Khoảnh khắc phóng túng

Lượt đọc: 56 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
Chương 18
Phiên tòa sơ thẩm đầu tiên

❊ ❊ ❊

Những ngày này, tôi nghe thấy sự bất mãn của người dân địa phương đối với vụ án của de Marigny, đặc biệt là những người bản địa tại Nassau. Sự phẫn nộ này suýt chút nữa đã thúc đẩy họ tấn công nhà tù. Thế nhưng vào buổi sáng thứ Ba nóng nực cuối tháng Bảy này, tại quảng trường bên ngoài Tòa án Tối cao thuộc địa, đủ hạng người đều tụ tập đông đúc—từ những người bán mũ cỏ ngoài chợ cho đến những ông chủ các cửa hiệu lớn trên đại lộ ven biển. Họ tràn đầy vẻ phấn khích như thể đang đón lễ hội, cứ như thể đang đứng chờ một vở kịch hay sắp công chiếu tại nhà hát, chứ không phải đang đứng trước cổng tòa án.

Bên trong tòa, "vở kịch hay" đang được trình diễn chính là phiên tòa sơ thẩm của de Marigny. Anh ta đứng trong vành móng ngựa. Đối diện với anh ta, một thẩm phán mặc quân phục đen, đội bộ tóc giả lấm tấm phấn trắng với khuôn mặt âm trầm, đang đọc bản cáo trạng. Tội danh của de Marigny là "cố ý và bất hợp pháp" gây ra cái chết cho ông Harry Oakes.

Freddy mặc một chiếc áo khoác hai hàng khuy màu nâu đầy bảo thủ, râu cạo sạch sẽ, thậm chí còn ánh lên sắc xanh ở cằm. Anh ta đang dùng ngón cái mân mê chiếc cà vạt sặc sỡ, lấy đầu cà vạt quẹt quẹt lên mũi, toát ra vẻ tự tin.

"Tên đầy đủ của anh là gì?" Vị thẩm phán hỏi từ sau bàn xét xử.

"Marie Freddy Fouquereaux de Marigny." Freddy từng chữ một trả lời thẩm phán.

"Tôi là đại diện cho phía nguyên đơn." Một giọng nói kéo dài vang lên trong đại sảnh tòa án, tạo nên những tiếng rì rầm cộng hưởng. Một người đàn ông da đen cao lớn đứng dậy từ phía bàn luật sư, ông ta mặc áo choàng đen và đội tóc giả. Cách dùng từ chuẩn xác cùng giọng Anh thuần túy của ông ta hoàn toàn đối lập với gương mặt và làn da châu Phi, nhưng lại hòa quyện vào nhau một cách kỳ diệu. Ông ta chính là Adderley, luật sư nổi tiếng nhất Nassau. Ông ta chưa từng thua trong bất kỳ vụ án giết người nào, và hiện tại là luật sư nguyên đơn trong vụ án của Freddy.

"Tôi là luật sư của bị cáo." Higgs đứng dậy nói. Bộ khung xương vạm vỡ, đậm chất vận động viên của ông dường như đang thách thức luật sư nguyên đơn. Ông mỉm cười, nụ cười tràn đầy tự tin.

Hai cảnh sát mặc quân phục rườm rà đang đứng ngoài lồng giam, tay đắc ý vuốt ve tua rua của thanh trường kiếm đeo bên hông, tạo ra tư thế canh gác lồng giam một cách nghiêm túc. Đó là một cái lồng gỗ, dài sáu feet, cao năm feet. Freddy ngồi trên băng ghế gỗ bên trong, một cánh cửa sắt ngăn cách anh với thế giới rộng lớn bên ngoài.

Nếu bạn đứng đối diện với thẩm phán, cái lồng nằm ở bên trái pháp đình, đối diện với nó là bồi thẩm đoàn (vì là phiên sơ thẩm nên hiện tại chỗ đó trống không).

Khán phòng chứa được một trăm năm mươi người đã chật kín, đa số thính giả là người da trắng. Những người hầu da đen của họ đã đến đây xếp hàng từ trước bình minh để giữ chỗ cho chủ nhân. Nancy không có mặt ở đây, một lát nữa cô ấy sẽ xuất hiện với tư cách là nhân chứng. Lúc này, tôi ngồi ở hàng ghế đầu, làm tai mắt cho cô ấy.

Nơi gần khán giả nhất trong pháp đình, tức là khoảng trống giữa lan can và luật sư biện hộ, được nhét thêm hai chiếc bàn. Luật sư của Harry và hai cảnh sát Miami ngồi ở đó để giải đáp thắc mắc cho giới truyền thông. Tờ "Tin tức Chiến trường" đã dành một diện tích lớn cho vụ án thú vị này; các phóng viên từ New York, London và Toronto ngồi cùng với phóng viên địa phương tại Nassau; Hiệp hội Báo chí Quốc tế và Hiệp hội Phóng viên cũng cử đại diện tham dự. Jimmy Karklin đại diện cho "Tin tức Quốc tế" ngồi đó, sát cạnh Earl Garden, người đang nói chuyện khẽ với tôi.

"Anh đang tránh mặt tôi phải không, Heller?" Nhà văn viết truyện trinh thám nhỏ con và năng nổ này hỏi tôi. "Đúng vậy," tôi đáp.

Ông ta cười cay nghiệt, tiếp tục hỏi: "Adderley sẽ thẩm vấn lại nhân chứng của nguyên đơn chứ?"

"Tôi thực sự không biết. Tại sao ông ta lại không thẩm vấn chứ?"

Gương mặt tròn trịa của Earl nhăn lại một nụ cười gượng, đôi mắt sau cặp kính gọng vàng lấp lánh: "Ồ, nguyên đơn có nghĩa vụ cung cấp bằng chứng. Thông thường, trong phiên sơ thẩm như thế này, các luật sư biện hộ người Anh không thích hỏi quá nhiều."

