肖肖尼 (Tiêu Tiêu Ni), vừa là địa danh, vừa là tên gọi của một liên minh bộ lạc người Anh-đi-ăng. Đối với người Tiêu Tiêu Ni, đây là vùng đất thánh, nơi họ tin rằng linh hồn tổ tiên mình đang yên nghỉ. Thế nhưng, mảnh đất màu mỡ nằm bên rìa dãy núi Rocky này, giờ đây đang bị một nhóm người da trắng đông đảo với hỏa lực hùng hậu chiếm đóng. Những kẻ da trắng này chính là quân viễn chinh của Hợp chúng quốc Mỹ, kẻ thù chung của tất cả người Anh-đi-ăng và Đế quốc Trung Hoa.
Bước chân của quân viễn chinh Hợp chúng quốc Mỹ chỉ dừng lại ở đây. Tiêu Tiêu Ni đã trở thành cơn ác mộng của chúng, khi hơn mười vạn quân liên minh giữa người Anh-đi-ăng và Đế quốc Trung Hoa vây chặt lấy chúng trên vùng đất này.
Để giải cứu đội quân viễn chinh đông đảo đó, chính phủ Mỹ buộc phải liên tục phái quân tiếp viện, dù lực lượng viễn chinh lúc này đã lên tới một vạn năm ngàn người.
Thế nhưng, quân liên minh Trung Hoa và Anh-đi-ăng lấy nhàn hạ đối phó với kẻ mệt mỏi, áp dụng chiến thuật "vây điểm diệt viện", khiến hơn ba vạn quân tiếp viện của Hợp chúng quốc Mỹ phải bỏ mạng trên con đường dài dằng dặc này.
Năm 1709, khi hạm đội viễn chinh của Đế quốc Trung Hoa vòng qua Nam Tân đại lục, áp sát vùng phía Đông Tân đại lục, đe dọa các khu vực ven biển của Hợp chúng quốc Mỹ, thì vị chỉ huy quân viễn chinh bị vây hãm suốt nhiều năm là Thiếu tướng Morgan đã tự sát bằng súng. Quân viễn chinh mất sạch nhuệ khí, dưới sự dẫn dắt của Chuẩn tướng Camacho, đã giao nộp vũ khí cho quân đội Trung Hoa và tuyên bố đầu hàng.
Sau đó, liên quân Trung - Anh bắt đầu tiến về phía Đông, mở cuộc phản công quy mô lớn và mạnh mẽ nhắm vào Hợp chúng quốc Mỹ. Cuộc chiến trên bộ liên tiếp thất bại, thậm chí mười ba bang lập quốc ban đầu cũng bị quân đội Trung Hoa và người Anh-đi-ăng xâm chiếm.
Ngoài ra, nước Anh vốn đã ký kết hiệp định bí mật với Đế quốc Trung Hoa, lúc này mới lộ rõ bản chất lật lọng và tham lam. Họ xé bỏ hiệp ước hòa bình đã ký với Mỹ trước đó. Tổng đốc Canada ngang nhiên dẫn hai vạn quân Anh từ Canada tiến vào lãnh thổ Hợp chúng quốc Mỹ. Đất nước Mỹ vốn đang chống cự ngoan cường cuối cùng cũng tuyệt vọng từ bỏ kháng cự, quyết định đình chiến với Đế quốc Trung Hoa để tập trung lực lượng đối phó với nước Anh tráo trở.
Rất nhanh sau đó, chính phủ phái chủ chiến sụp đổ, phái chủ hòa trở thành tiếng nói duy nhất trong nước. Hợp chúng quốc Mỹ đệ trình thư hàng lên Tổng đốc Tân đại lục của Đế quốc Trung Hoa, thừa nhận chủ quyền lãnh thổ của Đế quốc Trung Hoa trên Tân đại lục, thừa nhận quyền kiến quốc của người Anh-đi-ăng tại vùng cao nguyên Appalachia, đồng thời thừa nhận sự độc lập của Liên minh Anh-đi-ăng.
Ngoài ra, Hợp chúng quốc Mỹ buộc phải cắt nhượng bang Nam Carolina cho Liên minh Anh-đi-ăng để bồi thường cho những năm tháng xâm lược người Anh-đi-ăng. Đồng thời, cắt nhượng bang Georgia ở phía Nam cho Đế quốc Trung Hoa để bồi thường chiến phí. Sau khi hiệp ước được ký kết, Đế quốc Trung Hoa sẽ không tiếp tục xâm phạm lãnh thổ Mỹ và phóng thích hơn ba vạn chín ngàn tù binh Mỹ.
