Thế Giới Đĩa Tập 1 : Màu Sắc Của Ma Pháp

Lượt đọc: 213 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 1
Màu sắc của ma thuật (3)

❊ ❊ ❊

“Hay nói cách khác, giống như việc đặt cược vậy.”

“Vậy ông làm cái thứ gọi là ‘bảo hiểm’ này có kiếm được tiền không?”

“Đầu tư thì có hoàn lại, điều này là chắc chắn.”

Đắm mình trong hơi men nồng nàn và ấm áp, Rincewind cố gắng suy nghĩ, tìm một từ trong tiếng Ankh-Morpork để thay thế cho từ “bảo hiểm” này.

“Tôi không—không hiểu ‘bảo hiểm’ là gì cả…” Anh quả quyết nói, mặc cho lưỡi cứ líu lại, trước mắt thì quay cuồng, “Ma thuật, chúng ta đang nói về ma thuật, tôi hiểu—tôi hiểu ma thuật!”

Twoflower nhoẻn miệng cười. “Ma thuật là một chuyện, còn ‘bụi gai’ lại là chuyện khác,” anh ta nói.

“Cái gì?”

“Ông vừa nói gì cơ?”

“Cái từ mà ông vừa—vừa—nói ấy!” Rincewind mất kiên nhẫn nói.

“Bụi gai!”

“Chưa từng—chưa từng nghe nói!”

Twoflower muốn giải thích cho rõ ràng.

Rincewind cũng muốn tìm hiểu cho ra nhẽ.

Suốt cả buổi chiều, họ đi dọc theo chiều kim đồng hồ của con sông để tham quan thành phố. Twoflower đi phía trước, cổ đeo một sợi dây treo cái hộp chụp ảnh kỳ lạ. Rincewind lê lết theo sau, thỉnh thoảng lại phát ra một tiếng rên rỉ, kiểm tra xem cái đầu của mình còn nguyên vẹn hay không.

Theo sau họ còn có những người khác. Trong một thành phố như thế này, các vụ hành quyết công khai, quyết đấu, ẩu đả, đấu phép thuật và đủ loại chuyện kỳ quái xảy ra mỗi ngày, vì vậy, cư dân trong thành phố đã phát triển nghệ thuật xem náo nhiệt lên đến đỉnh cao. Có người nói, trong khoản trố mắt nhìn ngây ngốc, không ai sánh bằng những người này. Bất kể nhìn thấy gì, Twoflower đều hào hứng chụp lại, nói rằng đây đều là “những hoạt động tiêu biểu”. Sau khi chụp xong, một đồng xu quarter-Rhinu lại đổi chủ, vì—theo lời Twoflower—là “đã gây phiền phức cho người ta”. Thế là, sau lưng anh ta lập tức có một nhóm những kẻ mới phất vừa hoang mang vừa vui vẻ đi theo.

“Đi theo hắn đi, biết đâu gã điên này đột nhiên nổ tung, biến thành một cơn mưa vàng thì sao!”

Tại ngôi đền của Sek, các giáo sĩ và thợ thủ công đã mở cuộc họp khẩn cấp, họ nhất trí cho rằng bức tượng Sek cao một trăm lòng bàn tay này quá đỗi thánh thiện, tuyệt đối không được thu vào trong bức ảnh ma thuật. Thế nhưng nhóm người này lại kinh ngạc khi nhận được hai đồng Rhinu, vì vậy họ lần lượt bày tỏ rằng thực ra Sek có lẽ cũng không thánh thiện đến thế.

Thời gian tham quan khu nhà thổ kéo dài hơn dự kiến, họ thu thập được rất nhiều bức ảnh phong phú và có tính giáo dục. Rincewind giấu một vài tấm trong người để một mình nghiên cứu kỹ. Sau khi tỉnh táo lại từ cơn say, Rincewind bắt đầu quan sát kỹ nguyên lý hoạt động của chiếc hộp chụp ảnh này.

Ngay cả một phù thủy không mấy tài cán cũng biết rằng có một số vật chất nhạy sáng. Có phải miếng kính đó đã được xử lý qua một phương thức bí ẩn nào đó, có thể đóng băng ánh sáng xuyên qua nó lên trên không? Dù sao thì, đại khái cũng là như vậy. Rincewind luôn nghi ngờ rằng ở đâu đó chắc chắn phải tồn tại những thứ cao siêu hơn ma thuật, đáng tiếc là thực tế thường khiến anh thất vọng tràn trề.

Chẳng bao lâu sau, anh chộp lấy mọi cơ hội để giành quyền vận hành cái máy đó.

Twoflower đang mong chờ điều đó, như vậy thì gã lùn này mới có thể xuất hiện trong những bức ảnh của anh ta. Sau khi vận hành một thời gian, Rincewind phát hiện ra điều kỳ quái. Bất kể là ai, chỉ cần cầm chiếc hộp này lên, sẽ bị nó nhiễm một chút pháp lực—bởi vì bất kể là ai, chỉ cần đứng trước con mắt thủy tinh thôi miên đó, đều sẽ nghe theo sự sai khiến của nó, bắt tạo dáng thế nào thì tạo dáng thế đó, bắt làm biểu cảm gì thì làm biểu cảm đó.

Đúng lúc anh đang tập trung nghiên cứu chiếc hộp tại quảng trường Trăng Khuyết, một tai họa đã ập đến.