"Nguyện vọng cá nhân của tôi là hy vọng Adderley cầm rìu hoặc súng phun lửa đuổi theo Christie."

Tôi lại khiến ông ta cười phá lên. Sau đó, chín giờ ba mươi phút, phiên tòa bắt đầu. Lúc này, tất cả đều im lặng, chỉ có giọng nói trầm thấp của luật sư và thẩm phán là thống trị khắp pháp đình. Còn những nhân chứng có vẻ do dự kia, đang từng chút một dùng các bằng chứng để thắt chặt sợi dây tử thần vào cổ de Marigny. Trong pháp đình ngột ngạt không chút khí lưu này, chỉ có tiếng vo ve của ruồi và tiếng chim đập cánh ngoài cửa sổ thỉnh thoảng vọng vào mới mang lại chút sức sống. Adderley đang giữ thái độ bình thản, tiến hành đặt câu hỏi cho nhân chứng theo trình tự bình thường của tòa án, lấy buổi sáng ngày xảy ra vụ án làm manh mối.

Nhân chứng đầu tiên xuất hiện là họa viên của Cảnh sát Hoàng gia, người đã vẽ lại sơ đồ hiện trường vụ án. Tiếp đó, nhiếp ảnh gia của Cảnh sát Hoàng gia treo bức ảnh phóng to của nạn nhân lên giá vẽ, bức ảnh giống như một tác phẩm nghệ thuật tàn khốc khiến những người trong khán phòng không khỏi hít hà. Pháp y Quickbus là một người đàn ông nhỏ nhắn, lạnh lùng, chỉn chu, ngoài bốn mươi tuổi, trông không có vẻ gì là dũng cảm như nghề nghiệp của ông ta. Ông ta mô tả cho mọi người nghe những gì nhìn thấy tại hiện trường vào sáng ngày 8 tháng 7, cũng như những chi tiết khủng khiếp thấy được trong phòng giám định pháp y: phía sau đầu ông Harry có bốn vết thương, đều là những lỗ nhỏ bằng cỡ chiếc bút chì xuyên qua hộp sọ ông Harry. Trong mô tả, ông ta bỏ qua phản ứng đầu tiên của chính mình khi nhìn thấy những vết thương đó, không nói rằng mình cảm thấy đó là vết đạn bắn. Khi trình bày về việc khám nghiệm tử thi, vị pháp y này nhắc đến việc "khi lấy chiếc mũ ngủ ra khỏi đầu nạn nhân, máu phun ra rất nhiều," và "dường như hộp sọ bị va chạm nhẹ, trước đó không hề chảy máu."

Tôi lập tức hiểu ra, đây là do lực của viên đạn giảm đi khi xuyên qua hộp sọ, tôi đoán có lẽ chúng vẫn còn nằm trong đầu ông Harry. Chắc chắn là lúc kiểm tra đã không phát hiện ra, và cũng sẽ không bao giờ được tìm thấy nữa, bởi vì ông Harry hiện đang yên nghỉ trong một chiếc quan tài dài sáu feet ở Maine. Pháp y còn nói: "Trong dạ dày ông Harry có khoảng bốn ounce chất lỏng dính màu hơi tối, chưa xác định là chất gì." Ông Harry bị hạ độc, hay bị gây mê bằng thuốc?

Tôi lấy sổ tay ra khỏi túi, ghi lại bằng chứng này. Khi tôi đang ghi chép, một người phụ nữ quyến rũ đứng dậy, cô ta chính là "người đàn bà lẳng lơ" đó. Cô ta mô tả mình là "người phụ nữ rút lui khỏi chiến trường Anh cùng hai đứa con", tôi lại thấy cô ta là một mỹ nhân tóc vàng chín chắn, dưới sự tôn lên của trang phục và chiếc mũ vừa vặn, vóc dáng cực kỳ hoàn hảo. Nếu cô ta là tình nhân của Harold Christie, thì gã cóc ghẻ kia đúng là một kẻ may mắn!

Lời khai của cô ta là chiều hôm đó cô ta chơi tennis với Harbord, sau đó ăn tối cùng Harold Christie và ông Harry Oakes tại Westbourne. Điều này chẳng mang lại tiến triển gì cho vụ án. Cô ta chỉ liệt kê đơn giản tình hình ngày xảy ra vụ án.

Nhân chứng mỹ nhân tiếp theo ra tòa là Dorothy Clark tóc vàng và Jenny Ashley da hơi ngăm, họ chính là vợ của hai phi công mà Freddy đã hộ tống về nhà trong đêm mưa. Trong bộ dạng quần áo và mũ mới, họ trông cực kỳ xinh đẹp. Hai vị phu nhân xác nhận một cách khẩn thiết và chính xác rằng, Freddy ở nhà mình vào đêm xảy ra vụ án. Tôi không được tòa án triệu tập làm chứng. Tôi đang đứng về phía Freddy, dường như chưa cần tôi phải ra mặt, nói về chuyện theo dõi người tình không tồn tại của anh ta. Có lẽ, tôi nên đứng ra, xác nhận với tòa án rằng, vào đêm ngày 7 tháng 7, hành vi của de Marigny hoàn toàn không giống một kẻ muốn chấm dứt cuộc sống tươi đẹp của mình để chuẩn bị đi làm sát nhân.

Lời khai của hai mỹ nhân kia không mang lại ảnh hưởng xấu nào cho Freddy, dù sao thì những gì họ nói cũng khớp với lời khai của chính Freddy. Điều tồi tệ là lời khai của cảnh sát Wendel Peck, ông ta nói rằng vào lúc bảy giờ ba mươi sáng ngày 8 tháng 7, de Marigny đến đồn cảnh sát để đăng ký mua một chiếc xe tải cho trang trại gà của mình.

"Anh ta đến trong trạng thái rất phấn khích," viên cảnh sát nói, "đôi mắt anh ta thậm chí còn lồi ra vì phấn khích."