Nước Anh đắc ý vì giành được bang Maine chưa được bao lâu, thì ba năm sau, Hợp chúng quốc Mỹ lại tiến đánh về phía Bắc. Sau hai năm, họ giành lại được một phần lãnh thổ từ tay người Anh, nhưng phần phía Bắc bang Maine vẫn nằm trong sự kiểm soát chặt chẽ của Anh.
Thêm vào đó, mối hận thù giữa Hợp chúng quốc Mỹ và Liên minh Anh-đi-ăng vẫn chưa hề xóa bỏ, vấn đề biên giới giữa hai bên luôn rối ren. Cộng thêm việc Đế quốc Trung Hoa luôn âm thầm ủng hộ khiêu khích, trong hàng trăm năm sau đó, hai bên luôn ở trong tình trạng giao chiến. Hợp chúng quốc Mỹ cuối cùng đã đánh mất cơ hội trở thành một cường quốc thế giới vắt ngang Tân đại lục.
Liên minh Anh-đi-ăng trở thành vùng đệm giữa Đế quốc Trung Hoa và các thế lực phương Tây. Mối thù truyền kiếp hàng trăm năm giữa người Anh-đi-ăng và người phương Tây khiến người Anh-đi-ăng buộc phải dựa sát vào Đế quốc Trung Hoa, trở thành đồng minh kiên cố.
Châu Âu vẫn là một mớ hỗn độn, không, thậm chí còn hỗn loạn hơn cả châu Âu ở một dòng thời gian khác. Đế quốc Trung Hoa thông qua những kênh đã sắp đặt từ trước, bắt đầu âm thầm ủng hộ nước Pháp. Napoleon, kẻ có được tình hữu nghị của người phương Đông, đã giành được lợi ích to lớn hơn.
Dưới sự ủng hộ và thúc đẩy ngầm của người phương Đông, Napoleon giành được tình hữu nghị của người Tây Ban Nha, quyền thế trong nước Pháp ngày càng bành trướng, nắm giữ tiếng nói quan trọng hơn.
Nhưng chính vì điều này, những kẻ trong Đốc chính phủ Pháp càng cảm thấy bị Napoleon đe dọa. Vì vậy, họ bổ nhiệm ông làm Tư lệnh quân đội Cộng hòa Pháp tại Ai Cập (Quân đoàn phương Đông), phái đến phương Đông để kiềm chế sự bành trướng thế lực của Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland tại khu vực này.
Không lâu sau khi đội quân viễn chinh của Napoleon xuất phát, đồng minh phương Đông đã gửi cho ông tin tình báo về việc Phó Đô đốc Hải quân Anh Nelson dẫn đầu một hạm đội định tập kích đội quân viễn chinh Pháp.
Lịch sử vì thế mà thay đổi. Đêm khuya ngày 1 tháng 8 năm 1798, Phó Đô đốc Hải quân Anh, Tư lệnh hạm đội Địa Trung Hải Nelson dẫn theo hạm đội của mình tập kích hạm đội Pháp đang neo đậu tại vịnh Abukir bên bờ sông Nile. Ông không ngờ rằng, đây là một cái bẫy đã được chuẩn bị kỹ lưỡng từ lâu.
Mặc dù Nelson dũng mãnh dẫn hạm đội của mình cuối cùng cũng phá được vòng vây, nhưng toàn bộ hạm đội Địa Trung Hải chỉ còn lại năm chiến hạm bị hư hại chạy thoát. Bản thân Phó Đô đốc Nelson bị thương nặng và qua đời trên đường chạy về cảng, linh hồn của Hải quân Anh đã sớm trở về vòng tay của Chúa.
Là bên đặt bẫy, hạm đội Pháp cũng chịu thương vong nặng nề, mất gần một phần ba số chiến hạm. Có thể thấy rõ sự dũng mãnh của Nelson và hạm đội của ông, nhưng kết quả trận đánh này đã tốt hơn rất nhiều so với trận sông Nile ở dòng thời gian khác.
