Giải cứu con gái riêng của Tổng thống (The President's Daughter)

Lượt đọc: 46 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
Chương 03

❊ ❊ ❊

Chiếc Learjet mà họ sắp sử dụng đang đậu trên sân đỗ trước một nhà chứa máy bay. Nó mang phù hiệu của Không quân Hoàng gia, trông rất chính quy. Hai phi công đứng đợi ở cửa nhà chứa máy bay, mặc bộ đồ bay của Không quân Hoàng gia có gắn quân hàm.

Sau khi chiếc xe Daimler-Benz dừng lại, Ferguson nói: "Mọi thứ đều ổn, rất có phong thái chính thức. Như vậy khi làm việc ở Malta sẽ thuận tiện hơn." Ông lấy từ trong túi ra một chiếc hộp da nhỏ đưa cho Hannah Bernstein. "Bên trong là một ống tiêm dưới da đã nạp sẵn thuốc. Chỉ cần tiêm một mũi vào cánh tay người bạn Hakim của chúng ta, dù hắn vẫn đứng vững, nhưng hắn sẽ mất ý thức, thậm chí không nhớ nổi thời gian. Đây là hộ chiếu giả mà tôi bảo Fjelde làm. Abdullah Karim, công dân Anh." Ông lại lấy từ túi áo trong ra một cuốn hộ chiếu khác đưa cho Riley, nói: "Đây là của cậu, hộ chiếu Ireland. Tôi nghĩ cái này hợp với giọng của cậu. Tên là Thomas O'Malley."

"Xem này, thật kỳ lạ," Riley nói với ông, "Tôi có một người chị họ tên đúng là Bridget O'Malley."

"Tôi không có hứng thú với người thân của cậu," Ferguson bảo cậu, "Mau lên máy bay, làm cho tốt, bảo cậu làm gì thì làm nấy."

Họ đều xuống xe, đi về phía chiếc Learjet. Cơ trưởng, Đại úy Lacey, là một tay lão luyện, đã được biên chế vào bộ phận của Ferguson hai năm nay. Anh ta giới thiệu đồng nghiệp của mình, một đại úy tên là Parry.

Ferguson hỏi: "Vậy, đại úy, mất bao lâu để đến Sicily?"

"Hôm nay ngược gió, thưa chuẩn tướng. Không quá năm tiếng."

"Làm tốt nhé," Ferguson quay sang mọi người, "Được rồi, xuất phát thôi, chúc các anh may mắn."

Họ lần lượt bước lên cầu thang, cửa khoang đóng lại. Khi động cơ máy bay khởi động, Ferguson lùi lại vài bước. Chiếc Learjet lăn bánh đến cuối đường băng, rồi gầm lên cất cánh.

"Trông cậy vào cậu đấy, Dillon." Ferguson nói khẽ, rồi quay người đi về phía chiếc Daimler-Benz.

Mọi chuyện cứ như trong mơ, Riley nghĩ, lúc này, cậu hoàn toàn có thể đang tỉnh dậy trong xà lim nhà tù Wandsworth, chứ không phải ngồi trên chiếc ghế da êm ái, sang trọng của chiếc Learjet. Mọi thứ đang diễn ra đúng như những gì Brown đã hứa.

Cậu quan sát Hannah Bernstein. Cô giờ đã tháo kính, lấy từ trong cặp tài liệu ra vài tờ giấy và bắt đầu đọc. Thật là một người kỳ lạ, nhưng chỉ xét từ những điều cậu nghe kể, cô đã là một nữ cảnh sát đáng gờm rồi. Chẳng phải chính cô là người đã bắn chết Nora Bell, mụ đàn bà cuồng tín cùng đồng bọn Michael Ahern âm mưu ám sát Tổng thống Mỹ khi ông đang thăm London đó sao?

Dillon từ buồng lái quay lại, ngồi vào chiếc ghế đối diện. Anh mở tủ rượu ra, nói: "Cậu muốn uống chút gì không, Dermot? E là rượu Scotch, chứ không phải rượu Ireland đâu."

"Thế cũng được."

Dillon tìm thấy nửa chai rượu Bell, rót vào vài cái ly. Anh đưa cho Riley một ly và mời cậu hút thuốc.

"Thuốc lá, rượu whisky và những người đàn bà điên rồ, chẳng phải đó là lời trong bài hát sao? Chỉ là nữ thanh tra không nghĩ vậy. Cô ấy luôn cảm thấy tôi đang tự sát từ từ."

Cô ngẩng đầu khỏi đống tài liệu nhìn anh. "Đúng vậy, Dillon, nhưng anh cứ đi con đường của anh, rồi tự xuống địa ngục đi."

Cô lại tiếp tục làm việc, Dillon bèn nói với Riley: "Đó là một người đàn bà sắt đá, nhưng cô ấy yêu tôi sâu sắc. Nói cho tôi biết, cậu thực sự có một người chị họ tên là O'Malley à?"

"Phải, đúng vậy." Riley nói, "Tôi chưa kể với anh về cô ấy sao? Mẹ tôi mất khi tôi năm tuổi. Đó là ở Derry, tôi có một người chị gái mười tuổi lúc đó tên là Catherine. Cha tôi không chăm sóc nổi, nên đã nhờ cháu gái của mẹ tôi là Bridget đến giúp. Cô ấy đến từ một ngôi làng tên là Duleek nằm giữa sông Blackwater và dãy núi Knockmealdown. Tôi dám đảm bảo với anh, nơi đó vẫn giữ được phong cảnh Ireland cổ kính."