Twoflower đang tạo dáng bên cạnh một kẻ bán bùa chú đang ngơ ngác, đám người theo đuôi mới đến đều đứng bên cạnh xem với vẻ đầy hứng thú, hy vọng anh ta sẽ làm ra trò kỳ quặc gì đó để mua vui cho mọi người.

Rincewind quỳ một chân xuống để lấy góc, sau đó nhấn vào cần điều khiển đã được yểm bùa.

Chiếc hộp lên tiếng: “Không dùng được. Màu hồng hết sạch rồi!”

Trên chiếc hộp mở ra một cánh cửa nhỏ, cánh cửa mà trước đó Rincewind hoàn toàn không để ý. Từ bên trong bước ra một người tí hon, da xanh ngắt, mọc đầy mụn cóc, trông xấu xí vô cùng. Người tí hon chỉ vào bảng màu đầy những sắc thái trên bàn tay như móng vuốt của mình, gào thét với Rincewind.

“Màu hồng hết rồi! Không thấy à?” Người tí hon rít lên, “Không có màu hồng, ngươi nhìn xem còn chỗ nào có màu hồng nữa? Ngươi cứ ấn cái tay cầm đó cũng vô ích thôi! Giờ mới muốn màu hồng à? Ai bảo ngươi lúc nãy cứ mải mê chụp mấy cô nàng trẻ tuổi? Bạn ạ, từ giờ trở đi tất cả đều là đen trắng, nghe rõ chưa?”

“Rõ. Được, được rồi,” Rincewind nói. Anh cảm thấy xuyên qua cánh cửa nhỏ có thể nhìn thấy một góc tối tăm bên trong chiếc hộp đen, có một cái giá vẽ nhỏ, và một chiếc giường nhỏ, chăn gối chưa hề gấp lại. Anh thà rằng mình không nhìn thấy gì cả.

“Nghe rõ là được!” Con quỷ nhỏ nói rồi sập cửa lại.

Rincewind nghe thấy bên trong chiếc hộp loáng thoáng có tiếng càu nhàu, cùng tiếng kéo lê chiếc ghế đẩu trên sàn nhà.

“Twoflower…” Anh gọi, ngẩng đầu nhìn sang.

Twoflower đã biến mất. Rincewind nhìn về phía đám đông, cảm giác sợ hãi thấu xương bò dọc sống lưng anh. Đúng lúc này, có thứ gì đó khẽ chọc vào lưng anh.

“Từ từ quay người lại!” Giọng nói trầm thấp, lạnh lẽo, tựa như một tấm lụa đen, “Nếu không thì đừng hòng giữ được bộ ruột của ngươi.”

Những người xem náo nhiệt vô cùng phấn khích. Hôm nay đúng là gặp được chuyện hay để xem.

Rincewind từ từ quay người lại, cảm thấy mũi dao lướt qua xương sườn mình.

Anh nhận ra kẻ cầm dao—Severn Weather—một tên đại đạo, kiếm thủ tàn độc, đang tranh giành danh hiệu kẻ xấu xa nhất thế giới, nhưng hiện tại vẫn chưa thành công, nên hắn là một kẻ vô cùng bất mãn.

“Chào—” Rincewind run rẩy chào hỏi. Anh nhìn thấy cách đó vài thước, mấy kẻ vô lương tâm đang cạy nắp rương của Twoflower, phấn khích chỉ trỏ vào những túi đựng đầy tiền vàng. Weather cười nhạt, gương mặt đầy sẹo đó trông càng đáng sợ hơn.

“Ta biết ngươi,” hắn nói, “một tên phù thủy hạng xoàng.”

“Cái thứ này là gì?”

Rincewind nhận ra nắp rương đang run rẩy nhẹ, mà lúc này chẳng có lấy một cơn gió. Hơn nữa, trên tay anh vẫn còn cầm chiếc hộp chụp ảnh.

“Cái này? Thứ này biết vẽ tranh,” anh vui vẻ nói, “Này, cứ cười như thế, đừng nhúc nhích.” Anh nhanh chóng lùi lại vài bước, hướng chiếc hộp về phía hắn.

Weather nhất thời hơi do dự. “Cái gì?” hắn hỏi.

“Rất tốt, cứ đứng yên như vậy…” Rincewind nói.

Tên đại đạo khựng lại, trong cổ họng hừ hừ, thu kiếm lại.

Chỉ nghe “tách” một tiếng, hai tiếng thét kinh hoàng vang lên cùng lúc. Rincewind không dám nhìn xung quanh, sợ rằng sẽ nhìn thấy thứ gì đó kinh khủng. Đợi đến khi Weather phản ứng lại, tìm anh thì anh đã chạy đến đầu kia của quảng trường rồi, và vẫn đang tiếp tục tăng tốc.

Con hải âu dang rộng đôi cánh, từ từ lượn xuống. Khi hạ cánh lại thiếu đi vẻ uy nghiêm, lông vũ bay tứ tung, “bộp” một tiếng rơi mạnh xuống nền của vườn chim vương công.

Người quản lý vườn chim đang ngủ ngon lành dưới ánh mặt trời, không thể ngờ rằng sáng sớm mới nhận được một bức thư đường dài, mà giờ lại đến thêm một bức nữa. Anh vội vã đứng dậy, nhìn lên trên.

Chẳng bao lâu sau, anh chạy lon ton, tay cầm ống thư, băng qua hành lang cung điện. Vì sự việc quá đột ngột, lại bất cẩn trong lúc làm việc, vừa chạy anh vừa mút lấy vết thương bị chim mổ mạnh trên mu bàn tay.

