hoàn toàn không phải giọng của chính cậu. Rồi cậu bắt đầu hát lí nhí.

"Rốt cuộc là..." Brown lên tiếng.

"Tiếng Ba Lan, đây là tiếng Ba Lan!" Weizak hét lên. Mắt ông trợn ngược, mặt tái mét. "Đây là một bài hát ru, hát bằng tiếng Ba Lan. Chúa ơi, chúa ơi, rốt cuộc chuyện gì đang xảy ra vậy?"

Weizak nhoài người tới, như muốn cùng Johnny xuyên qua thời gian, như muốn nhảy qua thời gian, đến — cây cầu, một cây cầu ở Thổ Nhĩ Kỳ. Rồi, một cây cầu ở vùng nhiệt đới Viễn Đông. Là Lào sao? Không rõ nữa. Ở đó đã mất đi một người, Hans mất tích ở đó.

Rồi một cây cầu ở Virginia, bắc qua sông Rappahannock, một cây cầu khác ở California, chúng tôi đang nộp đơn xin quốc tịch, chúng tôi đến một căn chòi ngột ngạt để học lớp, nó ở phía sau bưu điện, luôn tỏa ra mùi keo dán, đó là tháng 11 năm 1963, chúng tôi nghe tin Kennedy bị ám sát ở Dallas, chúng tôi khóc, khi cậu bé chào chiếc quan tài của bố mình, cô nghĩ "Con rất an toàn", điều này khiến cô nhớ lại ngọn lửa và nỗi buồn, con gì? Cô mơ thấy con, điều này khiến cô đau đầu, người đàn ông đó chết rồi, Helmut Polentz chết rồi. Cô và các con sống ở Carmel, California, biển báo nơi ngôi nhà tọa lạc không nhìn thấy được, nó nằm trong vùng chết, giống như thuyền chèo, chiếc bàn dã ngoại trên bãi cỏ. Nó nằm trong vùng chết, giống như Warsaw. Các con đã rời đi, cô hết lần này đến lần khác tham dự lễ tốt nghiệp của chúng, hông cô rất đau. Một đứa con chết ở Việt Nam, những đứa khác đều ổn. Một trong số đó đang xây cầu, tên cô là Johanna Polentz, những lúc một mình vào ban đêm cô sẽ nghĩ trong bóng tối, "Con rất an toàn."

Johnny ngửa mặt nhìn họ, đầu cậu cảm thấy kỳ lạ, ánh sáng kỳ quặc trên người Weizak đã biến mất. Cậu cảm thấy mình đã trở lại là chính mình, nhưng rất yếu, hơi buồn nôn, cậu nhìn tấm ảnh trong tay, rồi trả lại.

"Johnny?" Brown nói, "Cậu không sao chứ?"

"Rất mệt." Cậu thì thầm.

"Cậu có thể cho chúng tôi biết chuyện gì đã xảy ra không?" Cậu nhìn Weizak. "Mẹ ông vẫn còn sống," cậu nói.

"Không, Johnny. Bà ấy đã chết từ nhiều năm trước rồi. Trong chiến tranh."

"Một chiếc xe chở quân Đức hất bà ấy từ cửa sổ kính vào một cửa hàng đồng hồ," Johnny nói. "Khi tỉnh dậy trong bệnh viện bà đã mất trí nhớ. Bà không có giấy tờ tùy thân hay chứng từ nào khác. Bà lấy tên là Johanna... và gì đó, tôi không nhớ nổi cái tên phía sau. Nhưng sau chiến tranh, bà đến Thụy Sĩ, kết hôn với một kỹ sư người Thụy Sĩ... tên là Helmut Polentz."

Mắt cô y tá mở to dần. Mặt bác sĩ Brown căng cứng, hoặc vì ông cho rằng Johnny đang lừa họ, hoặc vì ông không thích nhìn thấy quá trình kiểm tra ngăn nắp của mình bị xáo trộn.