"Cô ấy nuôi cậu lớn?"

"Cho đến tận khi tôi mười tám tuổi."

"Chưa bao giờ kết hôn?"

"Cô ấy không thể sinh con, nên cô ấy thấy không cần thiết."

"Sau đó cô ấy thế nào?"

"Cha cô ấy là một người góa vợ. Anh trai cô ấy mất sớm trong quân đội Anh ở đâu đó tại Trung Đông, nên sau khi cha cô ấy qua đời, cô ấy thừa kế một trang trại bên ngoài làng Duleek."

"Thế là cô ấy quay về đó?"

"Cô ấy không ít lần che giấu tôi khi tôi đang trốn chạy, Sean, mặc dù cô ấy không tán thành cách làm của IRA. Mỗi tuần cô ấy đều đi lễ ba lần, đó chính là Bridget. Đó chỉ là một trang trại nhỏ, bốn mươi con bò, vài con lợn, dê, và một đàn cừu nhỏ trên sườn đồi."

"Vậy khi trốn ở đó cậu thích cuộc sống ở đó chứ?"

"Thích chứ!" Mặt Riley hơi tái đi, "Cô ấy luôn nói muốn để lại trang trại cho tôi. Chỉ có vài ông già trong làng giúp cô ấy quán xuyến việc trang trại, nên có rất nhiều việc để làm. Khi tôi đến đó, khắp người tôi nồng nặc mùi hôi thối của chiến trường. Tôi dắt theo con chó chăn cừu Đức tên là Carl của cô ấy lên núi canh đàn cừu trong mưa, con chó đó còn chồm lên cắn vào gót chân tôi. Anh hiểu không, Sean? Tôi lại yêu từng giây phút của cuộc sống đó. Chẳng phải đó là điều rất kỳ lạ sao?"

"Thực ra không kỳ lạ chút nào. Cội rễ, Dermot, đây là thứ tất cả chúng ta đều cần, và cội rễ của cậu nằm ở chỗ cô ấy."

"Còn anh thì sao, Sean, cội rễ của anh ở đâu?"

"Có lẽ chẳng ở đâu cả, hoàn toàn không có chỗ để tìm. Chỉ có vài người anh em họ hàng xa sống rải rác ở nhiều nơi, đã nhiều năm không gặp, có lẽ họ còn sợ tôi phát khiếp." Anh cười, nói: "Nghe tôi này, lão bạn, một khi thoát khỏi đây, hãy quay về trang trại bên ngoài làng Duleek ở Ireland đó đi. Từ cuộc sống như xác chết biết đi trong nhà tù Wandsworth đến tình cảnh hiện tại, trải nghiệm của cậu thật là một phép màu."

"Tôi biết," Riley nói, "Giống như ngày thứ ba sau khi chôn cất, tảng đá mộ lại được di dời khỏi cửa hầm mộ vậy."

"Chính xác." Dillon ngáp một cái, "Giờ tôi muốn chợp mắt một chút. Trong vòng một tiếng nữa hãy gọi tôi dậy." Sau đó anh nhắm mắt lại.

Riley nhìn anh một lúc. Sean là một gã không tồi, năm xưa khi chống lại quân Anh ở Derry, anh tuyệt đối là một chiến hữu trung thành. Nhớ có lần Riley bị trúng đạn ở chân trái, Dillon từ chối bỏ rơi cậu, cố kéo cậu từ cống ngầm của thành phố đến nơi an toàn.

Cậu liếc nhìn Dillon đang ngủ. Xin lỗi, Sean, cậu từng nghĩ đến việc nói ra sự thật, nhưng kết cục sẽ ra sao? Cậu thực sự không thể đối mặt với số phận phải quay lại nhà tù Wandsworth chịu đựng mười bốn năm rưỡi cuộc sống địa ngục. Thế là cậu nhắm mắt lại, cố gắng ngủ một chút.

Khoảng hai giờ chiều, họ bay ra biển, Palermo hiện ra bên cửa sổ máy bay. Họ hạ cánh xuống Punta Raisi. Lacey tuân theo chỉ dẫn của đài kiểm soát, lái máy bay đến cuối sân bay, nơi đậu vài chiếc máy bay tư nhân. Một người đàn ông thấp bé đội mũ vải, mặc áo khoác bay cũ đứng trước nhà để xe, có một chiếc BMW đậu bên cạnh.

"Hắn ta là ai?" Riley hỏi.

"Đừng trông mặt mà bắt hình dong, ông Riley," Hannah nói, "Đó là Đại tá Paolo Gagini thuộc cơ quan tình báo Italy. Ông ta bắt giữ nhiều bố già Mafia hơn bất kỳ ai, và ông ta là một người bạn cũ của chúng tôi."

Parry mở cửa khoang máy bay, Lacey bước ra sau, những người còn lại cũng lần lượt bước ra.

Gagini tiến lại gần. "Nữ thanh tra, rất vui được gặp lại cô, cả anh nữa, Dillon. Vẫn còn sống và vẫn đang đi lang thang sao? Thật không thể tin được!"

Dillon bắt tay ông ta. "Đây là Tom O'Malley, đồng nghiệp của tôi."

Gagini nhìn Riley từ đầu đến chân, cười lớn. "Anh nói là đồng nghiệp? Ha, xem này, thế giới này đúng là chuyện gì cũng có thể xảy ra."

"Đừng lúc nào cũng bày ra dáng vẻ cảnh sát đó, Paolo." Hannah nói với ông ta.

