Hạm đội của Hợp chúng quốc Mỹ rời khỏi bờ Đông chưa được bao lâu, những quân cờ và đường dây ngầm của Đế quốc Trung Hoa đã nắm được tin tức, hơn nữa người Tây Ban Nha cũng rất sẵn lòng chuyển giao những thông tin này cho Đế quốc Trung Hoa.
Điều cuối cùng có thể xác nhận là Hợp chúng quốc Mỹ đã phái đi một hạm đội viễn chinh hùng hậu. Số lượng chiến hạm của hạm đội này chiếm hơn một phần ba tổng số tàu chiến của toàn bộ Hải quân Mỹ, hơn nữa đều là những chiến hạm cỡ lớn có khả năng viễn dương. Chà, đương nhiên rồi, từ bờ Đông của Tân lục địa chạy sang bờ Tây, quãng đường xa xôi cùng phong ba bão táp khó lường trên biển không phải là thứ mà tàu thuyền nhỏ bé có thể chịu đựng được.
Có thể nói, hạm đội này tập hợp những tinh anh của Hải quân Mỹ. Thông qua các trạm tình báo ở bờ Đông cùng sự giúp đỡ của người Tây Ban Nha, họ nắm rõ hành tung của hạm đội Mỹ như lòng bàn tay.
Hiện tại, hạm đội này đã vòng qua mũi Horn, đang mang theo sát khí tiến về phía bờ Tây. Điều mà những kẻ đáng thương này không ngờ tới là, một hạm đội khổng lồ đã chuẩn bị sẵn sàng mọi thứ, đang chờ đợi họ tự nguyện bước vào cái bẫy đã được giăng ra từ lâu.
Điều mà hạm đội Mỹ không thể lường trước được chính là đội quân viễn chinh trên bộ của họ. Sau khi rời khỏi lãnh thổ Hợp chúng quốc Mỹ và tiến về phía Tây không lâu, họ đã bắt đầu chịu sự tấn công của người da đỏ. Đến khi họ gian nan tiến đến hạ lưu sông Missouri ở vùng đồng bằng trung tâm, một đội quân phụ thuộc gồm những người Oa (Nhật Bản) dưới trướng Đế quốc Trung Hoa bắt đầu phát động đợt tấn công mãnh liệt, khiến đội quân viễn chinh này phải chịu tổn thất không nhỏ.
Đội quân viễn chinh này còn chưa kịp chạm đến bờ Tây đã mất đi hơn một ngàn binh lính tinh nhuệ. Đúng lúc hạm đội viễn chinh đang đi qua vịnh San Matias ở Nam Tân lục địa, các nghị sĩ Quốc hội Mỹ đã nhận được thư cầu viện từ Thiếu tướng Morgan, chỉ huy đội quân viễn chinh.
Trong thư, Thiếu tướng Morgan mô tả đội quân phương Đông đang giao chiến với mình như một lũ ác ma đáng sợ và ngu muội. Những kẻ phương Đông đó đầu tóc búi kiểu kỳ quái, tay cầm loan đao, khoác trên mình bộ giáp kỳ dị làm từ tre và da thú, đeo những chiếc mặt nạ cùng mũ trụ dữ tợn. Chúng vừa gào thét ầm ĩ vừa lao ra từ trong rừng rậm, dáng người tuy thấp bé nhưng cực kỳ hung tàn, thường tử chiến không lui.
Hơn nữa, chúng cũng sở hữu một lượng hỏa khí nhất định, tuy nhiên hỏa khí của chúng rất cũ kỹ, thậm chí có một bộ phận là súng hỏa mai đã bị loại bỏ từ giữa thế kỷ này.
Những người phương Đông này không lỗ mãng như người da đỏ, chúng nham hiểm và độc ác hơn nhiều, số lượng lại đông gấp nhiều lần đội quân viễn chinh. Điều này khiến Thiếu tướng Morgan, tổng chỉ huy đội quân viễn chinh vốn đang tràn đầy tự tin, cuối cùng cũng phải dẹp bỏ thái độ khinh địch, chuyển sang quan sát đối thủ bằng thái độ thận trọng và nghiêm túc.
