Những khớp bản lề không hề cót két một cách kỳ dị hay điều gì tương tự. Thực ra, chúng không cần thiết phải làm thế.
Khi cánh cửa mở bung ra, có một luồng khí mát mẻ, khô khốc thổi ra như một tiếng thở dài nhuốm mùi bụi bặm và hoang vắng. Đó cũng là cảm giác ta thường gặp trong bất cứ một căn phòng bỏ trống nào. Lockwood chiếu đèn pin vào bóng tối; vòng tròn sáng mềm mại của nó soi tỏ những tấm ván sàn trống trơn, chạy khắp căn phòng. Chúng có màu xám sậm và ố xỉn. Rải rác đây đó là những mảnh thảm cũ rách tả tới, gắn vào những tấm ván bởi hàng thế kỷ bụi bặm.
Cậu hướng luồng sáng lên phía trên cho tới khi nó gặp bức tường đối diện. Ván ốp chân tường màu trắng thoáng hiện ra, rồi đến lớp giấy dán tường màu xanh lá cây đậm, hầu như đã hóa thành màu đen bởi bụi bẩn và thời gian. Ở một vài chỗ nó đã rách toạc, để lộ bức tường gạch phía sau. Luồng sáng vẫn tiếp tục di chuyển lên cao: chúng tôi nhìn thấy một dải phào trần nặng nề, rồi trần nhà với lớp thạch cao trang trí hình vòng xoắn ốc. Luồng sáng vươn tới một chùm đèn duy nhất treo từ chính giữa trần nhà. Những dải tơ nhện mềm mại màu xám nhạt thả xuống từ trụ đèn và những dây xích, đung đưa theo luồng không khí do cánh cửa mở khuấy động.
Nhện... Một dấu hiệu chắc chắn.
Lockwood hạ thấp đèn pin xuống. Ở dưới chân chúng tôi, tấm thảm hành lang kết thúc chính xác ở mép cửa. Một dải sắt dày đã được đặt ở đó. Phía sau là bụi bặm, những tấm ván sàn và cảnh hoang tàn tuyệt đối của Căn Phòng Đỏ.
“Có ai cảm nhận được gì không?” Lockwood hỏi. Giọng cậu nghe có vẻ lạ và trầm.
Cả hai chúng tôi đều không cảm thấy gì. Lockwood bước qua dải sắt, George và tôi theo sau cậu, mang theo những chiếc túi vải len thô nặng nề. Không khí mát lạnh quẩn quanh người chúng tôi. Giày của chúng tôi gõ nhẹ xuống những tấm ván sàn.
Tôi đã tưởng những hiện tượng kinh hoàng sẽ giáng xuống ngay giây phút chúng tôi bước vào. Nhưng tất cả rất mực yên tĩnh, cho dù áp lực ép vào đầu tôi tệ hơn lúc nào hết. Sương ma chưa hiển hiện rõ ràng trong căn phòng và tôi chẳng thể nghe thấy tiếng lách tách hay tiếng thì thầm kia vào lúc này. Chúng tôi đặt túi xuống và lia đèn khảo sát xung quanh.
Đó là một căn phòng rộng hình chữ nhật, chạy hết toàn bộ chiều sâu của chái nhà. Bức tường đối diện đánh dấu điểm cuối cùng của tòa nhà, ngay trên bức tường treo thảm ở phòng trưng bày dài tầng dưới. Bức tường này không có cửa hay cửa sổ, nhưng ở một vài chỗ lớp giấy đã bị rách toạc để lộ nền gạch đá phía sau.
Bức tường ở bên phải không có cửa sổ; bức tường phía bên trái ban đầu có ba cửa sổ, nhưng hai ô đã bị xây gạch bịt lại. Ô cuối cùng có một cửa chớp, được gập lại sang hai bên thành của hốc cửa sổ.
Ngoài chùm đèn ra chẳng có đồ đạc gì cả.
“Nó không 'đỏ'; lắm, phải không?” George nói. Đó cũng là điều tôi nghĩ.