Trong lồng giam, đôi mắt của de Marigny lúc này cũng lồi ra, dường như đang cảm thấy tức giận vì lời khai ngu xuẩn này. Nhưng tôi biết, bồi thẩm đoàn sẽ cho rằng anh ta xuất hiện tại đồn cảnh sát một cách lo âu, phấn khích ngay ngày hôm sau khi vụ giết người xảy ra là vì anh ta đang căng thẳng xem xác của ông Harry đã bị phát hiện hay chưa.

Nhân chứng tiếp theo là Marjorie Bristol mà tôi rất quen thuộc, cô mặc chiếc váy hoa đỏ trắng xinh đẹp nhưng mong manh đứng trên bục nhân chứng. Cô đứng thẳng người, không dựa vào lan can, kể lại những gì mình thấy một cách đơn giản, rõ ràng: Đêm đó chuẩn bị sẵn đồ ngủ cho ông Harry, buông màn; sáng hôm sau, nghe thấy tiếng thét của Christie.

Higgs đứng dậy, phá vỡ sự giáo điều cứng nhắc của luật sư Anh tại tòa, thẩm vấn Marjorie một cách ngắn gọn súc tích.

"Cô Bristol, cô từng nói mình đã đặt một chai thuốc diệt côn trùng trong phòng ngủ của ông Harry đúng không?"

"Vâng, thưa ông."

"Tại sao lại làm vậy?" "Vì ông Harry bảo tôi đặt thuốc diệt côn trùng trong phòng." "Lúc đó trong chai còn bao nhiêu thuốc?"

"Ừm, tôi đã đổ đầy nó vào tối hôm trước." "Ngày hôm đó cô có dùng nó không?" "Có, nhưng tôi phải nói rõ là thuốc diệt côn trùng chỉ còn lại nửa chai."

"Cảm ơn cô, tôi không còn câu hỏi nào khác." Cô ấy đi ngang qua tôi, ánh mắt chúng tôi chạm nhau. Tôi mỉm cười với cô ấy, nhưng cô ấy lại tránh né nụ cười của tôi, ngẩng cao cằm. Hai chiếc quạt trần trên cao bất lực đập vào bầu không khí oi bức, trong pháp đình và khán đài đâu đâu cũng thấy những chiếc quạt điện nhỏ đang quay vù vù, nhưng chiếc áo sơ mi mặc bên trong áo khoác của tôi vẫn dính chặt vào da như giấy bắt ruồi. Hai nhân chứng tiếp theo là hai cảnh sát địa phương, họ đeo rất nhiều huân chương, đứng trên bục nhân chứng, lạnh lùng như một ly sữa lắc đá.

Hai người này nói đại khái giống nhau. Họ là những người đứng gác tại Westbourne sau khi xác chết được phát hiện, giọng điệu của cả hai đều rất kỳ lạ. Lời khai của họ lại cực kỳ tồi tệ đối với de Marigny.

Họ đều nói: "Tôi đã nhìn thấy de Marigny và Melchen ở dưới lầu vào lúc ba giờ rưỡi chiều."

Đó là ngày 9 tháng 7. Sáng hôm đó, tấm bình phong Trung Hoa bị cháy sém được khiêng ra khỏi phòng ngủ của ông Harry, đặt ngoài đại sảnh. Và hai cảnh sát Miami đó đã tiến hành kiểm tra vân tay trong phòng.

"Lúc đó, cảnh sát Baker vừa làm xong việc kiểm tra vân tay." Họ nói. Sau bàn phỏng vấn báo chí, Earl cau mày, đang trừng mắt nhìn tôi, tôi cũng đáp lại ông bằng vẻ mặt tương tự. Chúng tôi đều cảm thấy vấn đề đã được đưa ra bàn cân. Freddy trong lồng giam cũng cau mày, chậm rãi lắc đầu.

Trong giờ nghỉ trưa, tôi cùng Nancy và bạn cô ấy, phu nhân Diana, ngồi trong nhà hàng của khách sạn British Colonial. Khi tôi thuật lại lời khai của những nhân chứng nam nữ đó cho họ nghe, Nancy cũng đau khổ lắc đầu chậm rãi.

"Họ nói như vậy có nghĩa là gì?" Nancy lo lắng hỏi lớn. Cô mặc bộ đồ thể thao màu trắng đơn giản, dưới chiếc mũ cỏ rộng vành màu trắng, hai dải lụa trắng buộc dưới cằm. Bộ trang phục trẻ con này không hề làm giảm đi sức quyến rũ của cô.

"Không ổn." Di nói một cách vô ích. Cô nhướng mày, nâng ly, nhấp một ngụm rượu Gin bằng đôi môi tím sẫm. Cô mặc chiếc váy xếp nếp ôm sát màu xanh lam rực rỡ, giữa đôi gò bồng đảo cao vút là một hàng khuy bạc trang trí, kéo dài đến tận eo, trông như đeo một hàng huy chương. Cô đeo găng tay trắng và đội khăn trùm đầu trắng, mái tóc vàng óng ả được bao gọn trong khăn.

Tôi múc một thìa súp ốc, qua làn hơi nóng bốc lên, tôi nói: "Tôi nghĩ vân tay có thể đã được lấy từ tấm bình phong."

"Vậy thì sao chứ?" Nancy nôn nóng hỏi.

Tôi đáp: "Như vậy, họ sẽ chứng minh được rằng, khi Freddy bị thẩm vấn tại Westbourne, anh ta đã không chạm vào tấm bình phong đó, vân tay là do để lại vào lúc khác."

Di dường như cau mày đầy hứng thú, nói: "Vậy Freddy nói thời gian anh ta lên lầu bị thẩm vấn là mấy giờ?"

Tôi lấy sổ tay ra tra cứu rồi nói: "Khoảng mười một giờ rưỡi sáng hôm đó."

Nancy ngồi rướn người lên, sốt sắng nói: "Chúng ta có thể đánh bại họ không?"