Ở dòng thời gian đó, hơn bốn trăm chiến hạm Pháp gần như bị Nelson tiêu diệt hoàn toàn. Còn hiện tại, Pháp vẫn bảo toàn được phần lớn thực lực, khiến cán cân sức mạnh hải quân giữa Pháp và Anh tại khu vực Địa Trung Hải đã thay đổi sau trận đánh này.
Anh trở tay không kịp, đành phải thu hẹp lực lượng hải quân tại Địa Trung Hải, tăng cường vây hãm nước Pháp trên đất liền. Đúng lúc này, thế lực bảo hoàng trong nước Pháp dần trỗi dậy. Napoleon nghe theo lời khuyên của thuộc hạ, lặng lẽ trở về Pháp. Tháng 10 năm 1799, Napoleon trở về Pháp và được chào đón như một "vị cứu tinh". Ngày 9 tháng 11, Napoleon phát động chính biến ngày 18 tháng Sương mù và thành công, trở thành Đệ nhất Chấp chính của Cộng hòa Pháp, thực chất là một nhà độc tài.
Đầu năm 1802, Đế quốc Trung Hoa đào kênh đào Panama thành công, mở ra con đường tắt từ Thái Bình Dương sang Đại Tây Dương, rút ngắn gần vạn hải lý đường đi.
Năm 1803, Napoleon lên ngôi Hoàng đế Pháp, đồng thời kết minh với Tây Ban Nha và Đế quốc Trung Hoa. Đế quốc Trung Hoa xuất vốn hai mươi triệu Hoa tệ, mua lại thuộc địa Ai Cập của Pháp từ tay Napoleon. Đế quốc Trung Hoa và Quốc vương Ai Cập đạt được thỏa thuận: Trung Hoa ủng hộ Ai Cập trở thành quốc gia độc lập, đổi lại Ai Cập và các nước lân cận thừa nhận chủ quyền của Đế quốc Trung Hoa đối với khu vực Suez và bán đảo Sinai. Sau đó, Đế quốc Trung Hoa bắt đầu đào kênh đào Suez và hoàn thành vào năm 1810.
Tháng 5 năm 1805, Quốc vương Tây Ban Nha Carlos IV qua đời, vợ của Lương Bằng Phi là Trưởng công chúa Tây Ban Nha Carlota Joaquina trở thành Nữ hoàng Tây Ban Nha. Tháng 9 năm 1806, đợt lính đánh thuê đầu tiên của Đế quốc Trung Hoa theo lệnh của Hoàng đế Lương Bằng Phi tiến vào bán đảo Iberia để hỗ trợ đồng minh.
Cuối năm 1806, quân viễn chinh Đế quốc Trung Hoa với trang bị vũ khí hoàn toàn mới, phối hợp cùng quân đội Tây Ban Nha, mở cuộc tấn công quy mô lớn vào Gibraltar đang bị quân Anh chiếm đóng. Mặc dù pháo đài Gibraltar có sự hỗ trợ của chiến hạm Anh, nhưng trước hỏa lực đại bác tầm xa của Đế quốc Trung Hoa, hạm đội Anh buộc phải rời khỏi pháo đài sau khi chịu tổn thất nặng nề. Hai tháng sau, Tổng đốc pháo đài Gibraltar là Brusnan tuyên bố đầu hàng.
Nữ hoàng Tây Ban Nha Joaquina tuyên bố thu hồi chủ quyền Gibraltar, uy tín của Nữ hoàng tại Tây Ban Nha cao không ai sánh bằng. Tây Ban Nha bắt đầu ráo riết chấn chỉnh quân chính.
Từ khi Anh và Pháp tuyên chiến trở lại vào năm 1803, Bộ trưởng Hải quân Anh St. Vincent lập tức ra lệnh phong tỏa các cảng hải quân chính của Pháp. Huân tước Keith phụ trách chỉ huy phía Địa Trung Hải; Đô đốc Sir Calder giám sát biển Bắc và eo biển Dover; Phó Đô đốc Cornwallis phong tỏa Brest.
Để đánh bại nước Anh trước khi các quốc gia phong kiến châu Âu liên minh tấn công Pháp, Napoleon bắt đầu chuẩn bị cho cuộc chiến chống Anh căng thẳng nhất và quy mô lớn nhất sau khi lên nắm quyền. Ông xây dựng quân doanh khổng lồ tại cảng Boulogne ở bờ biển phía Tây nước Pháp, hàng vạn công nhân tập trung tại đó, ngày đêm đóng mới chiến hạm, tàu vận tải, xà lan và mọi thứ cần thiết để vượt eo biển Manche. Tại đây cũng tập kết hàng vạn đại quân chuẩn bị đổ bộ lên nước Anh.