“Việc đầu tiên nào,” Lockwood nói dứt khoát. “Lucy, hãy giúp tôi tạo một vòng tròn. George, đảm bảo lối rút cho chúng ta nhé.”
Dùng răng ngậm đèn pin, Lockwood và tôi mở những chiếc túi vải len thô và lôi ra những sợi xích sắt nặng nề dày năm phân. Chúng tôi đặt chúng xuống sàn nhà và bắt đầu tạo thành hình tròn cần thiết - lớp phòng thủ của chúng tôi đối với bất cứ thứ gì chờ đợi trong căn phòng này.
Trong khi đó George đang cúi xuống chiếc ba lô của mình. Cậu kéo khóa túi hông và lần tìm bên trong. “Tôi có một chiếc TBCC chống Khách đâu đó trong này,” cậu nói. “Chờ một chút...”
“TBCC?” tôi hỏi.
“Thiết bị chặn cửa. Một công nghệ mới nhất. Mua của Satchell. Đắt, nhưng xắt ra miếng. À, đây rồi.” Cậu giơ ra một miếng gỗ hình tam giác gọt nham nhở.
Tôi nhìn nó. “Chẳng phải đó chỉ là một miếng nêm sao?”
“Không. Một cái TBCC, cô bạn ạ. Một cái TBCC. Nó có lõi sắt.”
“Trông như cậu vừa tìm được nó trong thùng rác ấy? Cậu trả bao nhiêu cho nó vậy?”
“Tôi không nhớ nữa.” George đá nó thật chắc vào vị trí, để cánh cửa khép hờ. “Cậu thích gọi nó là gì thì tùy. Nó sẽ chặn không để cửa đóng lại, và điều đó có thể giữ lại mạng sống cho chúng ta.”
Về điểm đó thì cậu đúng. Trong vụ Yêu Tinh Shadwell năm ngoái, hai thám tử của Grimble đã bị ngăn cách với các đồng sự của họ khi cánh cửa nhà tắm đột ngột đóng lại sau lưng. Cánh cửa sập lại rất nhanh; không ai có thể vượt qua được, và hai thám tử đã bị luồng xoáy những mảnh sành sứ quật tới chết. Khi tai họa đó qua đi, cánh cửa lại mở bung dễ dàng.
“Rải cả muối ở cửa vào nữa nhé,” Lockwood nói. “Cho chắc.” Lúc này chúng tôi đã làm xong vòng xích sắt và kéo những chiếc túi vào bên trong. “Được rồi, chúng ta sẽ rút lui vào trong này nếu có bất kỳ ai kêu rút. Nhiệt độ?”
“Sáu độ,” George nói.
“Tới giờ thì vẫn ổn. Hiện giờ đây dường như là nơi yên tĩnh nhất trong ngôi nhà này. Hãy tận dụng điều đó. Chúng ta sẽ đi tìm những cánh cửa ẩn. Nó là bức tường cuối phòng, phải không George?”
“Đúng vậy. Chúng ta sẽ tìm bất cứ dấu hiệu nào của một lối vào bị che giấu. Những nút bấm, thanh gạt, những thứ kiểu như thế. Thử gõ để tìm những vùng rỗng nữa.”
“Được rồi. Lucy và tôi sẽ tiến hành đợt tìm kiếm đầu tiên. George, hãy ở đây quan sát yểm trợ chúng tôi.”
Lockwood và tôi đi tới đầu kia của bức tường, giày của chúng tôi vang vọng vào khoảng không trống rỗng, những luồng sáng đèn pin được tụ nhỏ lại để hạn chế ảnh hưởng đến những giác quan bên trong của chúng tôi. Tôi chọn góc bên trái, không xa lắm từ ô cửa sổ không bị xây bít lại. Xuyên qua lớp kính bụi bặm tôi chỉ có thể loáng thoáng thấy ánh sáng từ một ngôi làng ở phía xa và một vài ngôi sao mùa đông.