Rincewind lao vào một con hẻm nhỏ, mặc kệ những tiếng gào thét truyền ra từ chiếc hộp chụp ảnh. Anh vượt qua một bức tường cao, chiếc áo choàng rách rưới bay lên, tựa như một con chim ác là lông lá xù xì. Anh nhảy vào sân trước của một cửa hàng thảm, đụng đổ hàng hóa, đẩy khách hàng ra, lao thẳng về phía cửa sau của cửa hàng, vừa chạy vừa rối rít xin lỗi.

Sau đó, anh lại lao vào một con hẻm khác, phanh gấp, cơ thể chao đảo nghiêng ngả, chật vật lắm mới lấy lại được thăng bằng, không đâm sầm xuống sông Ankh.

Người ta nói rằng tồn tại một số con sông bí ẩn, chỉ một giọt nước cũng có thể lấy mạng người. Dòng nước đục ngầu của sông Ankh chảy qua hai thành phố, rất có thể chính là con sông sát nhân như vậy.

Tiếng gào thét ở phía xa biến thành những tiếng la hét kinh hoàng. Rincewind điên cuồng tìm kiếm thuyền qua sông, hoặc giả như trên những bức tường cao hai bên có tay vịn để anh trèo lên thì tốt biết mấy…

Anh rơi vào ngõ cụt.

Một câu chú không mời mà tới, ùa vào trong tâm trí anh. Nếu nói anh đã từng học câu chú này thì có lẽ không chính xác lắm, vì thực ra chính câu chú này đã đeo bám lấy anh. Giai thoại này liên quan đến việc anh bị đuổi khỏi Đại học Vô hình. Khi đó, vì cá cược với người khác, anh đã đánh liều mở cuốn thiên thư khổ “tám” duy nhất còn sót lại trên đời (lúc đó thủ thư đang bận việc khác). Câu chú này nhảy ra từ cuốn sách, rồi cắm rễ sâu vào trong não anh. Những nhân vật chủ chốt của trường y đã hội ý, nhưng cũng không thể lừa nó ra ngoài, cũng không thể xác định đây là loại chú ngữ gì, chỉ biết đó là một trong tám câu chú cơ bản kết hợp tinh vi với cấu trúc thời gian và không gian.

Từ đó trở đi, câu chú này liền bộc lộ một xu hướng đáng lo ngại, mỗi khi Rincewind tâm trạng sa sút hoặc tính mạng bị đe dọa, nó luôn muốn anh đọc mình ra.

Rincewind nghiến chặt răng, nhưng âm tiết đầu tiên đã trào ra từ khóe miệng. Tay trái anh theo bản năng giơ lên, sức mạnh ma thuật nâng anh lên, xoay một vòng, trên tay lóe lên tia lửa màu thứ tám…

Chiếc rương của Twoflower chạy băng qua góc tường, hàng trăm cái chân dưới đáy rương hoạt động không ngừng nghỉ như pít-tông.

Rincewind há miệng. Câu chú biến mất, không thoát ra được.

Trên chiếc rương khoác tạm một tấm thảm, mang tính trang trí, còn kéo lê một tên trộm đang bị kẹt một cánh tay vào nắp rương. Cho dù là tấm thảm hay tên trộm đều không thể cản bước chân của nó. Từ “nặng như chì” dùng cho chiếc rương này thật sự không thể nào thích hợp hơn.

Nó thực sự có thể làm người ta chết. Trên nắp rương còn kẹt lại hai ngón tay, không biết là của ai đã đứt lìa ở đó.

Chiếc rương dừng lại cách vị trí của phù thủy vài bước, sau đó thu tất cả cái chân nhỏ vào trong. Rincewind không nhìn thấy trên người nó mọc mắt ở đâu, nhưng anh cứ cảm thấy thứ này đang nhìn chằm chằm vào mình. Trực giác.

“Suỵt…” Anh khẽ xua đuổi nó.

Chiếc rương không nhúc nhích, chỉ có nắp rương “két” một tiếng mở ra, thả tên trộm đã tắt thở ra ngoài.

Rincewind nhớ đến số vàng bên trong. Chiếc rương này có lẽ phải có một người chủ. Twoflower không còn nữa, có lẽ nó theo anh chăng? Hướng thủy triều thay đổi, dưới ánh hoàng hôn, rác rưởi trên mặt sông trôi về phía “Cổng cửa sông” cách đó vài trăm thước. Chẳng bao lâu sau, xác chết của tên trộm đã bị dòng sông nuốt chửng.

Ngay cả khi xác chết sớm bị phát hiện, cũng sẽ không gây ra bất kỳ tranh luận nào. Hơn nữa, lũ cá mập ở cửa biển vốn dĩ luôn ăn uống đúng giờ.

Rincewind nhìn xác chết trôi đi, suy nghĩ xem mình nên đi đâu tiếp theo. Chiếc rương hành lý chắc là có độ nổi, anh chỉ cần đợi màn đêm buông xuống, sau đó theo thủy triều trôi ra khỏi thành phố. Ở hạ lưu có không ít vùng hoang dã, anh có thể trèo lên bờ. Tiếp theo đó… nếu vương công thực sự đã thông báo nhận dạng của anh cho các thành phố khác, thì thay quần áo, cạo râu, có lẽ có thể che mắt thiên hạ. Đất không chịu trời thì trời chịu đất, Rincewind lại có thiên phú về ngôn ngữ, chi bằng đến Thành phố Quái thú lửa hoặc Gonium, Igalpang cũng được, năm sáu đội quân cũng không đuổi kịp anh. Đợi ra ngoài rồi—có tiền có vui, lại an toàn…

Thế nhưng, Twoflower thì sao? Rincewind quyết định mặc niệm cho anh ta một lúc.