Sau khi hứng chịu vài lần phục kích đáng sợ, nhận thấy nếu cứ tiếp tục như vậy, đội quân viễn chinh dũng cảm của Mỹ rất có thể sẽ bị đối thủ phương Đông dùng chiến thuật biển người kéo sập. Vì thế, Thiếu tướng Morgan cuối cùng đã đưa ra quyết định cầu viện Quốc hội.
Bản quân báo và thư cầu viện của ông nhanh chóng đặt trên bàn làm việc của các nghị sĩ Quốc hội. Điều này khiến những nghị sĩ Hợp chúng quốc Mỹ kiêu ngạo nhận ra một sự thật: kẻ địch của họ tuyệt đối không phải là lũ man di chỉ biết cầm đao giáo, mà là một đội quân phương Đông đông đảo, có trang bị hỏa khí. Quốc hội Mỹ đã mở ra một vòng thảo luận gay gắt mới. Đúng lúc này, phái đoàn ngoại giao do Tổng thống Washington phái Chánh án Tòa án tối cao là John Jay sang Anh đàm phán đã trở về Philadelphia, đồng thời còn mang theo một đặc sứ đến từ London, Anh.
Cần biết rằng, sau khi "Hiệp ước Paris" năm 1783 được ký kết, dù nước Anh đã công nhận nền độc lập của Mỹ, nhưng hai bên vẫn chưa đạt được hòa bình thực sự. Việc Anh đóng quân tại Mỹ, Mỹ được Pháp ủng hộ để cướp bóc tàu Anh, cùng với hành vi cướp bóc tàu thuyền Mỹ của Anh nhằm trấn áp Cách mạng Pháp đã khiến Mỹ và Anh đứng bên bờ vực chiến tranh.
Tổng thống Washington vì thế đã đặc biệt phái đặc sứ John Jay sang Anh đàm phán, hy vọng hai nước có thể từ bỏ hành vi đối địch. Nhưng giờ đây, William Wilberforce, nghị sĩ Hạ viện Anh, đại diện cho ý chí của Vua George III và Thủ tướng William Pitt trẻ tuổi, đã đến Philadelphia. Ông ta mang đến thiện chí của nước Anh trong việc làm dịu quan hệ Mỹ-Anh và giải quyết tranh chấp giữa hai bên bằng hòa bình.
Khi nghe xong mục đích của đặc sứ, họ nhanh chóng hiểu tại sao nước Anh lại đưa ra quyết định như vậy.
Trước đó, dựa vào hạm đội và quân đội thuộc địa hùng mạnh, người Anh đã dùng thủ đoạn mạnh tay và ngang ngược để cướp đoạt quyền lợi của các quốc gia thực dân phương Tây khác tại các thuộc địa phương Đông, gây nên sự bất mãn và phẫn nộ dữ dội.
Sau đó, tên hải tặc phương Đông thực lực hùng hậu kia đã âm thầm liên kết và kích động nhiều kẻ thực dân châu Âu hợp lực chống lại thế lực của Anh ở phương Đông. Kết quả là lợi ích của Anh ở phương Đông gần như mất sạch, bán đảo Ấn Độ rộng lớn và trù phú kia đã trở thành chiến lợi phẩm của những kẻ thực dân phương Tây.
Nước Anh rất phẫn nộ, đúng vậy, dù là Vua Anh hay Thủ tướng William Pitt đều vô cùng tức giận. Hơn nữa, để chuộc lại những binh sĩ hải lục quân thuộc địa bị tên hải tặc phương Đông đáng chết kia bắt giữ, họ buộc phải nhục nhã ký vào bản "Hiệp ước Trung-Anh tại London" khiến người ta nghiến răng căm hận.
Ký kết hiệp ước này tuy có thể giúp người Anh chuộc lại binh sĩ, nhưng nước Anh chưa từng phải chịu thất bại như vậy, sao có thể cam tâm chấp nhận kết cục này?