Tôi tắt đèn pin đi và rờ tay dọc bức tường. Nó dường như khá nhẵn, giấy dán tường phẳng và không bị rách. Tôi bước sang ngang, sờ từ trên xuống dưới. Thỉnh thoảng tôi dừng lại và lắng nghe, nhưng tất cả vẫn tĩnh lặng.
“Có ai ngửi thấy không?” Lockwood đột nhiên nói. Hình bóng cậu hiện ra ở rìa luồng sáng đèn pin. Cậu đang nhăn trán, chun mũi lại.
“Ngửi thấy gì cơ?”
“Thứ gì đó ngọt nhưng chua... Tôi chẳng thể nghĩ được nó là cái gì. Nó quen mà lại lạ.”
“Có vẻ đó là mùi Lucy đấy,” George bình phẩm. Cậu ở đằng sau chúng tôi, ngay chính giữa căn phòng.
Thời gian trôi qua. Tay Lockwood gặp tay tôi trong bóng tối; chúng tôi đã đến giữa bức tường. Sau một khoảnh khắc mỗi chúng tôi lại bắt đầu quay trở lại theo lối mình đã tiến đến, lần này lấy đốt ngón tay gõ nhẹ lên bề mặt.
“Một vài luồng sinh chất đang hình thành đấy,” George nói to.
“Cậu muốn bọn tôi dừng lại không?”
“Tạm thời cứ tiếp tục đi.”
Cuối cùng, ở gần cuối bức tường, nơi góc gần cửa sổ, tôi dò được một sự thay đổi nhỏ trong âm thanh. Âm vang từ tiếng gõ của tôi dường như cao hơn và dội rõ hơn, như thể vọng lại từ một không gian phía bên trong.
“Có lẽ tôi bắt được gì đó ở đây,” tôi nói. “Có một chỗ nghe có vẻ rỗng. Nếu các cậu...”
“Cái gì thế?” George nói. Tất cả chúng tôi đều nghe thấy nó: ở đâu đó trong bóng tối, có một tiếng tách nhẹ, dứt khoát. Lockwood và tôi quay lại.
“Quay trở lại vòng tròn,” George nói. “Và cứ để đèn pin tắt nhé. Chúng ta sẽ dùng đèn pin của tôi.” Luồng sáng đèn pin của cậu cẩn trọng và chậm rãi quét qua chúng tôi khi chúng tôi vội vã quay trở lại với cậu, nó chiếu lên trần, những bức tường và sàn nhà. Tất cả dường như vẫn y nguyên như cũ.
Hay là không? Có thứ gì đó đã thay đổi trong không gian một cách âm thầm, kín đáo.
Chúng tôi đứng xoay lưng vào nhau ở giữa vòng tròn, vai ép sát vào nhau.
“Tôi tắt đèn pin đi đây,” George nói.
Cậu làm thế. Chúng tôi căng mắt nhìn vào bóng tối của căn phòng trống rỗng.
“Lucy,” giọng Lockwood vang lên, “cậu nghe thấy gì?”
“Tiếng thì thầm đó đã nổi lên,” tôi nói. Đột nhiên nó trở nên rất to. “Như lúc trước ấy. Một loạt những giọng nói xấu xa.”
“Cậu có biết nó phát ra từ đâu không?”
“Chưa biết được. Có vẻ ở khắp xung quanh.”
“Được rồi. George: Cậu nhìn thấy gì?”
“Ánh sáng kéo thành dải hoặc cuộn lại. Sáng rõ, nhưng vụt qua. Không tập trung ở chỗ nào cụ thể.”
Yên lặng một chốc. “Còn cậu, Lockwood?” tôi hỏi.
Cậu nặng nề nói. “Lúc này tôi có thể nhìn thấy những đốm-sáng-chết.”
“Nhiều hơn một à?”
“Lucy, có tới hàng chục ấy. Tôi không biết tại sao trước đó tôi lại không nhìn thấy chúng. Toàn bộ căn phòng này là một buồng hành hình...” Cậu hít một hơi. “Tất cả mọi người hãy rút kiếm ra.”
Ba đôi vai nhô lên và dịch chuyển. Có một tiếng soạt đồng loạt của sắt.