“Hoàn toàn có thể tệ hơn,” Rincewind từ biệt, “người chết thậm chí có thể là chính mình.”

Anh vừa định khởi hành thì phát hiện áo choàng của mình bị thứ gì đó kéo lại.

Ngoái đầu nhìn lại, anh phát hiện gấu áo đã bị nắp rương cắn chặt.

“À, Gorphal,” vương công vui vẻ nói, “mau vào đây, mời ngồi. Có muốn nếm thử sao biển tẩm mật không?”

“Rất sẵn lòng phục vụ đại nhân,” ông lão lặng lẽ nói, “nhưng động vật da gai muối thì thôi vậy.”

Vương công nhún vai, chỉ vào cuộn giấy trên bàn.

“Đọc cái này xem.” ông nói.

Gorphal cầm lấy tấm da dê, khi nhìn thấy những chữ tượng hình quen thuộc của Đế quốc Vàng, một bên lông mày của ông nhướn lên. Ông đọc thầm khoảng một phút, rồi cuộn giấy lại, mất thêm một phút để kiểm tra ấn tín ở mặt trước.

“Về đế quốc này, ông là chuyên gia nổi tiếng nhất,” vương công nói, “ông có thể giải thích chuyện này không?”

“Để hiểu được đế quốc này, điều quan trọng không phải là ghi nhớ một sự kiện cụ thể nào đó, mà là nắm bắt được suy nghĩ của con người,” vị lão ngoại giao nói, “bức thư này quả thực có chút kỳ lạ, nhưng cũng không có gì đáng ngạc nhiên.”

“Sáng nay, hoàng đế nước đó đã chỉ thị đặc biệt cho ta,” vương công nhíu mày, “chỉ thị ta phải bảo vệ tốt cái người gọi là Twoflower này. Bây giờ xem ra, lại giống như bảo ta giết chết người này. Điều này còn chưa đáng ngạc nhiên sao?”

“Không. Vị hoàng đế đó lớn hơn trẻ con chẳng bao nhiêu. Ngài ấy là một—người lý tưởng. Rất cực đoan. Đối với người dân của ngài, ngài giống như một vị thần. Bức thư buổi chiều này, trừ khi tôi phán đoán sai, là do ‘Cửu Chuyển Kính’—đại thần cấp cao của họ gửi tới. Ông ta từng phục vụ nhiều đời hoàng đế, tuổi đã cao. Ông ta cho rằng, nếu muốn trị quốc thành công, vai trò của ‘hoàng đế’ là không thể thiếu, đồng thời cũng rất rắc rối. Ông ta không nhìn được chuyện rắc rối. Xảy ra chuyện rắc rối là không xây dựng được đế quốc, đây là quan điểm nhất quán của ông ta.”

“Ta hơi hiểu rồi…” vương công nói.

“Quả thực là vậy,” râu của Gorphal thoáng hiện nụ cười, “vị khách này chính là một ‘rắc rối’. Tôi dám khẳng định, vị Cửu Chuyển Kính này sẽ bề ngoài tuân theo lệnh của hoàng đế, thực tế lại tự ý hành động, đảm bảo người đi khắp nơi này không thể về nước, không truyền bá căn bệnh không hài lòng với hiện trạng trong nước. Quốc gia này hy vọng người dân của họ cả đời ở yên tại nơi mà quốc gia sắp đặt cho họ. Vì vậy, nếu cái người gọi là Twoflower này biến mất ở vùng man di, họ sẽ đỡ phiền phức. Trên đây là ý kiến của tôi, đại nhân.”

“Vậy lời khuyên của ông là?” vương công hỏi.

Gorphal nhún vai.

“Ngài không cần làm gì cả. Sự việc thường sẽ tự giải quyết. Nhưng,” ông gãi tai, trầm ngâm, “có lẽ ‘Hội Sát Thủ’ có thể…”

“Phải rồi,” vương công nói, “Hội Sát Thủ. Thủ lĩnh hiện tại của họ là ai?”

“Là Mao Cước Zlotov, đại nhân.”

“Chào hỏi hắn một tiếng, được không?”

“Đương nhiên là được, đại nhân.”

Vương công gật đầu, nhẹ nhõm hẳn. Ông có cùng quan điểm với Cửu Chuyển Kính—cuộc sống vốn dĩ đã chẳng dễ dàng gì, người dân mà, cứ để họ ở đâu thì ở yên đó là tốt nhất.

Những vì sao xinh đẹp chiếu rọi thế giới đĩa. Các cửa hàng lần lượt đóng cửa. Mà lúc này, những kẻ lừa đảo, trộm cắp, gái điếm, ảo thuật gia, lưu manh và phường trộm đêm thì lần lượt thức dậy ăn sáng. Các phù thủy bận rộn với công việc trong không gian đa tầng của họ. Hai hành tinh lớn sẽ giao nhau trong đêm nay, đợt chú ngữ đầu tiên đã khiến bầu trời trên khu vực ma thuật mịt mù khói sương.

“Ngươi xem,” Rincewind nói, “ngươi làm thế này chẳng có lợi gì cho cả hai chúng ta cả.” Anh bước sang bên cạnh. Chiếc rương hành lý bám sát không rời, nắp rương hé mở một cách đáng sợ. Rincewind chỉ nghĩ ngắn gọn về khả năng cố sức nhảy thoát, nhưng nắp rương như thể đoán được, “bộp” một tiếng cắn chặt lại.