Vì thế, không lâu sau khi ký kết hiệp ước, Thủ tướng Anh đầy tham vọng là William Pitt đã thuyết phục Quốc hội và Vua George III, phái nhiều đặc sứ đến phương Đông, với ý đồ dùng đủ loại thủ đoạn nham hiểm để đoạt lại lợi ích của Anh tại phương Đông.
Hơn nữa, sau khi biết tin tên hải tặc phương Đông khiến Đại Anh quốc mất hết mặt mũi đã mua lại những vùng thuộc địa rộng lớn ở Tân lục địa từ tay Tây Ban Nha, William Pitt lại một lần nữa thương thảo với các nghị sĩ Quốc hội. Sau những cuộc tranh luận và thuyết phục gian nan, cuối cùng ông ta đã khiến các nghị sĩ từ bỏ thành kiến đảng phái, tạm thời hòa hoãn với Hợp chúng quốc Mỹ - quốc gia vốn là kẻ thù của nước Anh. Mục đích của việc này đương nhiên không cần nói cũng hiểu...
Nước Anh hy vọng hai bên từ bỏ hành động đối địch. Anh sẽ rút quân khỏi khu vực Tây Bắc nước Mỹ trước ngày 1 tháng 6 năm 1796, bồi thường tổn thất cho những tàu thuyền Mỹ bị cướp bóc. Ngoài ra, sông Mississippi được mở cửa cho cả Anh và Mỹ, Mỹ phải cấm các cảng của mình trang bị tàu cướp biển nhắm vào Anh, chỉ cho phép Mỹ dùng tàu trọng tải dưới 70 tấn để giao thương với Tây Ấn, không được buôn bán các mặt hàng như bông, ca cao, đường ăn; hai bên đồng ý thành lập ủy ban hỗn hợp để xác định biên giới giữa Mỹ và Canada thuộc Anh...
Hiệp ước này gây ra sự bất mãn và tranh luận rộng rãi trong các nghị sĩ Quốc hội Mỹ, bởi các điều khoản trong đó xác nhận quyền tự do hàng hải của Anh trên các con sông nội địa tại Bắc Mỹ và vị thế ưu thế của Anh trong thương mại tại Tây Ấn, khiến Mỹ mất đi một phần lợi ích về chủ quyền lãnh thổ và thương mại.
Tuy nhiên, phải thừa nhận rằng hiệp ước đã giúp Mỹ và Anh tránh được nguy cơ bùng nổ chiến tranh một lần nữa trong thời gian ngắn sau khi Chiến tranh Độc lập kết thúc, giúp Mỹ tạm thời đứng ngoài các cuộc chiến tranh châu Âu do Cách mạng Pháp gây ra, giành lấy một môi trường quốc tế tương đối hòa bình cho nước Mỹ thời kỳ đầu mới thành lập.
Quan trọng hơn, nó giúp Hợp chúng quốc Mỹ có thể dồn nhiều sự chú ý hơn vào bờ Tây, đổ nhiều quân đội và sức lực hơn để đối phó với những kẻ thực dân phương Đông tham lam và hung tàn. Mà đây, lại đúng là kết cục mà nước Anh mong muốn nhất.
Trong mắt vị Thủ tướng Anh đầy trí tuệ William Pitt, nước Mỹ chắc chắn sẽ nỗ lực vì không gian sinh tồn của chính mình. Hành động của người phương Đông khi liên kết với người da đỏ để đối phó với châu Âu đã chạm đến dây thần kinh nhạy cảm và yếu ớt của quốc gia mới thành lập chưa lâu như Hợp chúng quốc Mỹ.
Sau những cuộc cãi vã và tranh luận căng thẳng, Quốc hội Mỹ đã chấp nhận phần lớn các điều kiện, nhưng yêu cầu hủy bỏ điều khoản thương mại tại Tây Ấn. Cuối cùng, hiệp ước này đã được Thượng viện Mỹ phê chuẩn ký kết.