"Sẵn lòng phục vụ cô, nữ thanh tra. Tôi luôn cho rằng vẻ đẹp cộng với trí tuệ còn thú vị hơn vẻ đẹp đơn thuần. Sẵn lòng phục vụ người bạn cũ Charles Ferguson của tôi. Tôi không biết tại sao các anh chị lại đến đây, và tôi cũng không muốn biết, tôi chỉ cố gắng không để giới báo chí biết chuyện này." Ông quay sang Lacey hỏi: "Đại úy, tôi có thể giúp gì cho anh?"

"Tôi cần tiếp nhiên liệu, sau đó là chặng tiếp theo đến Malta."

"Được. Để tôi tiễn những người bạn này trước đã." Ông quay người dẫn mọi người đi về phía chiếc BMW. Tài xế chiếc BMW bước xuống xe, là một gã thấp bé tóc đen, mặc áo sơ mi kẻ sọc và quần jeans.

"Đại tá!"

Gagini đặt một bàn tay lên đầu người tài xế, nói: "Luigi, ta thăng chức cho ngươi lên trung sĩ vì ta thấy ngươi còn khá thông minh. Vị quý cô này là nữ thanh tra, nên phải cung kính với cô ấy. Ông Dillon và ông O'Malley là đồng nghiệp của cô ấy. Ngươi lái xe đưa họ qua đảo đến Salinas, rồi quay lại."

"Rõ, thưa đại tá."

"Nếu ngươi làm hỏng việc, dù chỉ một chút, ta sẽ lấy mạng ngươi."

Luigi cười, giữ cửa sau xe. Trong xe có hai hàng ghế đôi. "Nữ thanh tra, mời cô."

Hannah hôn lên má Gagini, chui vào xe ngồi ở ghế sau. Dillon và Riley ngồi ở hàng ghế còn lại. Gagini mỉm cười, chào tạm biệt họ qua cửa sổ xe đang mở: "Chúc các bạn thuận lợi, những người bạn của tôi."

Ông lùi lại một bước, Luigi lái xe đi mất.

...Ngày hôm đó đúng vào ngày lễ của một vị thánh nào đó, giao thông trên đường phố Palermo bị tắc nghẽn bởi đủ loại nghi lễ tôn giáo, nên xe chạy ở đây chẳng khác nào bò. Một vài người đàn ông đội mũ trùm đầu, mặc áo choàng dài khiêng một cái quan tài khổng lồ, bên trên đứng một bức tượng thánh nữ được trang trí lộng lẫy.

"Nhìn kìa," Riley nói, "Là nghi lễ tôn giáo."

"Đúng vậy," Hannah Bernstein nói, "Nhưng không phải thánh nữ bình thường. Anh không để ý thấy ở phần trái tim cô ấy cắm một con dao sao?"

"Đây là Sicily," Dillon nói, "Ở đây cái chết giống như một sự sùng bái vậy. Dermot, tôi nghĩ chị họ Bridget của cậu sẽ chẳng thích điều này chút nào đâu."

"Cô ấy chắc chắn không thích," Riley nhấn mạnh. Nhưng cậu vẫn thích thú ngắm nhìn qua khung cửa sổ đang mở.

Họ lái xe ra khỏi thành phố Palermo, tiến vào vùng trung tâm hòn đảo, sau đó là con đường mà khách du lịch lái xe đi đến thành phố biển phía nam Agrigento thường phải đi qua. Phong cảnh ở đây vô cùng hùng vĩ.

Trên đường đi, họ đã thấy không ít nông dân cưỡi trên lưng lừa, trong giỏ thồ đầy rau củ đi chợ, các cụ già đội mũ vải tweed, mặc quần áo chắp vá, thường vác trên vai một khẩu "Lupara", đó là loại súng săn nòng ngắn mà người Sicily vô cùng ưa chuộng.

Còn có những người phụ nữ mặc đồ đen, người thì làm việc trên đồng, người thì đi thành hàng trên đường, đội giỏ trên đầu, như thể ánh mặt trời không thể làm hại họ vậy. Họ đi qua từng ngôi làng, nơi những kiến trúc đã có từ hàng thế kỷ, giữa đường phố là rãnh thoát nước, dưới ánh mặt trời bốc lên mùi nước tiểu nồng nặc.

"Chúa ơi, Maria, Joseph, vẫn là hãy để tôi tận hưởng cuộc sống ở Ireland mỗi ngày đi. Nơi này thật nghèo nàn." Riley than thở.

"Còn đậm chất trung cổ nữa." Hannah Bernstein đưa ra nhận xét của mình.

Luigi lần đầu tiên lên tiếng, vẫn bằng tiếng Anh chuẩn: "Đây là những người nghèo khổ bị nghèo đói bủa vây, bao năm qua các địa chủ lớn và Mafia đã vắt kiệt mồ hôi nước mắt của họ. Ở Sicily bây giờ chỉ còn đất đai thôi. Vườn cam, vườn nho, mấy ngày nay còn có thêm vài khách du lịch."

"Bao nhiêu năm qua đất đai ở đây đã thấm đẫm máu tươi," Dillon nói, "Mọi người đều chia chác nó, từ người Arab đến người German. Cô có biết Richard I của Anh từng là vua ở đây không?" Anh hỏi Hannah.

Cô lộ vẻ mặt ngạc nhiên. "Không, tôi không biết. Mỗi ngày anh đúng là học được chút gì đó mới mẻ nhỉ."

"Chẳng phải sao!" Dillon nói xong, châm một điếu thuốc.