Tim Rincewind chùng xuống. Nhưng anh tự an ủi mình, dù có chạy thoát, chiếc rương này sớm muộn gì cũng sẽ đuổi theo. Nhìn cái vẻ bướng bỉnh đó là biết. Anh có một dự cảm không lành, ngay cả khi anh tìm được một con ngựa, chiếc rương này vẫn có thể theo kịp anh bằng tốc độ của chính nó. Mãi mãi theo sau, vượt biển cũng không sợ. Mỗi khi anh dừng lại nghỉ ngơi vào ban đêm, nó sẽ từ từ đuổi theo từ phía sau. Ngay cả khi đến vùng đất hoang dã lạ lẫm, trong những năm tháng sau này, anh sẽ mãi mãi nghe thấy tiếng hàng trăm cái chân nhỏ tăng tốc trên con đường phía sau, tăng tốc…

“Ngươi nhận nhầm người rồi!” Anh gào lên, “Cũng đâu phải lỗi của tôi, cũng đâu phải tôi bắt cóc hắn!”

Chiếc rương tiến sát lại hai bước. Lúc này, gót chân Rincewind chỉ còn cách mặt nước sông một dải đê đầy dầu mỡ hẹp. Một ý nghĩ lóe lên trong đầu anh: có lẽ chiếc rương này còn bơi nhanh hơn cả anh. Anh cố gắng không tưởng tượng ra cảnh chết đuối dưới sông Ankh sẽ thảm hại đến mức nào.

“Nó sẽ không bỏ cuộc đâu, trừ khi ngươi nghe lời nó,” một giọng nói nhỏ xíu phát ra với anh.

Rincewind cúi đầu nhìn chiếc hộp chụp ảnh vẫn còn treo trên cổ mình. Cánh cửa nhỏ đó đã mở, người tí hon bên trong đang dựa vào khung cửa, hút tẩu thuốc, quan sát sự việc phát triển như thể đang xem trò cười.

“Ít nhất ta còn có thể kéo một kẻ xuống nước cùng.” Rincewind rít qua kẽ răng.

Con quỷ nhỏ lấy tẩu thuốc ra khỏi miệng. “Ngươi nói cái gì?” nó hỏi.

“Ta nói ta muốn xuống nước, ngươi cũng đừng hòng ở lại trên bờ, đồ chết tiệt!”

“Tùy ngươi!” Con quỷ vỗ vỗ vào cạnh chiếc hộp đầy ẩn ý, “Đến lúc đó xem ai chìm xuống đáy trước!”

Chiếc rương ngáp một cái, lại tiến lên một tấc.

“Được rồi được rồi,” Rincewind bực bội nói, “ngươi cũng phải cho ta chút thời gian để suy nghĩ chứ.”

Chiếc rương từ từ lùi lại. Rincewind quay trở lại nơi có thể giữ khoảng cách nhất định với mặt sông, ngồi xuống dựa vào chân tường. Thành phố Ankh bên kia sông đèn đuốc sáng trưng.

“Ngươi là một phù thủy,” con quỷ chụp ảnh nói, “ngươi chắc chắn có cách tìm anh ta về.”

“ e là ta không tính là phù thủy gì cả.”

“Ngươi hoàn toàn có thể lao đến trước mặt người khác, biến người ta thành côn trùng mà,” con quỷ cổ vũ anh, không thèm để ý đến câu trả lời trước đó của anh.

“Không được. ‘Hóa thú’ là chú ngữ cấp tám chuyên nghiệp. Nhưng ta thậm chí còn chưa hoàn thành đào tạo. Ta chỉ biết đúng một câu chú.”

“Một câu, một câu cũng dùng được mà.”

“Chắc là không,” Rincewind tuyệt vọng nói.

“Vậy câu chú mà ngươi biết dùng để làm gì?”

“Không thể nói với ngươi được. Bây giờ không muốn nói về chuyện này. Nhưng nói thật,” anh thở dài, “chú ngữ chẳng có gì hay ho cả. Loại đơn giản nhất ngươi cũng phải mất ba tháng mới nhớ được, nhưng chỉ cần dùng một lần, phù! Mất sạch. Ma thuật chính là thứ ngớ ngẩn như vậy, ngươi hiểu không? Ngươi mất hai mươi năm để học một câu chú, biến ra một thiếu nữ khỏa thân trong phòng ngủ, nhưng trong hai mươi năm đó, ngươi đã bị sương thủy ngân làm cho nhiễm độc đến nửa chết nửa sống, đọc những cuốn thiên thư cổ xưa khiến ngươi gần như mù dở, thiếu nữ đến rồi, nhưng ngươi lại chẳng biết tiếp theo nên làm gì.”

“Chuyện này thì tôi chưa bao giờ nghĩ tới,” con quỷ nhỏ nói.

“Này, ngươi xem, vốn dĩ không nên là như vậy. Twoflower nói với ta đất nước của họ có ma thuật cao cấp hơn, ta cứ tưởng… cứ tưởng…”

Con quỷ nhỏ nhìn anh đầy kỳ vọng. Rincewind tự mắng mình một câu.

“Nếu ngươi nhất định muốn biết, ta cứ tưởng thứ anh ta nhắc đến không phải là ma thuật, không phải loại ma thuật của chúng ta.”

“Không phải ma thuật thì là gì?”