Tôi gật đầu, nói: "Nếu lời khai của Freddy có thể được ủng hộ bởi các đương sự khác cũng bị thẩm vấn tại Westbourne lúc đó, giống như vợ của hai phi công không quân kia, chúng ta có thể đánh bại họ, dù đó là nhân vật lớn như Công tước Windsor."

Nancy bối rối hỏi: "Nhân vật lớn như Công tước Windsor sao?"

Tôi mỉm cười đáp: "Chính là thế lực quý tộc hoàng gia."

Di vẫn cau mày, nói: "Tại sao hai người phụ nữ đó lại bị đưa đến Westbourne để hỏi chuyện? Sao không phải là ở đồn cảnh sát?"

Tôi nhún vai: "Đây là trò của hai gã Miami đó, đôi khi, cảnh sát tồi thường lười biếng như vậy." Tôi nhìn Di cười, "Nếu danh sách khách mời được đăng trên báo, bữa tiệc cô tổ chức cuối tuần này sẽ càng đặc sắc hơn."

"Đúng vậy." Di cười lẳng lơ nói. Cô giơ ngón tay đeo găng lên phía người phục vụ da đen, gọi thêm một ly rượu Gin nữa.

"Cô biết đấy," tôi cười khổ với Nancy, "nếu có thể quay lại khách sạn British Colonial ở, chấm dứt cuộc sống lang bạt gần đây, tôi sẽ thấy tốt hơn."

"Phòng khách nhà Higgs làm anh cảm thấy không thoải mái sao?" Cô ấy quan tâm hỏi.

"Ở đó rất tốt, tôi chỉ sợ gây phiền phức cho vợ và con ông ấy." Dưới gầm bàn, tôi cảm thấy có một bàn tay thon thả đặt lên đùi mình.

"Tôi có một phòng khách," Di nói một cách tùy ý, "ở Shangri-La... nếu anh không ngại mỗi lần ra ngoài phải đi ca nô năm phút thì đến đó ở đi."

Tay cô ấy đặt trên đùi tôi như vậy, sao tôi có thể từ chối?

"Vậy thì tốt quá," tôi nói, "tôi chỉ sợ gây bất tiện cho cô."

Cô ấy dùng sức xoa mạnh một cái lên đùi tôi, trong hành động này yếu tố tình bạn thậm chí còn nhiều hơn cả tình dục, nhưng thế này đã đủ gợi cảm để khiến tôi động lòng.

"Không sao," cô ấy nói bằng giọng điệu kiểu Anh đó, "anh sẽ được chào đón nồng nhiệt."

"Tôi nghĩ đây là một cách vừa đơn giản vừa phù hợp," Nancy phấn khích đến mức mắt sáng rực lên, nói, "Tôi dành một nửa thời gian để tiêu tốn ở đó với Di. Nếu anh ở đó, chúng ta có thể lập kế hoạch hoặc thảo luận về diễn biến vụ án bất cứ lúc nào."

Bàn tay dưới gầm bàn đã rời khỏi đùi tôi.

"Được thôi," tôi nói, tôi nheo mắt, tặng Di một ánh nhìn đặc biệt, nói: "Tôi rất vui lòng đến đó ở."

"Thật tuyệt." Di nói, dùng đôi mắt xanh như bầu trời Bahamas của cô đón lấy ánh nhìn của tôi, cũng tặng lại tôi một cái nháy mắt.

"Quan trọng nhất là, tôi muốn biết, tại sao bất cứ ai ở Nassau cũng sẽ không từ chối lời mời của cô."

Cô ấy mỉm cười, rồi đột ngột đông cứng nụ cười, giật lấy ly rượu Gin đáng lẽ phải được đưa đến từ sớm từ tay người phục vụ, khiến người phục vụ vừa kinh ngạc vừa khó hiểu trước hành vi có phần thô lỗ này.

Nancy tinh ý đứng ra giải vây, nói với tôi: "Nate, anh nghĩ còn ai có thể ra làm chứng hôm nay nữa?"

Tôi nói: "Người duy nhất có thể xâu chuỗi mọi chuyện từ đầu đến cuối chỉ có một, đó là Harold, chỉ có thể trông chờ vào ông ta thôi."

Harold Christie đứng trên bục nhân chứng, hai tay nắm chặt lan can đến mức các khớp ngón tay trắng bệch như chiếc áo khoác vải lanh hai hàng khuy của ông ta. Trong khi trình bày lời khai, gã đàn ông nhỏ bé xấu xí này lắc lư trên bục nhân chứng như thể rất khó giữ thăng bằng. Sau khi xác định Christie là đại lý bất động sản lớn nhất Nassau trong gần hai mươi năm qua, Adderley yêu cầu ông ta trình bày về mối quan hệ với nạn nhân.

"Tôi coi ông Harry là một trong những người bạn thân thiết nhất của mình." Christie nói, nhưng điều này dường như không giống lời khai của nguyên đơn, ông ta dường như có ý bảo vệ chính mình. Mặc dù vậy, lời kể của ông ta về khoảng thời gian từ ngày đến đêm hôm xảy ra vụ án lại hỗn loạn và rời rạc, lật ngược lại lời khai trước đó: Ông ta nói chiều đánh tennis ở câu lạc bộ đồng quê, sau đó cùng vài vị khách ăn tối tại Westbourne. Sau bữa tối chơi cờ nhảy Trung Hoa với ông Harbord và bà Hannig cho đến mười một giờ họ mới rời đi. Trước khi ông và ông Harry đi ngủ, họ vẫn tán gẫu trong phòng ngủ của người sau. Khi ông về phòng mình, Oakes đã thay đồ ngủ lên giường, bắt đầu đọc báo. Harold thì về phòng ngủ của mình, trước khi ngủ cũng đọc sách hơn nửa tiếng.