"Chỉ cần có ba ngày sương mù, ta có thể trở thành chủ nhân của London, Nghị viện Anh và Ngân hàng Anh." Napoleon tự tin nói như vậy. Đến cuối năm 1806, Pháp đã có 107 chiến hạm và 55 tàu tuần dương.
Hạm đội Địa Trung Hải của Anh đã bị nhốt trong Địa Trung Hải, Gibraltar dưới sự canh giữ của đại bác tầm xa, muốn ra vào đều phải nhìn sắc mặt người Tây Ban Nha. Dù Anh đã phát động vài cuộc phản công nhưng đều chịu thất bại thảm hại.
Ngay trong năm 1806, nhìn thấy sự hùng mạnh của hạm đội Pháp cùng sự trỗi dậy mạnh mẽ của Tây Ban Nha, người Anh từ sự ngạo mạn và khinh thường ban đầu, cuối cùng chuyển sang thận trọng và hoảng sợ.
Đế quốc Anh tuyên bố tổng động viên, gần sáu mươi vạn người nhập ngũ, toàn bộ chiến hạm dự bị đều được đưa vào biên chế chính thức. Đến đầu năm 1807, số chiến hạm hiện dịch đã lên tới 240 chiếc, tàu tuần dương là 317 chiếc.
Hạm đội Địa Trung Hải của Anh bị vây hãm trong Địa Trung Hải đã bị hạm đội Tây Ban Nha và Pháp vây đánh. Cuối cùng, khoảng một phần ba số chiến hạm Anh thà chết không khuất phục, tự đánh đắm trong Địa Trung Hải. Khoảng một phần năm số chiến hạm cưỡng ép phá vòng vây khỏi Gibraltar, trở về nước Anh.
Đầu tháng 7 năm 1807, chủ lực hạm đội Vô địch của Anh chạm trán hạm đội Pháp bên ngoài eo biển Gibraltar. Hạm đội Pháp chịu tổn thất lớn, nhưng trong lúc giao chiến, chiến hạm Tây Ban Nha tham chiến đã cứu vãn được cục diện. Tuy nhiên, phe chiến thắng cuối cùng vẫn là Anh, nhưng tổn thất của hạm đội Tây Ban Nha không lớn, họ yểm trợ số chiến hạm Pháp còn lại rút về Gibraltar.
Mặc dù hạm đội Vô địch Anh vẫn chiếm ưu thế, nhưng Địa Trung Hải không còn là sân chơi của hạm đội Anh nữa.
Lần này, Tây Ban Nha không rơi vào vũng lầy hỗn loạn, và Napoleon cuối cùng đã không dấn thân vào bán đảo Iberia như lịch sử ở dòng thời gian khác, mà chuyển sang toàn tâm toàn ý đối phó với liên minh chống Pháp.
Napoleon và Đế quốc Trung Hoa ký hiệp ước phân chia nước Nga vào năm 1810. Napoleon và Lương Bằng Phi, hai bậc kiêu hùng đương thời, đều đã hướng ánh mắt về phía con gấu Bắc Cực đáng ghét kia.
Năm 1812, Napoleon dẫn 65 vạn đại quân thông thạo mười hai ngôn ngữ viễn chinh nước Nga. Quân Nga kiên quyết chống lại cuộc xâm lược của Napoleon, dù quân Pháp thắng liên tiếp nhưng thương vong cực kỳ thảm khốc.
Trong khi đó, quân viễn chinh phương Đông đã bắt đầu tiến về phía Tây từ năm 1811. Tháng 9 năm 1812, ngay khi quân Pháp trải qua trận Borodino (quân Pháp có 3 vạn người tử trận và bị thương nặng) và sắp tiến vào Moscow, quân đội Đế quốc Trung Hoa đã vượt qua dãy núi Ural, tiến vào đồng bằng Đông Âu.
Đế quốc Nga buộc phải ký hiệp định hòa bình với các hãn quốc lưu vực sông Volga, rút được gần mười vạn quân Cossack lên phía Bắc tăng viện để chống lại cuộc tấn công của quân viễn chinh Đế quốc Trung Hoa.