Rincewind bắt đầu tự thương hại bản thân.

“Ta không biết,” anh nói, “ta nghĩ, có lẽ là cách làm việc tốt hơn, cách hợp lý hơn. Có thể điều khiển… ví dụ như có thể điều khiển sấm sét, hoặc cái gì đó khác.”

Con quỷ nhỏ nhìn anh, rất thân thiện, thế nhưng trong ánh mắt chứa đầy sự thương hại.

“Sấm sét là ngọn lao khi người khổng lồ bão tố chiến đấu,” nó chậm rãi nói, “đây là sự thật đã biết trong khí tượng học, ngươi điều khiển nó thế nào?”

“Ta biết,” Rincewind khổ sở nói, “lấy ví dụ sai.”

Con quỷ nhỏ gật đầu, chui vào trong chiếc hộp chụp ảnh. Một lát sau, Rincewind ngửi thấy mùi thịt muối chiên tỏa ra từ bên trong. Anh cố nhịn, cho đến khi dạ dày không thể chịu đựng nổi nữa, bèn gõ vào chiếc hộp. Người tí hon lại bước ra.

“Ta vừa suy nghĩ về những lời ngươi nói,” Rincewind chưa kịp mở miệng, người tí hon đã lên tiếng trước, “cho dù ngươi có thể điều khiển nó, đặt cái yên ngựa lên trên nó, ngươi có thể bắt nó kéo xe không?”

“Ngươi đang nói cái thứ lảm nhảm gì vậy?”

“Sấm sét ấy. Nó chạy lung tung trên dưới, nhưng ngươi lại muốn nó đi thẳng, đừng chạy lên chạy xuống. Hơn nữa, nó rất có thể sẽ đốt cháy cả cái yên ngựa.”

“Ta không quan tâm sấm sét hay không sấm sét nữa! Ta đang đói bụng thì suy nghĩ thế nào được?”

“Đói bụng thì tìm đồ ăn lấp đầy nó đi chứ. Đây gọi là logic.”

“Ta ăn bằng cách nào? Ta chỉ cần di chuyển chỗ ngồi, cái rương quỷ quái này lại đập đập nắp vào ta!”

Đúng lúc này, chiếc rương mở toang nắp ra.

“Thấy chưa?”

“Nó không phải muốn cắn ngươi,” con quỷ nhỏ nói, “bên trong đó có đồ ăn đấy. Ngươi mà chết đói thì cũng chẳng có lợi gì cho nó.”

Rincewind nhìn vào sâu bên trong chiếc rương. Đúng là có đồ ăn thật, nằm giữa những chiếc hộp và túi tiền chất đống lộn xộn, có vài chai lọ và gói giấy dầu. Anh cười tự giễu một tiếng, loạng choạng bước lên con đê bỏ hoang, tìm một khúc gỗ có độ dài thích hợp, cố gắng nhẹ nhàng chống nắp rương cho chắc chắn, lúc này mới lấy từ trong rương ra một gói giấy phẳng.

Bên trong gói giấy là những chiếc bánh quy cứng như gỗ kim cương.

“Mẹ kiếp…” anh lầm bầm, xoa xoa răng.

“Đây là bánh quy tiêu hóa du lịch hiệu Thuyền trưởng Epanse.” Gã tiểu quỷ vừa nói vừa đi về phía cái rương, “Trên biển, thứ này đã cứu mạng không biết bao nhiêu người.”

“Ồ, tất nhiên rồi. Có phải các người dùng nó làm bè cứu sinh không? Hay là dùng nó để chém cá mập rồi nhìn nó chìm nghỉm? Trong cái chai này là thứ gì? Thuốc độc à?”

“Nước.”

“Đâu đâu chẳng có nước! Hắn mang theo nước làm gì?”

“Đáng tin.”

“Đáng tin?”

“Phải. Ví dụ như nước ở đây, hắn không tin được. Hiểu chứ?”

Rincewind mở một cái chai ra. Chất lỏng bên trong có lẽ từng là nước, nhưng giờ nếm thử chẳng có mùi vị gì, thậm chí không có chút sức sống nào. “Chẳng có mùi vị gì cả.” Hắn lầm bầm.

Một tiếng “kẽo kẹt” từ cái rương thu hút sự chú ý của hắn. Nó uể oải, như thể cố tình muốn dọa hắn, cái nắp từ từ đè xuống, miếng gỗ mà Rincewind dùng để chống tạm thời bị nghiền nát như bánh mì khô.

“Được rồi, được rồi,” hắn nói, “Chẳng phải ta đang nghĩ đây sao?”

Hang ổ của Ymper nằm trong "Tháp Nghiêng", ngay tại giao lộ của phố Sương Trắng và ngõ Sương Giá. Nửa đêm, một tên lính gác đứng cô độc trong góc tối, ngẩng đầu nhìn hai hành tinh trên trời giao nhau, thờ ơ suy đoán xem chuyện này có thể mang lại vận may gì cho mình.

Một âm thanh rất khẽ vang lên, âm lượng như tiếng muỗi ngáp.

Tên lính gác nhìn dọc theo con phố không bóng người, ánh mắt dừng lại ở một vũng bùn cách đó vài thước, nơi có thứ gì đó đang lấp lánh dưới ánh trăng. Hắn đi tới nhặt lên. Ánh trăng soi rõ vàng, hắn hít sâu một hơi, tiếng vang đủ để truyền vào trong ngõ.

Lại có tiếng động, lại một đồng tiền vàng nữa lăn vào rãnh thoát nước phía bên kia đường.