Dưới sự chất vấn đầy kính trọng, thậm chí có phần nịnh nọt của Adderley, Christie dần bình tĩnh lại, tiếp tục trình bày với giọng điệu ổn định, tự nhiên: Ông nói đêm đó tỉnh dậy hai lần, một lần là dậy đập muỗi, một lần khác là bị tiếng sấm sét làm giật mình. Nhưng hoàn toàn không nghe thấy động tĩnh gì từ phòng ông Harry, càng không ngửi thấy mùi khói.

Sáng hôm sau, khi phát hiện ông Harry không chờ ông ở hành lang như thường lệ, ông lớn tiếng gọi: "Này! Harry!" nhưng không có hồi âm. Ông đi đến phòng ngủ của Harry, phát hiện người bạn của mình gần như bị cháy đen, còn chiếc giường thì vẫn đang âm ỉ cháy.

"Tôi nâng đầu ông ấy lên, cố sức lắc mạnh, nhưng không có phản ứng. Tôi cầm lấy một cái cốc trên bàn cạnh giường, rót ít nước, cố gắng cho ông ấy uống." Christie lấy từ túi sau quần ra một chiếc khăn tay, lau mồ hôi trên trán, tiếp tục nói: "Tôi lấy chiếc gối từ chiếc giường khác trong phòng, kê đầu ông ấy cao lên, rồi lấy một chiếc khăn, thấm ướt, lau mặt cho ông ấy, hy vọng có thể làm ông ấy tỉnh lại."

Trong cái lồng sắt đó, gương mặt của de Marigny đầy vẻ hoài nghi. Anh bối rối nhìn tôi, tôi nhún vai với anh. De Marigny và tôi từng đến hiện trường vụ án, những người có mặt cũng đều có thể nhìn thấy tình trạng thi thể lúc đó từ bức ảnh phóng to, hành vi của Christie thật khó tin, người nhìn thấy thi thể ông Harry mà cho rằng ông ấy còn sống thì dường như không có tư duy bình thường.

Nhưng rất nhanh, một chuyện khác lại thu hút sự chú ý của tôi: Trong nỗi sợ hãi tột độ, Christie làm sao, hay nói cách khác là bất kỳ ai làm sao có thể nói rõ ràng rằng mình chỉ đi đúng mười tám bước tại hiện trường vụ án?

Không lâu sau, Adderley đã chuẩn bị kỹ lưỡng liền dùng tiếng Anh chuẩn như súng liên thanh để chất vấn Christie, giọng ông ta vang dội khắp pháp đình: "Ông có quen bị cáo de Marigny không?"

Hai chân Christie trên bục nhân chứng như đứng không vững, lắc lư gật đầu nói: "Quen, tôi nghĩ từ khi anh ta mới đến Nassau là tôi đã quen rồi."

"Lần cuối cùng ông gặp bị cáo là khi nào?"

"Khoảng hai tuần trước, anh ta muốn tôi giúp bán một bất động sản của anh ta, vì anh ta sắp có một khoản chi tiêu lớn."

"Trong cuộc trò chuyện của hai người có nhắc đến tên Harry Oakes không, thưa ông?"

"Có, anh ta nói mối quan hệ giữa anh ta và ông Harry không mấy thân thiện."

"Anh ta có nhắc đến lý do bất hòa giữa họ không?"

"Không. Nhưng tôi nghĩ có rất nhiều lý do, ông Harry dường như cho rằng de Marigny không công bằng với vợ cũ của mình."

"Xin hãy nói chuyện khách quan hơn, thưa ngài." Higgs đứng dậy nói, giọng ông nghe chừng đã không thể nhẫn nhịn được nữa.

"Xin ông đừng kích động, ngồi xuống được không?" Adderley mỉm cười vẻ khiêm tốn với Higgs, rồi quay sang nhân chứng của mình đề nghị: "Ông có thể nói chuyện một cách nghiêm túc được không, thưa ông? Đừng nói ý kiến cá nhân của ông, hiện tại phía bị cáo đã đưa ra phản đối đối với lời khai của ông."

Christie lại gật đầu, tiếp tục nói: "Lúc đó, anh ta nói với tôi rằng, từ ngày anh ta kết hôn với Nancy Oakes, ông Harry đã không công bằng với anh ta. Harry có chút lạnh lùng thái quá."

"Tôi hiểu rồi. Trước khi ông Harry Oakes bị sát hại, đây là lần cuối cùng ông nói chuyện với de Marigny sao?"

"Không, đây là lần cuối cùng tôi nhìn thấy de Marigny. Sáng ngày 7 tháng 7 tôi còn gọi điện cho anh ta một lần."

"Chính là ngày xảy ra vụ án vào buổi tối đó phải không?" Adderley đặt một câu hỏi mang tính phô trương.

"Đúng vậy." Christie nói, "de Marigny muốn tôi giúp anh ta lấy một giấy phép chăn nuôi gia cầm."

“Vào thời điểm đó, bị cáo không hề mời ông đến nhà hắn ở phố Victoria để dùng bữa tối vào tối hôm đó sao?”

“Không, hắn không mời tôi.”

“Hắn không hề mời ông một cách tùy hứng ư? Có lẽ ông đã quên lời mời không chính thức của hắn rồi chăng?”

“Nếu De Marigny có mời tôi, tôi chắc chắn sẽ nhớ.”

De Marigny tức giận áp chặt mặt vào những thanh sắt của lồng giam, như thể muốn phá cũi lao ra để quyết đấu với Christie. Đôi mày hắn nhíu chặt lại. Trong quá trình đối chất tại tòa, Christie và De Marigny đã hoàn toàn ở thế đối đầu gay gắt.

Tiếp đó, Christie tiếp tục mô tả lại việc sau khi vụ án xảy ra, hắn đã gào thét bảo Marjorie gọi điện cho bác sĩ pháp y và Đại tá Lindop như thế nào, cùng với tất cả những gì diễn ra sau đó, và tại sao lại mời hai viên cảnh sát Miami kia. Hắn hoàn toàn không hề nhắc đến mối liên hệ giữa vụ án này và Công tước xứ Windsor.