Lần này, Thống soái Nga Kutuzov không còn vùng đệm chiến lược như dòng thời gian khác, chỉ có thể tử thủ Moscow. Cuối cùng, Hoàng đế Nga Alexander Pavlovich Romanov đã ký văn kiện vào một đêm tuyết rơi. Ngày hôm sau, Thống soái quân đội Nga Kutuzov giao nộp thanh kiếm của mình cho Hoàng đế Pháp Napoleon. Năm ngày sau, đại quân viễn chinh Đế quốc Trung Hoa xua đuổi tàn quân Cossack, đặt chân tới Nizhny Novgorod, cách Moscow chưa đầy tám trăm dặm.
Sau đó, Đế quốc Nga rộng lớn bị chia cắt. Lãnh thổ phía Tây dãy Ural và phía Đông lưu vực sông Pechora, sông Kama đều thuộc về Đế quốc Trung Hoa. Ba Lan vốn bị Nga chiếm đóng giành lại được độc lập, còn Phần Lan và Thụy Điển cũng giành được không ít lợi ích, những lãnh thổ từng bị Nga thôn tính đều được lấy lại.
Sự suy tàn của Đế quốc Nga khiến quyền kiểm soát của họ đối với khu vực Trung Á suy yếu, các hãn quốc vốn bị Nga kiểm soát lần lượt độc lập. Đế quốc Nga không còn là gã khổng lồ vắt ngang hai châu lục, không còn vinh quang như xưa. Sự tham lam và chiếm hữu đất đai vô tận của dân tộc Nga đã bị chặn đứng ở phía Tây dãy Ural.
Năm 1814, Anh phái một hạm đội viễn chinh khổng lồ với ý đồ giành quyền kiểm soát kênh đào Suez. Đế quốc Trung Hoa phái một hạm đội chiến hạm khổng lồ lấy hạm đội thiết giáp Cận vệ Hoàng gia làm chủ lực, hạm đội Ấn Độ Dương và hạm đội Nam Dương làm phụ trợ, chạm trán hạm đội viễn chinh Anh tại Biển Đỏ. Hạm đội Ấn Độ Dương của Đế quốc Trung Hoa nhờ ưu thế về vũ khí và chiến hạm đã đập tan hạm đội viễn chinh Anh tại Biển Đỏ.
Hải quân hùng mạnh của Đế quốc Anh chịu tổn thất chưa từng có, còn tàu thiết giáp của Đế quốc Trung Hoa trở thành thứ vũ khí hải chiến mạnh nhất được các nước châu Âu săn đón. Hoạt động buôn bán vũ khí quy mô lớn bắt đầu diễn ra qua kênh đào Suez, sự bất ổn của châu Âu vẫn đang tiếp diễn...
Đảo Cua, hòn đảo nhỏ vốn chẳng chút nổi bật ở dòng thời gian khác, nay đã trở thành hòn đảo khoa học nổi tiếng nhất. Gần một phần ba những phát minh sáng tạo quan trọng trên thế giới đều xuất phát từ các nhà khoa học trên hòn đảo này. Các nhà khoa học và học giả nổi tiếng thế giới đều lấy việc được lên đảo thuyết giảng và làm việc làm vinh dự.
Năm 1815, Hoàng đế Đế quốc Trung Hoa Lương Bằng Phi lệnh cho Thái tử Lương Bảo giám quốc, cùng vợ con bắt đầu chuyến thăm châu Âu. Họ đi qua kênh đào Suez tiến vào Địa Trung Hải, đổ bộ lên châu Âu tại cảng Cartagena, Tây Ban Nha vào tháng 7 năm 1815. Sau hơn hai mươi năm, Nữ hoàng Tây Ban Nha lần đầu tiên trở lại lục địa châu Âu. Nữ hoàng Tây Ban Nha và con trai của Hoàng đế Lương Bằng Phi là Tiểu Lương Bằng Phi trở thành người thừa kế thứ nhất của Vương quốc Tây Ban Nha.
Một năm sau, Nữ hoàng tuyên bố thoái vị, nhường ngôi cho Tiểu Lương Bằng Phi. Tiểu Lương Bằng Phi, người có khả năng sinh sản ngang ngửa cha mình, đã có tổng cộng mười tám người con, trong đó năm cô con gái trở thành vợ của các vị vua nước khác ở châu Âu. Dòng máu hoàng thất phương Đông bắt đầu lan tỏa khắp các quốc gia phương Tây. Ước nguyện của Lương Bằng Phi sau khi xuyên không tới thời đại này - từng khoe khoang rằng mình sẽ vượt qua cô nàng người Anh tên Elizabeth để trở thành ông tổ của châu Âu - dần dần trở thành hiện thực.