Vừa nhặt nó lên, lại một đồng nữa rơi xuống, xa hơn một chút và vẫn đang lăn. Hắn nhớ lại, người ta đồn rằng vàng là kết tinh từ ánh sáng của các vì sao.

Nếu không tận mắt chứng kiến, hắn mới không tin thứ quý giá như vàng lại có thể rơi từ trên trời xuống một cách tùy tiện như vậy.

Đi đến đầu ngõ đối diện, càng nhiều đồng tiền vàng cứ thế rơi xuống đất. Có những túi vẫn còn nguyên vẹn. Nhiều quá, nhiều quá...

Rincewind nện mạnh một túi vàng vào đầu tên lính gác.

Khi tên lính gác tỉnh lại, hắn phát hiện trước mặt mình là một phù thủy đang trợn mắt nhìn, tay cầm dao găm dí vào cổ họng hắn. Trong bóng tối còn có một thứ gì đó đang ngoạm lấy chân hắn.

Cú ngoạm này không hề bình thường, hắn cảm thấy nếu thứ đó muốn, nó còn có thể ngoạm mạnh hơn nữa.

“Người nước ngoài giàu có kia đang ở đâu?” Phù thủy nhỏ giọng hỏi, “Nói mau!”

“Thứ gì đang kẹp chân ta thế này?” Giọng tên lính gác đầy kinh hãi. Hắn muốn vùng ra, nhưng thứ đó càng ngoạm chặt hơn.

“Ngươi không biết thì tốt hơn.” Rincewind nói, “Nghe cho kỹ đây, người nước ngoài kia ở đâu?”

“Hắn không ở đây! Họ đưa hắn đến chỗ Broadman rồi. Ai cũng đang tìm hắn! Ngươi không phải là Rincewind đó sao? Đúng rồi, là cái rương đó, cái rương biết cắn người... Ồ đừng đừng đừng... cầu xin, cầu xin ngươi...”

Rincewind bỏ đi. Tên lính gác cảm thấy thứ ngoạm chân mình trong bóng tối cũng buông ra... Hắn bắt đầu sợ hãi... Thứ đó tự mình buông hắn ra. Khi hắn loạng choạng đứng dậy, một vật to lớn, nặng nề, vuông vức lao ra từ bóng tối, đụng ngã hắn rồi phóng như bay đuổi theo tên phù thủy. Thứ đó có hàng trăm cái chân nhỏ.

Chỉ dựa vào cuốn từ điển thông dụng tự chế, Twoflower cố gắng giải thích cho Broadman hiểu cái gọi là “Bảo hiểm” bí ẩn đó là gì. Ông chủ quán béo tốt chăm chú lắng nghe, đôi mắt đen nhỏ li ti sáng lên.

Ở đầu bên kia cái bàn, Ymper thích thú quan sát họ, thỉnh thoảng lấy miếng thịt trong đĩa cho con quạ của mình ăn. Weisser đi lại quanh hắn.

“Đừng có đi đi lại lại nữa,” Ymper nói, mắt vẫn nhìn hai người đối diện. “Không cần nhìn cũng biết bộ dạng bồn chồn đó của ngươi. Stern. Ai có gan tấn công chúng ta ở đây chứ? Tên phù thủy hạng xoàng đó chắc chắn sẽ đến. Hắn không dám không đến. Hắn còn phải mặc cả với chúng ta nữa. Chúng ta nhân cơ hội bắt hắn, rồi vàng bạc, cái rương đều thu giữ hết.”

Weisser trừng mắt nhìn hắn, đấm mạnh một cú vào lòng bàn tay đeo găng đen.

“Ai mà ngờ được trên thế giới đĩa phẳng lại có nhiều gỗ lê trí tuệ đến thế?” Hắn nói, “Chúng ta đâu có ngờ được?”

“Đừng đi đi lại lại nữa, Stern. Lần này, ngươi chắc chắn sẽ làm tốt hơn.” Ymper bình thản nói.

Cấp phó của hắn hừ lạnh một tiếng đầy chán ghét, sải bước đi sang phía bên kia căn phòng để gây sự với đám thuộc hạ. Ymper tiếp tục nhìn vị khách du lịch kia.

Thật kỳ lạ, gã lùn này dường như không hề nhận ra mình đang ở trong tình thế nguy hiểm. Ymper đã vài lần thấy hắn nhìn quanh, trên mặt lộ vẻ vô cùng mãn nguyện. Hắn còn thao thao bất tuyệt với Broadman không dứt. Ymper chú ý thấy họ đang trao đổi một mảnh giấy, sau đó Broadman đưa cho người nước ngoài này một đồng tiền vàng. Điều này thật quá kỳ quặc.

Broadman đứng dậy, loạng choạng đi ngang qua chỗ Ymper ngồi. Tên trùm trộm Ymper đột nhiên vươn một cánh tay ra, như chiếc kìm thép bật mở, túm chặt lấy tạp dề của ông chủ béo.

“Này anh bạn, vừa nãy nói chuyện gì thế?” Ymper bình thản hỏi.

“Không... không có gì, Ymper. Chuyện riêng chút thôi.”

“Giữa bạn bè với nhau thì không nên giữ bí mật chứ, Broadman.”

“Phải. Nhưng, nói thật, bản thân tôi cũng chưa hiểu rõ lắm. Thứ này hình như là một kiểu cá cược, ông hiểu chứ?”