Đến lượt Higgs đặt câu hỏi, tôi rất muốn xem nỗ lực của ông trong việc phá vỡ những giáo điều của giới luật pháp Anh.

“Ông Christie, khi ông lắc đầu ông Harry, mắt ông ấy đang mở hay nhắm?”

Christie dùng chiếc khăn tay đã sũng mồ hôi lau mặt lần nữa, nói: “Tôi không nhớ rõ.”

“Tất cả chúng ta đều đã thấy ảnh chụp nạn nhân lúc đó, tại sao ông lại cho rằng ông ấy còn sống?”

“Tôi cảm thấy ông ấy vẫn còn một chút hy vọng, bởi vì cơ thể ông ấy vẫn còn ấm.”

“Tôi cũng sẽ nghĩ như vậy, vì dù sao thì cũng có hỏa hoạn mà.”

“Tôi phản đối.” Adair lớn tiếng nói.

“Tôi rút lại lời vừa rồi.” Higgs nói, nở một nụ cười trẻ con với đối thủ, rồi hỏi tiếp: “Ông Christie, ông có thể giải thích tại sao trong phòng ngủ và phòng vệ sinh của ông đều có vết máu không?”

“Khi tôi lắc ông Harry, máu đã dính vào tay tôi.”

“Máu cũng dính vào ga trải giường trong phòng ngủ của ông sao?”

Hắn nuốt nước bọt cái ực, dựa vào hàng rào để giữ thăng bằng, nói: “Tôi đã nói rồi, nửa đêm tôi dậy lấy tạp chí đập chết mấy con muỗi.”

“Vậy ra, vết máu trên ga giường của ông chỉ đến từ xác của mấy con muỗi đó thôi sao.”

De Marigny lùi lại vào giữa lồng, cười rồi ngồi xuống. Giờ trông hắn rất thoải mái, trong miệng ngậm một que diêm, khẽ cắn lấy.

“Tôi có thể khẳng định chắc chắn là như vậy.” Christie xoắn ngón tay vào chiếc cà vạt hiệu "Eterna", lo lắng nói. Sự hoảng loạn của hắn rất có lợi cho chúng tôi.

Higgs lại cười, nhưng nụ cười không còn vẻ trẻ con nữa. Ông tàn nhẫn đẩy Christie vào tình thế khó xử.

“Từ lời của ông, tôi có thể rút ra kết luận như thế này,” Higgs nói, “Ngày 7 tháng 7, Bá tước De Marigny quả thực đã mời ông đến nhà ở phố Victoria để ăn tối.”

“Không, không hề, hắn không mời tôi.” Christie gần như hét lên.

“Thưa tòa, tôi không còn câu hỏi nào khác.” Higgs nói với vẻ mỉa mai, rồi quay trở về chỗ ngồi.

Quần áo của Christie ướt sũng mồ hôi, hắn lùi dần ra khỏi bục nhân chứng, lảo đảo bước ra khỏi tòa án – hắn là một nhân chứng thất bại, lời khai của hắn không thể khiến Freddy bị kết tội, cũng chẳng thể chứng minh bất cứ ai có tội, ngoại trừ chính bản thân hắn.

Tôi thầm cười trong lòng, tự nhủ: Hừ, Harold, nếu ông cảm thấy những câu hỏi này làm ông khó chịu, không phục, thì cứ đợi đến khi phiên tòa kết thúc đi. Chúng ta vẫn còn một nhân chứng khiến ông phải bẽ mặt hơn nữa, Đại úy Hills sẽ ra làm chứng trước tòa, chỉ ra rằng vào nửa đêm hôm đó, chính ông đã lái xe chạy trên đường phố Nassau…

Nhân chứng tiếp theo là Đại úy Mertz, người đứng đầu cơ quan điều tra của Sở cảnh sát Miami. Đối với gã thấp béo vô liêm sỉ này, cái chức danh đó quả thực quá tầm. Cái mũi khoằm của hắn rất nổi bật trên khuôn mặt, cái chóp mũi sưng tấy trông như một củ khoai tây đã nấu chín. Tuy nhiên, may mắn cho hắn là trận đòn tôi dành cho hắn mấy ngày trước không để lại dấu vết gì trên mặt.

Adair luôn thể hiện sự tôn trọng quá mức đối với thân chủ của mình, hắn cố ý dẫn dắt nhân chứng mô tả hiện trường vụ án một cách chính xác, chi tiết. Còn Mertz, một kẻ lão luyện trong nghề, đã nỗ lực phối hợp với hắn, dùng chất giọng miền Nam uể oải đó để tô vẽ lời khai trở nên sinh động đến mức nực cười, gần như là một sự sáng tạo văn học về hiện trường vụ án.

“Những bộ phận bị cháy sém đã che giấu những bằng chứng tội ác tiềm tàng, điều này cho chúng ta biết rằng, kẻ sát hại ông Harry có lẽ sẽ không bị đưa ra ánh sáng.” Mertz nói tại tòa. Chiếc quần dài rộng thùng thình đung đưa theo nhịp cơ thể, như thể đang thực hiện màn trình diễn cuối cùng.

Phía sau bàn báo chí, ánh mắt Garden đảo một vòng, buột miệng nói: “Trước khi bị sát hại, ông Harry chắc hẳn đã nắm lấy lan can cầu thang, giãy giụa muốn dựa vào tường để phản kích. Nhưng hung thủ đã giết ông ấy, rồi kéo xác ông ấy trở lại phòng.”

Higgs không hề quan tâm đến lời của ông ta, chỉ cho đó là những lời nhảm nhí của tiểu thuyết gia (nhưng sau này chính lời nói đó lại được chứng minh là có lý, còn lý thuyết hoang đường nực cười của Mertz cũng bị vạch trần vào lúc đó. Lời khai lần này của hắn còn phải bị đem ra điều tra lại trong phiên tòa tiếp theo vì sự hoảng loạn của chính hắn).