Cùng lúc đó, trên đảo Sciacca, Marie de Brissac đang đi xuống dọc theo một con đường mòn trên vách đá, cô thuê một căn nhà gỗ nhỏ ở bờ biển phía đông bắc của hòn đảo này.

Cô dáng người mảnh khảnh, năm nay hai mươi bảy tuổi, nhưng trông còn trẻ hơn. Cô mặc áo phông và quần short kaki, một chiếc mũ rơm che khuất khuôn mặt thanh tú, thông minh với gò má cao. Mái tóc vàng được buộc đuôi ngựa. Một tay cô xách hộp đá, dưới cánh tay kẹp giá vẽ, tay kia là hộp màu.

Bãi biển hình móng ngựa trông rất bắt mắt, phóng tầm mắt ra xa, một bên là Albania, bên kia là Hy Lạp. Cô lấy chiếc ghế xếp và chiếc ô lớn đã để sau tảng đá từ hôm trước, cô điều chỉnh vị trí của chúng cho đến khi hài lòng, rồi dựng giá vẽ lên bắt đầu vẽ.

So với tranh sơn dầu, cô thích tranh màu nước hơn. Cô nhanh chóng dùng bút chì than phác thảo phong cảnh trước mắt, vừa đúng lúc một chiếc thuyền đánh cá đi qua, cô cũng vẽ luôn vào, rồi làm mờ bản phác thảo và bắt đầu tô màu.

Đến tận bây giờ cô vẫn vô cùng đau buồn vì sự ra đi của người mẹ thân yêu. Căn nhà gỗ nhỏ này đã trở thành nơi trú ẩn, ít nhất là trong tâm trí cô. Ở đây không có người hầu, chỉ có một bà nông dân ba ngày một lần dùng lừa thồ bánh mì tươi, sữa và củi đến cho cô. Khoảng thời gian này vừa hay có thể dùng để suy nghĩ về ý nghĩa và mục đích của cuộc sống, tất nhiên là cả vẽ tranh nữa.

Cô mở hộp đá. Bên trong có một chai rượu vang trắng Chablis, lạnh buốt. Cô vặn nút chai, rót một ly.

"Thật kỳ lạ," cô thì thầm tự nhủ, "Hình như ai cũng vì tôi mà chết. Đầu tiên là Maurice tử trận trong cuộc chiến vùng Vịnh ngu ngốc đó, sau đó là Đô đốc, giờ lại đến lượt mẹ. Tôi thực sự không hiểu mình đã làm sai điều gì?"

Cô không nghe thấy tiếng bước chân nào, chỉ nghe thấy một giọng nói vang lên: "Tuyệt vời, tôi đặc biệt ngưỡng mộ mảng màu xanh đó, cũng như cách cô thấm đẫm nó vào đường bờ biển."

Cô ngước mắt nhìn, phát hiện hắn đang đứng đó. Có lẽ trạc tuổi cô, tóc vàng, khuôn mặt to rám nắng. Hắn mặc quần jeans và một chiếc áo khoác len dày cũ kỹ hai hàng khuy. Tiếng Anh của hắn hơi có giọng địa phương, nhưng cô cũng không nghe ra là của nơi nào.

Cô nói: "Tôi không muốn tỏ ra bất lịch sự, nhưng đây là bãi biển tư nhân."

"Vâng, tôi biết rất rõ, cũng như tôi biết rõ cô là Nữ bá tước de Brissac."

Đến mức này, cô đương nhiên biết kẻ đến không có ý tốt, chắc chắn là có mưu đồ. "Anh là ai?"

"Tên tuổi thì có nghĩa lý gì," hắn cười, "Cứ gọi tôi là David Braun đi." Hắn lấy chai rượu vang trắng Chablis từ trong hộp đá, nhìn nhãn hiệu. "Thật tuyệt." Hắn tự rót cho mình một ly, uống một ngụm, nói: "Không tồi, chút nào cũng không tồi."

"Tôi rất vui vì anh thích loại rượu này." Thật kỳ lạ, cô không hề sợ hãi. Đây không phải cuộc gặp gỡ tình cờ, cũng không có nguy cơ bị cưỡng hiếp.

Hắn huýt sáo một tiếng, rồi gọi một tiếng, lần này không phải bằng tiếng Anh, rồi có một thanh niên đi xuống con đường mòn nhập bọn với họ. Cô ngay lập tức nhận ra câu hắn vừa gọi.

"Tiếng Hebrew," cô nói, "Anh vừa nói tiếng Hebrew. Tôi từng đến Israel, có thể nhận ra ngôn ngữ này."

"Rất tốt," hắn uống cạn rượu, "Nghe này," hắn nói bằng tiếng Anh, "Dọn dẹp đồ đạc của vị quý cô này, đi theo chúng ta lên căn nhà gỗ phía trên."

"Chuyện này là sao?" cô bình tĩnh hỏi.

"Đừng vội, Nữ bá tước," hắn làm một động tác tay, "Mời cô đi trước."

Một chiếc xe Ford loại wagon đang đậu bên ngoài căn nhà gỗ. Người thanh niên kia bỏ dụng cụ vẽ của cô vào phía sau xe, cô nhìn thấy bên trong đã chất đầy hành lý của mình.

"Tiện thể giới thiệu một chút, đây là Moses," David Braun nói với cô, "Cô vừa đi là hắn bắt đầu thu dọn hành lý rồi. Họ nói tủ đồ nhỏ đã trống không rồi. Tôi biết cô ở đây luôn đi taxi, nên khi bà lão nông dân cưỡi lừa đến sẽ tưởng cô đã rời đi rồi."