"Lương Bằng Phi, vị hoàng đế vĩ đại khởi nghiệp từ thân phận hải tặc, cuối cùng đã mở rộng lãnh thổ Đế quốc Trung Hoa đến mức cực hạn. Ông không chỉ là tấm gương của người đời mà còn là điển phạm của nhân loại, phẩm hạnh cao khiết mà vĩ đại... nhất định sẽ để lại một nét bút đậm nét trong sử sách." Tiểu Staunton gần bốn mươi tuổi, đeo kính, đứng dưới tán ô, dùng tiếng Trung lưu loát đọc lên câu cuối cùng trong cuốn hồi ký của Lương Bằng Phi.
Dưới tán ô bên cạnh, một lão lưu manh chỉ mặc chiếc quần bơi kẻ ô, phanh ngực hở bụng, đeo kính râm, miệng ngậm điếu xì gà to như khẩu pháo, bàn tay to lớn đang mơn trớn vòng eo mềm mại mịn màng của người phụ nữ xinh đẹp đang bôi kem chống nắng cho mình, lão chép miệng nói: "Vĩ đại? Ừm... Tiểu Staunton à, ta thấy thế vẫn chưa đủ để hình dung công lao của ta. Đúng không, Tiểu Thanh?"
"Thái thượng hoàng bệ hạ, thiếp không phải là Tiểu Thanh." Cô nàng xinh đẹp thân hình nóng bỏng đang bôi kem chống nắng cho lão không khỏi bĩu môi, vẻ mặt không vui.
"Hả? ... Nhìn cái trí nhớ của ta này, người già rồi là trí nhớ kém đi, nhưng Tiểu Thiến à, nàng nói xem ta nói có đúng không?" Lão lưu manh bị Tiểu Thiến gọi là Thái thượng hoàng này mặt mày hớn hở.
"Bệ hạ người già đâu mà già, đêm hôm qua..." Tiểu Thiến e lệ dựa vào lồng ngực trần chắc nịch của lão, cơ thể đầy đặn cố ý hay vô tình khiến ánh mắt bệ hạ càng thêm xanh lét, cười dâm tà liên hồi.
Tổng thư ký của Thái thượng hoàng đế quốc, Tiểu Staunton, mặt đen như đít nồi nhìn vị Thái thượng hoàng có phẩm hạnh cao khiết như thánh nhân (văn viết) này đang sàm sỡ, trêu ghẹo thiếp thất ngay trước mặt mình.
"Thiếu gia, thiếu gia, Lão gia tới rồi, cả phu nhân cũng tới, nhìn tình hình tâm trạng không ổn lắm, có vẻ là muốn tìm rắc rối với ngài." Từ xa, một gã tráng hán vạm vỡ lao tới, vừa chạy vừa gào thét, cái đầu trọc láng bóng dưới ánh mặt trời trông đặc biệt chói mắt.
"Mẹ kiếp! Tiểu Staunton, hôm nay dừng ở đây thôi, lát nữa ngươi đi thông báo cho các phu nhân. Lão tử chuồn trước đây. Anh em, gió to rồi, rút thôi! Lão già chắc lại ở đâu không vừa ý lại tới tìm ta gây sự." Thái thượng hoàng bệ hạ bực bội nhéo má Tiểu Thiến một cái, sải bước chân lớn, dưới sự bảo vệ của một đám thân binh trung thành, chạy như điên về phía chiếc du thuyền gần đó, giống như một đám bạo đồ thất bại trong vụ cướp đang hoảng loạn tháo chạy...
"Nguyện Chúa có thể tha thứ cho tội lỗi của ngài, thưa chủ nhân! Nhưng đã bao nhiêu năm rồi, có vẻ như Chúa thực sự không làm gì được ngài..." Nhìn bóng dáng cường tráng của Thái thượng hoàng nhanh nhẹn đến mức người trẻ tuổi cũng không đuổi kịp, Tiểu Staunton nở nụ cười bất lực, làm dấu thánh giá trước ngực, cầu nguyện cho đối tượng mà mình trung thành.