Adair hỏi chi tiết về việc Mertz thẩm vấn Freddy, và nhân chứng này tuyên bố rằng, "gã ngốc già đó" mà bị cáo liên tục nhắc đến chính là ông Harry; hơn nữa, bị cáo cũng căm ghét luật sư gia đình của nhà Oaks – người bạn cũ của tôi, Foskett, vì ông ta từng lấy được một lá thư "bẩn thỉu" từ người vợ cũ Rose của bị cáo, giao cho bà Oaks, gây ra một trận phong ba bão táp trong gia đình này.

De Marigny vẫn cắn que diêm, trông có vẻ rất vui vẻ, khiến mọi người cảm thấy rằng, hắn tuyệt đối không thể nói những lời đó với một cảnh sát điều tra.

Sau khi cố gắng tô vẽ việc Freddy "không hợp tác" như thế nào trong việc tìm kiếm bộ quần áo hắn mặc vào đêm xảy ra vụ án, Mertz nhấn mạnh lại thời điểm hắn điều tra là 3 giờ 30 phút chiều ngày 9 tháng 7.

Lời khai của hắn giống như bản ghi chép lời khai của hai viên cảnh sát da đen kia, cả hai hoàn toàn khớp nhau.

Higgs bước đến đối diện Mertz, nở nụ cười đầy châm biếm và hỏi: “Ông có thể xác định thời gian ông đưa ông De Marigny lên lầu không?”

“Tôi đã ghi chép lại lúc đó.” Mertz nói một cách trịnh trọng. Sau đó, hắn xin phép thẩm phán: “Tôi có thể xem sổ tay của mình với sự cho phép của ngài không?”

Thẩm phán trang nghiêm gật đầu.

Hắn rút một cuốn sổ tay nhỏ màu đen từ túi áo khoác, nhanh chóng lật bằng ngón tay, tìm đến trang đó và nói: “À, tìm thấy rồi, ngay đây: 3 giờ 30 phút chiều, là chiều ngày 9 tháng 7.”

Rất nhanh, nhân chứng cuối cùng của ngày hôm nay đã lên sàn – chính là viên cảnh sát cao gầy mang phong cách Hollywood, Baker. Hắn là quản lý phòng thí nghiệm tội phạm của Sở cảnh sát Miami, gã này ăn mặc trông khá khẩm hơn so với lần đụng độ với tôi trước đó. Theo sau hắn là hai viên cảnh sát da đen vạm vỡ mặc đồng phục, khiêng tấm bình phong Trung Quốc bị cháy sém ở hiện trường vụ án, đặt vào tầm mắt của ngài thẩm phán.

Mặc dù đang ngồi ở một góc, tôi vẫn có thể nhận ra qua khuôn mặt có vẻ bình tĩnh của Higgs rằng, ông cảm thấy tấm bình phong Trung Quốc này là một điềm xấu cho phiên tòa vốn đang thuận lợi của chúng tôi hôm nay.

Tôi lập tức nhận ra đây là bằng chứng mà Adair đã tìm ra, tuy không biết nói nhưng lại mang ý nghĩa kép: vẻ ngoài cháy đen của nó có thể khơi gợi sự đồng cảm vô hạn của mọi người đối với nạn nhân; và quân bài tẩy của Baker – bằng chứng vân tay cũng bắt nguồn từ nó. Nghiêm trọng hơn, Baker đã mời chuyên gia vân tay của tổ chức giám định quốc tế thuộc FBI đến giám định vân tay trên tấm bình phong, những chuyên gia này đều là những người có thẩm quyền nhất trong giới chuyên môn.

Lúc này, Baker đối diện với thẩm phán một cách vô cùng tao nhã, điềm tĩnh, bắt đầu giảng giải chuyên nghiệp về tính chất của vân tay.

“Trong hàng triệu dấu vân tay mà các chuyên gia trên khắp thế giới đã kiểm tra,” ngôn ngữ của Baker rất lưu loát và chuyên nghiệp, “không có bất kỳ hai dấu vân tay nào giống hệt nhau. Tôi cũng muốn khẳng định rõ ràng rằng, dấu vân tay của bất kỳ ai, cũng sẽ không có dù chỉ một chút tương đồng.” Hắn lấy kho lưu trữ năm mươi triệu dấu vân tay của FBI làm ví dụ để chứng minh quan điểm của mình, đồng thời giải thích cách thức lấy dấu vân tay. Hắn giảng giải cho mọi người về chức năng của bột lấy dấu và băng dính lấy dấu vân tay.

Trên giá bảng đen tại tòa, một viên cảnh sát da đen trước tiên trình bày cho mọi người bức ảnh phóng to của nạn nhân chụp tại hiện trường vụ án, trông vô cùng rùng rợn; sau đó, lại thay bằng một bức ảnh phóng to khổng lồ về dấu vân tay, trông như một tác phẩm trưng bày tại bảo tàng nghệ thuật hiện đại.

Adair hỏi: “Sĩ quan Baker, dấu vân tay này thuộc về ai?”

“Đây là dấu vân tay ngón út tay phải của Freddy De Marigny, được lấy sau khi hắn bị bắt. Thưa ngài thẩm phán, tôi có thể rời bục nhân chứng để đến trước giá bảng đen giảng giải không?”

“Tất nhiên là được.”

Baker cầm một viên phấn và một chiếc gậy chỉ, chỉ trỏ: “Dấu vân tay của De Marigny có mười ba đặc điểm.” Thẩm phán, phóng viên, khán giả dưới tòa, thậm chí cả chính De Marigny cũng đều bị cú ra đòn quyết định này làm cho kinh ngạc.

Khi hắn đánh dấu rõ ràng từng cái một trên bức ảnh phóng to đó, mười ba đặc điểm ấy cũng dần hiện rõ theo các con số và gạch dưới của hắn. Sau đó, hắn lại lấy ra một bức ảnh dấu vân tay phóng to đã được đánh dấu, gần như hoàn toàn giống hệt với bức ảnh này.