Hiệp ước này mang lại cho hai bên một thời kỳ bình yên ngắn ngủi và tương đối ổn định. Dù các nghị sĩ Mỹ hiểu rõ đám người Anh không có ý tốt gì, chủ động làm hòa chẳng qua là muốn Mỹ liều mạng với những kẻ thực dân phương Đông trên Tân lục địa. Nhưng dù biết rõ ý đồ của người Anh, nước Mỹ vẫn buộc phải đi theo lộ trình của họ, bởi vì họ không phải nước Anh, đây là tổ quốc của họ, họ không còn đường lui trên mảnh đất này.
Chỉ ba ngày sau khi hiệp ước được ký kết, Hợp chúng quốc Mỹ đã khẩn cấp phái một đội quân viện trợ gồm 12.000 người tới cho đội quân viễn chinh đang cố thủ ở hạ lưu sông Missouri thuộc vùng đồng bằng trung tâm, khiến số lượng của đội quân viễn chinh này vượt xa dự kiến.
Tuy nhiên, điều khiến người Mỹ không ngờ tới là, mặc dù hiệp ước giúp Mỹ tạm thời có được môi trường tương đối hòa bình, có thể dồn toàn tâm toàn ý đối phó với những kẻ thực dân phương Đông, nhưng việc ký kết hiệp ước này lại chọc giận nước Pháp - quốc gia vốn có quan hệ đồng minh với Mỹ, khiến quan hệ giữa hai nước bắt đầu xấu đi trầm trọng.
Thế nhưng, các nghị sĩ Mỹ lúc này đã bị lợi ích ở bờ Tây và những kẻ thực dân phương Đông thu hút sự chú ý, nên tạm thời không còn tâm trí để quan tâm đến chuyện đó nữa.
Trương Hưng Bá, nguyên chỉ huy Hạm đội Nam Dương, sau khi chỉ huy nguyên Hạm đội Tân lục địa là Lương Văn Canh trở thành Tổng đốc Tân lục địa đầu tiên, ông đã tiếp nhận vị trí chỉ huy Hạm đội Tân lục địa, còn chức vụ chỉ huy Hạm đội Nam Dương được giao lại cho Mạc Quan Phù - nguyên chỉ huy phân hạm đội Ấn Độ Dương thuộc Hạm đội Nam Dương.
Trương Hưng Bá đến Tân lục địa cũng đã hơn một năm. Khi nhận được lệnh bổ nhiệm của Lương Bằng Phi, Lương Bằng Phi đã nói với vị tướng lĩnh tâm phúc này về việc Hạm đội Tân lục địa sớm muộn gì cũng sẽ có một trận chiến với hạm đội của Hợp chúng quốc Mỹ.
Mà giờ đây, kèn lệnh chiến tranh đã vang lên, Hạm đội Tân lục địa hùng mạnh đã tập hợp tại đây, chính là để đối phó với những kẻ xâm lược Mỹ dám đặt ánh mắt và tầm nhìn lên lãnh thổ của Đế quốc Trung Hoa.
"Hút thuốc không?" Vừa bước vào văn phòng, Trương Hưng Bá đã cầm lấy một hộp xì gà trên bàn làm việc, lấy ra một điếu to bằng củ cà rốt đưa ra trước mặt Trương Bảo Tử. Nhìn thấy cảnh đó, chàng thanh niên trẻ tuổi chỉ biết đảo mắt, liên tục lắc đầu: "Cháu còn chưa trưởng thành, không hút được."
"Chà, được lắm, tuổi còn trẻ, không nên hút thứ này." Trương Hưng Bá cười hì hì, tự mình châm một điếu, thưởng thức một cách khoái chí, người hầu bên cạnh đã bưng trà và bánh ngọt lên.
Trương Bảo Tử vừa xuống tàu không còn tâm trí để ý đến Trương Hưng Bá, tự mình ăn uống ngấu nghiến. Trương Hưng Bá ngậm xì gà cười híp mắt ngồi xuống trước mặt Trương Bảo Tử: "Đúng rồi, cha nuôi của cháu gửi thư đến, bảo ta đừng bận tâm đến thân phận của cháu, cứ coi cháu như một thiếu úy bình thường. Nhưng mà, nếu thằng nhóc cháu mà sứt mẻ miếng da nào, đến lúc đó phu nhân mà trị tội ta, thì ông ấy không quản đâu đấy."