"Đi đâu?"

Hắn mở cửa ghế sau xe. "Xe của cô đã chuẩn bị sẵn sàng, sau đó là một chuyến bay thú vị. Còn gì tốt hơn thế nữa?"

Cô do dự một chút, rồi vẫn làm theo lời hắn. Hắn chui vào xe ngồi cạnh cô. Sau khi xe lăn bánh, cô hỏi: "Vậy điểm đến cuối cùng là đâu?"

"À, cô hỏi nhiều quá rồi đấy. Cô cứ tận hưởng chuyến đi này đi. Nhìn kìa, phong cảnh ở đó đẹp làm sao."

Cô không tự chủ được mà quay đầu lại, chỉ cảm thấy một cơn đau nhói ở cánh tay phải đang để trần, quay lại nhìn thấy ống tiêm dưới da bằng nhựa trong tay hắn.

"Chết tiệt!" cô nói, "Anh tiêm cái gì vậy?"

"Điều đó có quan trọng không?" Hắn ném ống tiêm ra ngoài cửa sổ. "Bây giờ cô sẽ chìm vào giấc ngủ—một giấc ngủ thật dài. Thực tế là khi tỉnh dậy cô sẽ thấy dễ chịu hơn nhiều."

Cô muốn trả lời, nhưng cảm thấy mí mắt rất nặng, đột nhiên hắn biến mất, cô rơi vào một khoảng tối đen.

Ở Sicily, chiếc BMW đã thực sự đi vào vùng núi, núi Cammarata ở một bên sừng sững cao sáu nghìn bộ.

"Trông thật giống vùng núi hiểm trở." Riley nói.

Luigi gật đầu nói: "Salvatore Giuliano đã dày công xây dựng sào huyệt của mình ở đó nhiều năm, quân đội và cảnh sát đều bó tay với ông ta. Một con người tuyệt vời, một người Sicily thực thụ."

"Ý anh ta là, một tên cướp tuyệt vời," Hannah nói với Riley, "Ông ta thỉnh thoảng lại thay mặt bà lão nghèo khổ nào đó đóng tiền thuê nhà, thích tự coi mình là Robin Hood."

"Chúa ơi, cô khắt khe quá đấy, đàn bà," Dillon nói, "Giuliano không tệ như cô nói đâu."

"Chính là cái loại người mà anh tôn sùng đấy."

"Tôi biết, và tôi cũng chính là cái loại kẻ xấu đó." Lúc này, họ lái xe vào một ngôi làng, anh nói, "Dừng xe một chút, Luigi. Tôi muốn giải quyết nỗi buồn, tôi nghĩ mọi người đều có ý đó."

"Tất nhiên rồi, thưa ông."

Họ dừng lại trước cửa một quán nhỏ bên đường, dưới tấm bạt che nắng của quán bày vài bộ bàn ghế thô sơ. Chủ quán là một ông già, tóc bạc trắng, đeo chiếc tạp dề bẩn thỉu. Ông ta chào hỏi mọi người. Luigi nói gì đó với ông ta bằng giọng nhỏ, rồi nói với Hannah Bernstein: "Nhà vệ sinh ở phía sau, thưa nữ thanh tra."

"Cô đi trước đi," Dillon cười hì hì nói với cô, "Chúng tôi lát nữa sẽ đi sau."

Cô đi theo sau Luigi, Luigi đi đến quầy bar gọi vài ly đồ uống. Ở đó rất tối, hơn nữa mùi hôi thối của nhà vệ sinh xộc thẳng vào mũi. Dillon và Riley châm thuốc lá muốn át đi mùi hôi đó. Thứ duy nhất ở đây có hơi hướng cuộc sống hiện đại là một chiếc máy pha cà phê đậm đặc.

Luigi quay đầu lại hỏi: "Cà phê, được không?"

"Được." Dillon nói.

Hannah từ trong bóng tối đi ra, làm mặt quỷ, nói: "Tôi không ở trong đó được đâu, các quý ông. Tôi đợi ở ngoài."

Dillon và Riley tìm thấy căn phòng phía sau, thật sự bẩn thỉu đến mức không thể nhìn nổi. Dillon vào trước, khi ra ngoài thì người run lên bần bật. "Nhanh lên, Dermot. Ở trong đó người ta sẽ bị hun chết mất."

Luigi vẫn đang mua cà phê, Dillon đi đến cửa vào có treo mành hạt chuỗi, dừng lại rồi lại châm một điếu thuốc. Từ nơi Hannah đang đứng truyền đến một tiếng gầm giận dữ. Anh bước ra ngoài, vứt điếu thuốc trong tay đi.

Cô đang ngồi bên một cái bàn, lúc này có hai gã đàn ông đang ở cùng cô. Cả hai trông đều giống những nông dân nghèo hèn, mặc áo khoác chắp vá rách rưới, quấn xà cạp da cũ nát, đội mũ vải. Một tên trong số đó ngồi trên bàn, trên vai treo một khẩu súng săn, cười nham nhở, tên kia dùng tay bóp lấy gáy Hannah.

"Tôi đã nói là, buông tay ra!" cô lúc này thực sự nổi giận, nói bằng tiếng Italy.

Tên đó cười lớn, trượt tay xuống lưng cô. Dillon tung một cú đấm mạnh vào eo hắn, túm lấy cổ áo hắn, đẩy đầu hắn về phía trước, hắn bị một cái ghế vấp ngã xuống đất. Đồng thời, Dillon quay người dùng gốc bàn tay đánh vào tên đang ngồi bên bàn, đánh bay mũ của hắn, khiến hắn ngã xuống đất.