“Thưa Đại úy, đây lại là dấu vân tay của ai?” Adair hỏi.

“Đây là dấu vân tay ngón út tay phải mờ nhạt của De Marigny, được lấy từ bề mặt của tấm bình phong Trung Quốc đó.”

Tại tòa lập tức vang lên một tiếng xì xào, thẩm phán cũng bị màn trình diễn của Baker làm cho lay động, lớn tiếng duy trì trật tự. Gã cao gầy kia bước đến trước tấm bình phong, chỉ vào đỉnh bình phong và nói: “Tôi đã lấy bằng chứng từ đây.” Hắn không đợi Adair gợi ý mà tự động nói ra bằng chứng then chốt này, như thể đây là một màn trình diễn cực kỳ xuất sắc.

“Tôi đã từng đánh dấu vị trí này trước đó,” hắn nói tiếp, “Mọi người xem, chính là ở đây, tôi đã đánh dấu vào buổi sáng ngày 9 tháng 7. Tôi đã tìm thấy đủ loại dấu vân tay trên tấm bình phong này, đều vô cùng mờ nhạt, khó phân biệt. Nhưng sau khi kiểm tra kỹ lưỡng, cuối cùng tôi đã phát hiện ra năm dấu vân tay ẩn hiện, đó chính là dấu vân tay bàn tay phải của ông De Marigny.”

De Marigny không còn thong thả cắn que diêm nữa, que diêm đang ngậm trên môi, cơ thể hắn căng cứng trên ghế, mặt đỏ bừng lên.

“Ông đã lấy những dấu vân tay này vào thời gian nào?”

“Từ 11 giờ sáng đến 1 giờ chiều.”

Tôi liếc nhìn De Marigny, thầm cười trong lòng. Mắt hắn trừng lên, có khoảnh khắc hắn dường như hơi bối rối, nhưng rất nhanh, khóe miệng hắn lại nở nụ cười, que diêm lại được hàm răng hắn cắn cong lên.

Chúng tôi vẫn còn một chút dư địa.

Higgs không đứng cùng một chiến tuyến với tôi và Freddy. Trước khi Freddy bị đưa trở lại nhà tù, chúng tôi đã gặp nhau trong một căn phòng nhỏ tại tòa án, nơi luật sư có thể đối mặt riêng với thân chủ của mình.

“Ông nói với tôi là ông đã không đến Tây Uyển mấy tháng nay rồi cơ mà!” Higgs giận dữ nói, ông vẫn mặc chiếc áo choàng đen khi ra tòa, chỉ là đã tháo chiếc tóc giả màu trắng xuống.

De Marigny ngồi vắt chéo chân trên ghế, vẫn cắn que diêm đó, nói: “Tôi quả thực không đến, nếu tôi có chạm vào tấm bình phong đó, thì cũng là vào buổi sáng hôm đó.”

Higgs nhíu mày nói: “Buổi sáng hôm nào?”

“Sáng ngày mùng 9,” Freddy nói, “Khi tôi bị Mertz gọi lên lầu hỏi chuyện, khoảng 11 giờ rưỡi, tôi đi qua hành lang nên đã đi ngang qua tấm bình phong đó.”

“Ông có khả năng chạm vào nó không?”

“Tất nhiên.”

“Nhưng không chỉ Baker và Mertz, mà cả hai viên cảnh sát Nassau kia đều nói thời gian đưa ông lên lầu là 3 giờ 30 phút chiều.”

“Đúng, họ quả thực đã nói như vậy, nhưng sự thật thì sao?” Tôi nói.

Tôi đang ngồi trên cạnh bàn, Higgs nheo mắt, trừng nhìn tôi: “Ý anh là sao, Heller? Chẳng lẽ cả bốn viên cảnh sát này đều nói dối sao?”

“Đúng vậy, ở Chicago chúng tôi gọi đây là vu khống, thưa luật sư, đây quả thực là sự vu khống đáng xấu hổ.”

“Ông Heller nói đúng, Higgs.” De Marigny nói, đôi môi dày mím lại thành một nụ cười tự tin, “Và hãy nhớ rằng: khi tôi bị đưa lên lầu còn có những người khác chứng kiến – bà Clark, bà Ashley, và chính Đại tá Lindop! Ông ấy sẽ không nói dối đâu.”

“Phải, ông ấy sẽ không nói dối.” Tôi tán đồng.

Cơn giận của Higgs lúc này cuối cùng cũng tan biến, ông khôi phục lại nụ cười trẻ con, nói: “Điều này thật thú vị.”

Tôi đưa tay về phía Higgs, nói: “Để tôi xem bản sao ảnh dấu vân tay mà Adair đưa cho ông.”

Ông lấy ra từ cặp tài liệu đưa cho tôi.

Tôi cẩn thận nghiên cứu bức ảnh đó, rồi nói: “Tôi biết rồi.”

“Biết cái gì?” Higgs hỏi.

Sự chú ý của De Marigny cũng bị kéo lại, hắn đứng phắt dậy.

“Các người có chú ý đến nền của tấm bình phong Trung Quốc đó không? Đó là vân gỗ, có cả những vòng xoáy của tuổi gỗ. Nhưng hãy nhìn bức ảnh này đi, nhìn xem nền của nó là gì…”

Higgs cầm bức ảnh lên xem rồi nói: “Nó chẳng giống vân gỗ chút nào.”

“Đó là những vòng tròn theo quy luật.” Marigny nói.

Higgs bối rối hỏi: “Điều này có nghĩa là gì?”

Tôi không hề vu oan cho Baker, hắn làm giả quá mức chân thực. “Điều này có nghĩa là,” tôi nói, “Dấu vân tay trên bức ảnh này không hề được lấy từ tấm bình phong đó.”

[DeepSeek phụ dịch] C.7
Nguồn: Việt Nam Thư Quán
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 21 tháng 6 năm 2026