“Chúng cảm nhận được đấy,” George nói. “Những làn khói vừa trở nên hỗn loạn. Giờ chúng đã trật tự trở lại.”
“Lucy?”
“Tiếng thì thầm trở nên to hơn, giận dữ hơn, rồi lại tắt đi. Chúng ta phải làm gì?”
“Cái mùi đó!” Lockwood nói. “Nó lại xuất hiện. Rất mạnh! Chắc chắn các cậu có thể...” Cậu khẽ kêu lên một tiếng bực dọc. “Chẳng lẽ cả hai cậu đều không ngửi thấy hay sao?”
“Không,” tôi nói. “Lockwood - tập trung nào. Chúng ta phải làm gì? Chúng ta rút lui không?”
“Tôi nghĩ chúng ta phải rút thôi. Có thứ gì đó khủng khiếp sắp xuất hiện. Aaa... những đốm sáng đó chói quá!” Tôi có thể nghe thấy cậu sờ soạng tìm kính râm rồi vội vã đeo nó lên.
“Nhưng chẳng phải Lucy nói cậu ấy đã tìm thấy một cánh cửa sao?” George nói. “Chúng ta có nên...”
“Không phải một cánh cửa,” tôi nói. “Tôi thấy một tiếng thụp rỗng, như thể tường chỗ ấy mỏng hay sao đó.”
“Dù gì chuyện đó cũng không quan trọng,” Lockwood nói. “Chúng ta sẽ rời căn phòng này ngay bây giờ.”
Một tiếng tách nữa vọng lên trong bóng tối, không gắt nhưng nặng nề, y như tiếng ban đầu. Một tiếng nữa vang lên theo. Và rồi một tiếng nữa.
“Nó vang lên giữa chúng ta và cửa ra,” George nói.
“Không, không phải thế.”
“Yên lặng nào,” Lockwood nói. “Cứ nghe đã.”
Tách, tách, tách... đều đặn và chậm rãi: tôi đo được năm tiếng tim đập nhanh giữa mỗi tiếng gõ. Thật khó để nói tiếng động đó phát ra từ đâu, hoặc nó là gì, nhưng nó có vẻ quen thuộc. Tôi đã từng nghe thấy tiếng động như thế trước kia rồi. Vì một lý do nào đó căn phòng tắm ở Portland Row hiện lên trong trí óc tôi - căn phòng tắm ở tầng dưới, nơi thỉnh thoảng tôi xuống tắm vòi hoa sen, và là nơi đống đồ lót của George nằm vương vãi đợi những bàn chân vô ý giẫm vào. Đầu tiên tôi nghĩ có thể chính linh tính báo trước sự nguy hiểm giống nhau đã tạo nên sự liên hệ đó; rồi tôi chợt nhận ra nó là một thứ khác. Đầu vòi tắm trong phòng tắm đó bị hỏng. Nó rỉ nước tí tách.
Tách, tách, tách...
“Bật đèn pin của cậu lên, Lockwood,” tôi thì thầm. “Chiếu ngay đằng trước cậu ấy.”
Cậu nghe theo mà không hỏi lại gì. Có lẽ cậu cũng đã nhận ra.
Luồng sáng rơi xuống những tấm ván sàn như một chiếc vòng vàng mỏng manh. Có thứ gì đó màu đen khác thường nằm ở trung tâm của nó, trông như thể một con nhện méo mó với vô số cái chân. Tách. Một cái chân mới mọc ra, lan sang bên. Tách. Một cái chân khác: dài hơn, mảnh hơn, vươn xa trên nền gỗ... Với mỗi tiếng tách lại có một chuyển động nhanh như chớp ở trung tâm của khối hình. Thứ màu đen đó sáng loang loáng. Một sắc đỏ ánh lên.
Lockwood chầm chậm chếch ngọn đèn pin lên trên, vừa đúng lúc bắt được giọt tiếp theo nhỏ xuống giữa không trung. Cậu chiếu đèn pin lên trần nhà thạch cao, nơi một vết ố rộng hơn, sẫm màu hơn đang loang ra dọc theo đường gở xoáy trôn ốc. Ở trung tâm của nó, một thứ đặc sánh và tối màu như nước mật đang trũng xuống, nặng dần hơn và nhỏ thành từng giọt - bắn tóe xuống sàn nhà phía dưới.