Ông chủ nói một cách căng thẳng, “Họ gọi đó là ‘Bảo hiểm’, hình như là cá cược rằng quán Rượu Trống sẽ không bị cháy.”

Ymper nhìn ông ta, chằm chằm khiến Broadman thấy lạnh sống lưng, toàn thân run rẩy. Sau đó, tên trùm trộm bật cười.

“Cái chỗ rách nát đầy mọt này, lúc nào mà chẳng cháy được.” Hắn nói, “Người này chắc chắn bị điên rồi.”

“Phải, nhưng dù có điên thì cũng là một gã điên giàu có. Hắn nói bây giờ hắn đã có được ‘Bảo... bảo...’ không nhớ ra từ đó, tóm lại là bắt đầu bằng chữ Bảo, ý nghĩa tương đương với việc chúng ta đặt cược. Nếu Rượu Trống thực sự bị cháy rụi, thì nơi hắn làm việc ở Đế quốc Agate sẽ trả tiền cho tôi. Tôi cũng không mong nó cháy thật đâu. Rượu Trống, ý tôi là... ý tôi là... đây là nhà của tôi, Rượu Trống...”

“Xem ra, ngươi vẫn chưa ngu đến mức đó.” Ymper nói rồi đẩy ông chủ ra.

Cửa quán rượu bật mở mạnh, gần như đập vào tường.

“Này, đây là cửa của tôi đấy!” Broadman gầm lên. Sau đó nhìn rõ ai đang đứng trên đỉnh cầu thang, liền nhanh chóng cúi người, nấp sau một cái bàn, suýt chút nữa tránh được một chiếc tiêu đen bay tới. Chiếc tiêu đen “bộp” một tiếng, cắm phập vào bàn gỗ.

Ymper mở thêm một chai bia, động tác rất chậm rãi.

“Đến uống với ta vài ly đi, Zloty?” Hắn thản nhiên mời gọi, “Mau cất kiếm đi, Stern. Zloty chân to là bạn của chúng ta.”

Tên cầm đầu hội sát thủ xoay ống thổi tiêu trong tay một cách linh hoạt, rồi nhanh gọn nhét nó vào bao da.

“Stern!” Ymper quát.

Tên cướp số hai mặc đồ đen rít lên trong miệng, tra kiếm vào vỏ, nhưng tay vẫn đặt trên chuôi kiếm, mắt chằm chằm nhìn tên cầm đầu sát thủ.

Lên làm lão đại hội sát thủ không phải là chuyện dễ dàng. Sự cạnh tranh vị trí bên trong hội sát thủ vô cùng khốc liệt, quan trọng nhất chính là “kinh nghiệm thực chiến” — tất nhiên, giết người thì ngoài kinh nghiệm thực chiến ra còn có thể là gì nữa chứ? Vì vậy, khuôn mặt rộng và thật thà của Zloty đơn giản là được ghép lại từ những vết sẹo — kết quả của nhiều lần cận chiến.

Tuy nhiên, khuôn mặt đó vốn dĩ cũng chẳng đẹp đẽ gì cho cam. Người ta đồn rằng sở dĩ Zloty chọn cái nghề mặc đồ đen đeo mũ đen, lén lút vào ban đêm này là vì bố mẹ hắn có dòng máu quỷ khổng lồ, sợ ánh sáng. Nếu lời này truyền đến tai Zloty, kẻ truyền tin sẽ phải dùng mũ hứng lấy đôi tai của mình mà về nhà.

Zloty từ từ đi xuống cầu thang, theo sau là vài sát thủ. Hắn đứng trước mặt Ymper: “Ta đến tìm gã khách du lịch kia.”

“Việc này có liên quan gì đến ngươi, Zloty?”

“Tất nhiên là có. Grinneu, Earmund — bắt hắn.”

Hai sát thủ bước lên. Stern chặn họ lại, thanh kiếm trong tay xuất hiện cách cổ họng họ khoảng một tấc, tốc độ nhanh đến mức như thể không khí không có lực cản.

“Ta đoán mỗi lần chỉ có thể giết một đứa.” Hắn nói nhỏ, “Các ngươi tự tính toán xem, ai lên trước?”

“Ngẩng đầu lên nhìn đi, Zloty.” Ymper nói.

Trong bóng tối phía trên xà nhà, một hàng mắt vàng hung ác đang nhìn xuống.

“Ngươi tiến thêm một bước nữa, lúc về sẽ thiếu mất một con mắt đấy.” Tên trùm trộm nói, “Hay là ngồi xuống uống một ly đi, Zloty, chúng ta nói chuyện đàng hoàng. Ta nhớ trước đây chúng ta đều đã thỏa thuận: ngươi không cướp người, ta không giết người — ý là, không giết người vì tiền, không kiếm số tiền này.” Hắn dừng lại, nói thêm một câu.

Zloty cầm lấy cốc bia được đưa tới.

“Thì sao chứ?” Hắn nói, “Ta chỉ muốn giết hắn, giết xong rồi ngươi muốn cướp hắn thì cướp. Gã trông quái dị đằng kia là hắn phải không?”

“Đúng vậy.”

Zloty nhìn chằm chằm Twoflower, Twoflower nhe răng cười với hắn. Zloty nhún vai. Hắn chưa bao giờ suy nghĩ tại sao có người lại muốn người khác chết, đó chỉ là công việc của hắn mà thôi.

Dịch Thuật: Gemini & DeepSeek AI
Nguồn: Việt Nam Thư Quán
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 19 tháng 7 năm 2026

« Lùi Tiến »