Dermot hét lớn một tiếng: "Sean, tôi tới đây!" rồi chạy ra từ sau tấm mành hạt chuỗi.

Tên ngã xuống đất trước đó bò dậy, tay phải cầm một con dao, chỉ thấy Dermot lao lên túm lấy cổ tay tên đó, vặn một cái, tên đó đành phải vứt bỏ con dao. Tên kia lấy khẩu súng săn nòng ngắn từ trên vai xuống, đứng đó với khuôn mặt đầy máu, định bóp cò, nói thì chậm mà làm thì nhanh, Dillon húc nòng súng sang một bên, đấm một cú thật mạnh vào bụng hắn, tên đó vứt bỏ khẩu súng.

Luigi cũng tới, hắn bắn chỉ thiên cảnh cáo. Đột nhiên hắn như biến thành người khác, chỉ thấy một tay hắn cầm súng, tay kia cầm thẻ cảnh sát.

"Cảnh sát," hắn lớn tiếng nói, "Để lại khẩu súng săn nòng ngắn, cút ngay cho ta."

Hai tên đó lảo đảo bỏ chạy. Ông già đi ra, thật kỳ lạ, với vẻ mặt thờ ơ. Ông đặt bốn ly cà phê đậm đặc trên khay vào giữa bàn.

"Rất xin lỗi, làm mọi thứ lộn xộn cả lên, lão nhân gia." Dillon nói bằng tiếng Italy chuẩn.

"Hai tên đó một đứa là cháu trai của tôi, đứa kia là bạn xấu của nó." Ông lão nhún vai, "Đứa trẻ hư." Ông nhặt khẩu súng săn nòng ngắn lên, "Tôi sẽ trả lại súng cho nó, cà phê miễn phí. Rất xin lỗi vì vị quý cô này đã bị quấy rối. Thật khiến tôi cảm thấy xấu hổ."

Khi bước vào phòng, Dillon cầm lấy một tách cà phê rồi giải thích: "Hắn ta cảm thấy rất nhục nhã. Hai kẻ kia là cháu trai và bạn của hắn..."

"Tôi nghe hiểu hắn nói gì mà," Hannah bảo anh, "Tiếng Ý của tôi cũng không kém hơn anh đâu." Dillon quay sang nói với Reilly: "Dermot, cảm ơn anh."

"Không có gì," Reilly đáp, "Cũng như trước đây thôi."

"Ngài ra tay thật nhanh nhẹn đấy," Luigi trầm trồ nói.

"Ồ, hắn lúc nào chả vậy," Hannah vừa uống cà phê vừa nói, "Đấm đá cái gì cũng giỏi, đó chính là Dillon của chúng ta đấy, anh còn chưa được thấy tài bắn súng của hắn đâu."

Dillon mỉm cười rạng rỡ: "Cô đúng là biết cách đấm người đấy, cô gái đáng yêu của tôi. Uống nhanh lên, chúng ta phải đi thôi."

Càng tiến gần về phía bờ biển phía Nam, phong cảnh càng trở nên dịu dàng.

"Trong Thế chiến II, quân Mỹ đã đi qua đây, băng qua dãy núi Cammarata để đến Palermo. Khi đó, quân đội Ý sau khi nhận được tin Mafia sẽ giúp người Mỹ đánh quân Đức liền bỏ chạy tán loạn," Luigi kể cho mọi người nghe.

"Tại sao họ lại làm vậy?" Dillon thắc mắc.

"Người Mỹ đã thả đại trùm Mafia, Lucky Luciano, ra khỏi nhà tù ở New York."

"Lại thêm một tên khốn nữa," Hannah nói.

"Có lẽ vậy, thưa bà, nhưng hắn đã làm được việc, và mọi người đều tin tưởng hắn. Sau đó hắn quay lại nhà tù Mỹ, nhưng được thả vào năm 1946. Trên lệnh ân xá có ghi: Vì những đóng góp của hắn cho quốc gia."

"Anh tin vào câu chuyện huyễn hoặc đó sao?" cô hỏi.

"Trong thời gian chiến tranh, chính cha tôi đã tận mắt nhìn thấy hắn ở một ngôi làng tên là Corleone."

Dillon bật cười lớn: "Đây đúng là cảnh tượng đặc sắc nhất mà tôi từng thấy. Hannah, hết lời để nói rồi chứ gì."

Phong cảnh ngày càng dịu dàng, đâu đâu cũng là hoa, sườn núi phủ đầy hoa cúc vàng, cây lá đối, cỏ lưỡi chó và cây long đởm vàng.

"Thật xinh đẹp," Hannah thở dài nói, "Nhưng lại trải qua hàng thế kỷ bạo lực và chém giết. Thật đáng tiếc."

"Đúng vậy," Dillon nói, "Giống như Kinh Thánh vậy. Còn tôi, chỉ là một lữ khách vội vã mà thôi."

Anh nhắm mắt lại. Reilly liếc nhìn anh, cũng giống như cảnh tượng trên máy bay, anh cảm thấy rất có lỗi với anh ta, nhưng anh có thể làm được gì đây. Một lát nữa là tới Salinas, mọi chuyện rồi sẽ kết thúc. Nghĩ đến đây, anh mới cảm thấy nhẹ nhõm đôi chút.