“Giờ tôi đã biết cái mùi đó là gì rồi,” Lockwood lẩm bẩm.
“Máu...” tôi nói.
“Hừm, tất nhiên, về cơ bản đó là sinh chất,” George nói. “Chỉ là Khách chọn một vẻ bề ngoài khác thường, không theo kiểu kết cấu cơ thể, mà...”
“Tôi không quan tâm về cơ bản là thế nào, George!” tôi hét lên. “Nó trông giống máu, mùi như máu. Đối với tôi nó là máu.”
Thậm chí ngay cả khi chúng tôi đang quan sát, sức nặng của chất tụ lại trên trần nhà trở nên quá lớn để thoát ra thành một dòng chảy đều đều duy nhất. Nó nhỏ xuống một dòng ở một chỗ thứ hai, gần chúng tôi hơn một chút, và tốc độ rơi nhanh hơn. Tôi cũng bật đèn pin của mình lên và nhìn thấy vết đen trên sàn đang loang ra. Những ngón tay máu khúc khuỷu đang vươn tới chuỗi xích sắt của chúng tôi.
“Đừng để nó lại gần các cậu,” George nói. “Nó sẽ gây ra ma chạm như bất cứ loại sinh chất nào khác đấy.”
“Chúng ta đi thôi,” Lockwood nói dứt khoát. “Thu túi lại. Không, quên đám xích sắt đó đi; chúng ta mang chỗ dự phòng đi. Sẵn sàng chưa? Nhanh nào. Theo tôi.”
Chúng tôi bước qua vòng xích sắt và chạy cắt qua phòng, tránh xa thứ vật chất đang lan tỏa. Ác tâm phát ra thành muôn vàn làn sóng. Căn phòng lạnh như băng.
“Tạm biệt nhé, nhẹ cả nợ,” George nói khi chúng tôi tiến đến cánh cửa.
Nhưng khi chúng tôi đến đó nó đã đóng chặt.
Trong một khoảnh khắc cả ba chúng tôi sững lại. Tôi cảm thấy một cuộn dây hoảng hốt trơn tuột đang thắt rất chặt ngang bụng. Lockwood bước lên trước. Cậu nhanh chóng sải ba bước tới sát cửa và thử mở ra. Cậu lắc tay nắm một cách khẩn trương. “Đóng chặt rồi,” cậu nói. “Tôi không mở ra được.”
“Chuyện quái quỷ gì xảy ra với cái nêm đó vậy?” tôi nói.
Giọng George yếu ớt. “Cái TBCC.”
Tôi chửi thề một câu tục tĩu. “Tôi cóc quan tâm nó được gọi là gì, George! Nó không có tác dụng! Cậu đã không chèn nó đủ chặt.”
“Tôi chèn nó chặt mà.”
“Không, cậu chỉ đẩy nó vào bằng BCB của cậu! Tiện thể nói luôn, BCB là Bàn Chân Béo đấy.”
“Im đi, Lucy!”
“Cả hai cậu im đi,” Lockwood càu nhàu, “và giúp tôi mở cánh cửa này được không?”
Chúng tôi cùng nhau nắm chặt tay nắm cửa và giật mạnh hết sức có thể. Cánh cửa chẳng hề nhúc nhích.
“Chìa khóa đâu rồi?” tôi hỏi. “Lockwood - chiếc chìa khóa. Cậu đã làm gì với nó?”
Cậu ấy lưỡng lự. “Tôi để nó ở cánh cửa rồi.”
“Ồ, thế mới tuyệt làm sao,” tôi nói. “Giữa cậu và George, có lẽ chúng ta nên đặt một tấm biển cho Khách trên đó đề ‘Cứ tự nhiên’.”