"Bà và Helmut Polentz có bốn đứa con," Johnny tiếp tục nói bằng giọng bình thản, mệt mỏi, "Công việc của ông ta khiến ông ta đi khắp thế giới. Ông ta từng ở Thổ Nhĩ Kỳ, đến Lào ở Viễn Đông, có lẽ là Campuchia. Rồi ông ta đến đây, trước tiên là bang Virginia, rồi đến nơi khác, nơi đó tôi không biết ở đâu, cuối cùng là California, ông ta và Johanna trở thành công dân Mỹ, Helmut Polentz giờ đã chết rồi. Một đứa con của họ cũng chết rồi. Những đứa khác đều còn sống, rất ổn. Nhưng thỉnh thoảng bà ấy mơ thấy ông. Trong mơ bà nghĩ: 'Con rất an toàn'. Nhưng bà không nhớ tên ông. Có lẽ bà nghĩ đã quá muộn rồi."

"California?" Weizak trầm ngâm nói.

"Sam," bác sĩ Brown nói, "Thật sự, ông không nên khuyến khích hành vi này."

"Ở đâu tại California, Johnny?"

"Carmel. Gần biển. Nhưng tôi không rõ là con phố nào. Nó ở ngay đó, nhưng tôi nhìn không rõ. Nó nằm trong vùng chết, giống như bàn dã ngoại và thuyền chèo. Nhưng bà ấy đang ở Carmel, California. Johanna Polentz. Bà ấy không già."

"Không, tất nhiên bà ấy không già," Sam Weizak nói với cùng giọng trầm ngâm, xuất thần. "Khi Đức xâm lược Ba Lan, bà ấy mới hai mươi bốn tuổi."

"Bác sĩ Weizak, tôi buộc phải yêu cầu ông dừng lại." Brown nghiêm nghị nói.

Weizak dường như tỉnh lại từ sự trầm tư. Ông nhìn quanh, như thể lần đầu tiên chú ý đến đồng nghiệp trẻ của mình. "Tất nhiên," ông nói, "Tất nhiên là ông nên làm vậy. Johnny vừa trả lời câu hỏi xong... mặc dù tôi tin là cậu ấy kể cho chúng ta nhiều hơn những gì chúng ta kể cho cậu ấy."

"Đó là nhảm nhí." Brown thô lỗ nói. Johnny nghĩ: ông ta sợ hãi, sợ hãi lắm. Weizak cười nhẹ với Brown, rồi lại cười với cô y tá. Cô nhìn Johnny, như thể cậu là một con hổ trong cái lồng bị hỏng. "Đừng bàn luận chuyện này, y tá. Đừng nói với cấp trên của cô. Mẹ cô, anh em cô, người yêu cô hay mục sư của cô về chuyện này. Hiểu chưa?"

"Hiểu rồi, bác sĩ." Cô y tá nói. Nhưng cô sẽ nói, Johnny nghĩ, rồi liếc nhìn Weizak. Cậu biết điều đó.

Cậu ngủ gần hết buổi chiều. Khoảng bốn giờ chiều, cậu được đẩy qua hành lang vào thang máy, đưa đến khoa thần kinh để nhận thêm các bài kiểm tra. Johnny khóc. Cậu dường như thiếu khả năng tự kiểm soát của người lớn, trên đường quay về, cậu đã tiểu ra quần, phải thay quần áo như một đứa trẻ, sự trầm cảm sâu sắc lần đầu tiên (nhưng chắc chắn không phải lần cuối) kiểm soát cậu, cậu ước mình chết đi cho xong. Đi kèm với trầm cảm là sự tự thương hại, cậu nghĩ điều này thật bất công biết bao. Cậu trở thành Rip Van Winkle. Cậu không thể đi lại, bạn gái cậu đã kết hôn với người khác, mẹ cậu đang trong trạng thái cuồng tín tôn giáo. Cậu không thấy sống tiếp có ý nghĩa gì.

Quay lại phòng bệnh, y tá hỏi cậu muốn gì. Nếu Maria trực ca, Johnny sẽ đòi nước đá. Nhưng cô ấy đã tan ca lúc ba giờ rồi.

"Không cần gì cả." Cậu nói, xoay người đối mặt vào tường. Một lúc sau, cậu thiếp đi.

[DeepSeek phụ dịch] ChuongId:2
Nguồn: Việt Nam Thư Quán
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 2 tháng 7 năm 2026

« Lùi Tiến »