Marie de Brissac đột nhiên tỉnh giấc, vừa rồi cô vẫn hoàn toàn không biết gì, chỉ thấy một màu đen kịt, lờ mờ như lúc hoàng hôn. Điều đầu tiên cô cảm nhận được là mình không hề thấy khó chịu, không đau đầu, không có cảm giác nặng nề, điều này hơi kỳ lạ.

Lúc này cô đang nằm trên một chiếc giường lớn có bốn cột trụ, trần phòng uốn vòm, tường gỗ sồi được ốp ván. Đồ nội thất bằng gỗ sồi nặng trịch, nhưng cũng rất cổ kính, tấm thảm treo trên bức tường xa xa là một phong cảnh trung cổ nào đó. Cánh cửa dẫn ra phòng ngoài cũng bằng gỗ sồi, điểm xuyết những đường viền trang trí. Bên cạnh giường còn có một cánh cửa nữa.

Căn phòng có một cửa sổ lớn, tất nhiên là đã được lắp song sắt, trong phòng có một cái bàn, bên cạnh là ba chiếc ghế. Người đàn ông tự xưng là David Braun đang ngồi đó đọc sách. Hắn ngước mắt nhìn thấy cô.

"À, cô tỉnh rồi. Cảm thấy thế nào?"

"Rất tốt," cô ngồi dậy, "Tôi đang ở đâu đây?"

"Ồ, ở một quốc gia khác, đó là tất cả những gì cô cần biết. Tôi sẽ mang cho cô chút cà phê, hoặc trà, tùy cô chọn."

"Không, cà phê là được, đậm một chút, không sữa, thêm hai viên đường."

"Sẽ có ngay thôi. Cô có thể đi lại trong phòng."

Hắn mở cửa đi ra ngoài, cô nghe thấy tiếng chìa khóa xoay trong ổ khóa. Cô xuống giường, đi đến cánh cửa kia, mở ra xem thì thấy đó là một phòng tắm kiểu cũ rộng rãi. Bồn cầu xả nước, bồn rửa và bồn tắm có vòi sen, nhìn qua là biết đồ từ thế kỷ 19. Nhưng trên kệ bên cạnh bồn rửa lại có một đống đồ vệ sinh, mỹ phẩm: xà phòng, dầu gội, phấn thơm, lăn khử mùi, đủ loại băng vệ sinh. Thậm chí còn có cả máy sấy tóc điện, lược và bàn chải tóc. Cô đột nhiên nghĩ rằng tất cả những thứ này có thể đều được mua cho mình.

Suy nghĩ này của cô càng được củng cố bởi những thứ cô tìm thấy trên bàn trong phòng ngủ, ở đó có một bao thuốc lá Gitanes mà cô yêu thích nhất và vài chiếc bật lửa nhựa. Cô xé một bao, rút một điếu châm lửa, rồi đi đến bên cửa sổ nhìn ra ngoài qua song sắt.

Tòa nhà này (dù nó là gì đi nữa) nằm trên mép vách đá. Bên dưới là một bến cảng có đê chắn sóng, có một chiếc ca nô đang neo đậu. Xa hơn nữa là biển xanh thẳm, hoàng hôn buông xuống, ánh sáng dần tối đi. Sau lưng cô vang lên tiếng chìa khóa mở cửa, cửa mở ra, Braun bưng khay bước vào.

"Vậy là cô đã ổn định rồi chứ?"

"Có thể nói là vậy. Khi nào tôi mới nhận được câu trả lời?"

"Sếp của tôi vài phút nữa sẽ đến. Điều đó tùy thuộc vào ông ấy." Hắn rót cà phê cho cô.

Cô cầm lấy cuốn sách hắn vừa đọc. Là sách tiếng Anh, tập "Four Quartets" của T.S. Eliot. "Anh thích thơ ca sao?" cô hỏi.

"Tôi thích Eliot," hắn trích dẫn thơ của Eliot, "Trong cái kết của chúng ta là sự khởi đầu của chúng ta, đại loại thế. Ông ấy dùng ngôn ngữ giản dị như vậy để nói lên biết bao nhiêu điều." Hắn đi về phía cửa, rồi dừng lại, "Ông ấy không muốn cô nhìn thấy khuôn mặt của mình, nên đừng có hoảng sợ."

Hắn bước ra khỏi cửa, cô uống hết cà phê, rót tách thứ hai, rồi lại châm một điếu thuốc. Cô đi đi lại lại, cố gắng tìm hiểu xem rốt cuộc chuyện này là thế nào, nhưng vẫn không sao hiểu nổi. Sau lưng cô lại vang lên tiếng chìa khóa xoay trong ổ khóa, khi cô quay người lại thì cửa đã mở.

Sau khi David Braun bước vào rồi đứng sang một bên, người đi vào sau đó đã khiến cô giật mình. Hắn cao một mét tám, vai rộng, mặc bộ đồ lính dù màu đen. Điều khiến cô sợ hãi là chiếc mũ trùm đầu bằng len màu đen mà hắn đang đội, chỉ để lộ đôi mắt sáng quắc. Tóm lại, đây là hình ảnh độc ác nhất mà cô từng thấy trong đời.

Hắn cất tiếng, giọng là giọng Mỹ vùng Boston nghe khá êm tai: "Rất vinh hạnh, thưa Nữ bá tước, tất nhiên cũng rất lấy làm tiếc vì sự bất tiện đã gây ra cho bà."

"Trời ạ, anh là người Mỹ, tôi nghe thấy có người nói tiếng Hebrew nên cứ tưởng anh là người Israel."