“Tôi dám chắc với cậu là tôi đã lèn chặt nó rồi,” George gào lên. “Và tôi đã rải cả muối nữa.” Cậu ấy hằn học đá vào những hạt muối nằm dưới giày chúng tôi. “Thấy chưa? Đáng lẽ chúng chẳng thể nào lại gần cánh cửa được.”
“Bình tĩnh nào,” Lockwood nói. Cậu lại chiếu đèn pin ngược lên trần nhà, nơi một nhánh máu mới đã bắt đầu tuôn xuống gần chỗ chúng tôi đứng tới đáng ngại. “Nó phản ứng theo nỗi sợ hãi của chúng ta. Hãy quay lại vòng xích nào.”
Chúng tôi xoay xở làm điều đó khá ổn, dù phải đi cắt ngang phòng một quãng đường xa hơn lúc trước. Một vài chỗ nhỏ giọt giờ đây đã mạnh lên thành những dòng chảy ngắt quãng, giống như vòi nước chưa đóng hết. Âm thanh chúng tạo ra giờ đây không còn là một chuỗi tách tách cụt ngủn nữa mà là tiếng chất lỏng rơi xuống liên tục. Đã có một vũng máu khá lớn loang ra trên nền nhà.
“Chúng ta sắp bị bao vây rồi,” tôi nói. “Không biết nó có bao nhiêu sinh chất vậy?”
“Nó mạnh quá,” George thì thầm. “Nó không phải một Loại Hai bình thường đâu. Yêu Tinh có thể có siêu năng lực dịch chuyển đồ vật từ xa để có thể sập cửa, giữ cho cửa đóng chặt, xoay chìa khóa - nhưng lại không có khả năng hiện hình. Thứ máu kia cho thấy nó là dạng Biến Hình, chắc chắn rồi. Nhưng Biến Hình không xoay chìa khóa...”
“Tôi ngốc quá,” Lockwood nói. “Thực sự ngu ngốc. Tôi đã đánh giá thấp mọi thứ... Lucy, chúng ta sẽ phải tìm lối ra bí mật đó. Cậu phải chỉ cho chúng tôi thấy nơi cậu cảm thấy bức tường có sự khác biệt.”
Một cánh tay máu vươn nhanh từ vũng máu trung tâm ở trên sàn. Đầu mút của nó lao tới gần sợi xích sắt và rụt lại, phun xèo xèo tung tóe. Không khí đặc quánh mùi máu; thật khó thở.
“Hoặc chúng ta có thể ở đây...” tôi nói. “Ít nhất thì nó cũng không thể vào bên trong được.”
George hét lên một tiếng; tôi cảm thấy cậu nhảy sang một bên. Cậu vấp vào đám túi vải len thô và suýt chút nữa ngã ra bên ngoài vòng xích sắt.
Lockwood cáu bẳn. “Cậu làm cái quái gì...?” Cậu chiếu đèn pin sang. George khom người trên những chiếc túi, tay túm chặt áo khoác. Một dải khói cuộn lên từ vai cậu.
“Phía trên,” cậu nói bằng giọng khàn khàn “Nhanh lên.”
Luồng đèn pin vụt lên phía trên. Ở đó là chiếc đèn chùm bám đầy bụi và mạng nhện. Một dòng chất lỏng đỏ đã tuôn xuống từ trần nhà, tới trục trung tâm đèn, và chảy ra theo một tay đỡ pha lê cong cong. Ở điểm thấp nhất của nó một giọt máu mới đang chầm chậm hình thành.
“Nó... nó không thể làm thế,” tôi lắp bắp. “Chúng ta đang ở bên trong vòng sắt.”
“Tránh ra!” Lockwood đẩy tôi lùi lại vừa kịp trước khi giọt máu đó rơi xuống, bắn tung trên sàn nhà ở trung tâm vòng tròn. Tất cả chúng tôi đều hầu như đứng cả trên chiếc xích sắt. “Chúng ta đã làm vòng quá rộng,” cậu ấy nói. “Năng lượng của sắt không vươn tới được tâm. Nó không đủ mạnh ở đó, trong khi Khách này đủ mạnh để vượt qua.”