"Nữ bá tước thân mến của tôi, hơn một nửa người Israel nói tiếng Anh đều có giọng Mỹ. Đó là nơi hầu hết chúng tôi được giáo dục, nền giáo dục tốt nhất thế giới."

"Vậy sao?" cô nói, "Quan điểm về vấn đề này tùy vào mỗi người."

"Đúng rồi, tôi quên mất, bà từng học ở Đại học Oxford và Đại học Paris."

"Anh biết nhiều thật đấy."

"Tôi biết tất cả về bà, Nữ bá tước - tất cả. Không có bất kỳ bí mật nào cả."

"Còn tôi thì chẳng biết gì về anh. Ví dụ như tên của anh chẳng hạn."

Cô có thể nhìn thấy răng hắn qua khe hở nhỏ ở miệng chiếc mũ trùm đầu, hắn như đang mỉm cười: "Judas," hắn nói, "Cứ gọi tôi là Judas."

"Rất mang hơi hướng Kinh Thánh," cô nói, "Chỉ tiếc là lại gợi lên những liên tưởng bất hạnh."

"Ồ, vâng, tôi hiểu ý bà. Judas đã phản bội Jesus trong Vườn Địa Đàng."

Hắn nhún vai, "Nhưng ở đây có những lý do chính trị rất xác đáng. Judas Iscariot là một kẻ cuồng tín, hắn muốn đất nước mình độc lập khỏi sự cai trị của người La Mã."

"Vậy còn anh?"

"Tôi chỉ muốn tổ quốc mình độc lập với bất kỳ ai."

"Nhưng vì Chúa, chuyện đó thì liên quan gì đến tôi?"

"Sau này sẽ nói cho bà biết, Nữ bá tước, sau này nhé. Trong lúc đó, David sẽ chăm lo mọi nhu cầu của bà. Tất nhiên, bà phải ăn tối ở đây, nhưng nếu cần thứ gì đặc biệt, cứ hỏi hắn. Trên giá sách có đủ loại sách, bà còn có thể vẽ tranh nữa. Tôi sẽ lại nói chuyện với bà sau."

Braun mở cửa cho hắn, rồi đi theo hắn ra ngoài. Judas tháo mũ trùm đầu, dùng ngón tay vuốt lại mái tóc màu đồng bị ép chặt. Hắn có một khuôn mặt kiên nghị, gò má cao, đôi mắt xanh, trên người tỏa ra một nguồn năng lượng không bao giờ ngơi nghỉ. Hắn trông khoảng năm mươi tuổi.

"Trông chừng cô ta, David," hắn dặn dò, "Đáp ứng mọi yêu cầu của cô ta."

"Không vấn đề gì," Braun do dự nói, "Cô ấy là một người phụ nữ tốt. Nếu ngài không đạt được mục đích, ngài thực sự sẽ giết cô ấy sao?"

"Tất nhiên là có," Judas nói, "Sao, anh đang thoái chí à, David?"

"Tất nhiên là không. Sự nghiệp của chúng ta là chính nghĩa."

"Tốt, hãy nhớ lấy điều đó. Lát nữa tôi sẽ gặp lại anh."

Khi hắn xoay người, Braun hỏi: "Có tin tức gì của Aaron và hai người kia chưa?"

"Hắn đã gọi điện từ Salinas bằng bộ đàm trên tàu của hắn. Mọi chuyện đều thuận lợi, David." Judas cười, "Sẽ thành công thôi. Hãy tin vào điều đó."

Hắn bước dọc theo con đường lát đá. Braun mở cửa phòng đi vào. Marie de Brissac quay người từ phía cửa sổ.

"Anh quay lại rồi à. Con sói già đó đi rồi chứ?"

Hắn không chấp nhặt lời cô: "Tôi biết bà không phải người ăn chay. Thực đơn tối nay là súp Vichyssoise, tiếp theo là hải sản tươi nướng, khoai tây, salad, và các loại trái cây. Nếu bà không thích cá, có thể đổi thành sườn cừu."

"Anh nghe như một bồi bàn vậy, không, không cần đổi đâu, món ăn phối hợp rất ổn."

"Thực ra, tôi là đầu bếp. Bà có muốn uống rượu vang trắng không?"

"Không, rượu vang đỏ khô có thể giúp tôi giải tỏa căng thẳng. Tôi chưa bao giờ nghĩ uống rượu đỏ hay rượu trắng là tùy thuộc vào món ăn. Tôi uống rượu để phù hợp với bản thân mình."

"Tất nhiên là được rồi, Nữ bá tước." Hắn hơi cúi chào một cách khoa trương, rồi đi về phía cửa. Khi hắn mở cửa, cô gọi hắn lại: "David?"

Hắn quay người lại: "Vâng, thưa Nữ bá tước."

"Vì anh thích Eliot đến vậy, tôi tặng anh một câu trích dẫn từ bài thơ 'The Waste Land' của ông ấy."

"Đó là câu nào vậy, thưa Nữ bá tước?"

"Tôi nghĩ chúng ta đang ở trong ngõ chuột, nơi những người chết đã mất đi bộ xương của mình."

Nụ cười trên mặt hắn cứng đờ, hắn quay người, mở cửa đi ra ngoài, rồi đóng cửa lại. Tiếng chìa khóa xoay trong ổ khóa vang lên, đột nhiên, cô cảm thấy vô cùng sợ hãi.

Dịch Thuật: Gemini & DeepSeek AI
Nguồn: Việt Nam Thư Quán
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 21 tháng 6 năm 2026