“Điều chỉnh vòng xích vào trong đi...” George bắt đầu.
“Nếu chúng ta làm cho vòng tròn nhỏ lại,” Lockwood nói, “chúng ta sẽ bị bóp nghẹt vào một không gian chật hẹp. Giờ mới vừa là nửa đêm thôi; chúng ta còn bảy tiếng nữa mới tới bình minh còn cái thứ này thì vừa mới bắt đầu thôi. Không, chúng ta phải phá vòng vây thoát ra - và điều đó có nghĩa là tới góc của Lucy. Nào, đi thôi.”
Cầm đèn pin chĩa lên trên đầu, chúng tôi bước ra khỏi vòng tròn ở bên đối diện với vũng máu đang lan ra, và bắt đầu di chuyển vòng về phía góc trái của bức tường cuối căn phòng. Nhưng chúng tôi chẳng nhanh hơn được bao nhiêu so với những vệt đen đặc vươn ra trên trần, đang chảy nhanh theo hướng chúng tôi. Sợi dây hoảng hốt dưới bụng tôi thắt lại chặt hơn; tôi cố gắng để không hét lên.
“Đợi đã,” tôi nói. “Nó cảm nhận được chúng ta đang ở đâu. Nếu tất cả chúng ta tới đó, nó sẽ nhanh chóng dồn được chúng ta.”
Lockwood gật đầu. “Cậu nói đúng. Giỏi lắm. Nào, George. Chúng ta sẽ đánh lạc hướng nó. Lucy: cậu lại đó và tiếp tục tìm kiếm.”
“Được rồi...” tôi vội vã nói. “Nhưng sao lại là tôi?”
“Cậu là con gái,” Lockwood nói to. “Chẳng phải cậu sẽ nhạy cảm hơn sao?”
“Với cảm xúc, đúng. Với những sắc thái hành vi của con người. Không nhất thiết là với những lối đi bí mật ở trong tường.”
“Ồ, cũng như nhau cả thôi. Ngoài ra về căn bản tôi và George cũng chỉ biết mỗi vung kiếm thôi.” Cậu uyển chuyển đi ngang phòng, vừa vung đèn pin loạn xạ vừa giơ cao tay ngoáy thanh kiếm về phía trần nhà. George cũng làm tương tự, nhưng về phía một góc khác.
Khách đã bị đánh lạc hướng hay chưa, tôi không có thời gian để nhìn. Tôi cất thanh kiếm của mình đi, chỉnh đèn pin về mức yếu nhất, cắn chặt nó giữa hai hàm răng để có thể nhìn loáng thoáng thấy mình đang ở đâu. Ở bên trái tôi là hốc tường cửa sổ. Phía bên kia lớp kính là không khí mát lạnh của buổi đêm, và độ cao chín mét ngã-là-chết-chắc xuống con đường rải sỏi phía dưới. Ai mà biết được, có khi chúng tôi sẽ phải nhảy xuống trước khi bị kết liễu. Có lẽ chết kiểu đó thì tốt hơn.
Mồ hôi tuôn ròng ròng xuống mặt tôi bất chấp cái lạnh. Hai tay tôi run lẩy bẩy khi tôi đặt chúng lên bức tường. Như trước đó, tôi rờ tay khắp khu vực nơi tôi đã thấy tiếng vọng rỗng kia.
Không ích gì. Chẳng có gì khác ngoài bề mặt trơn nhẵn.
Tôi đã tới góc tường, rờ lên rờ xuống dọc theo phần tiếp giáp. Đột nhiên tôi thử kiểm tra cả bức tường bên cạnh. Có lẽ ở đó có một cái công tắc hoặc một cánh cửa. Tôi nhón chân kiễng cao hết mức có thể. Tôi cúi xuống thật thấp. Tôi ấn và đẩy. Tôi xô. Tôi làm tất cả những điều đó cho tới khi đến hốc cửa sổ. Vẫn không tìm được gì.
Nhìn lại, tôi thấy chiến thuật của chúng tôi đã có tác dụng ở một mức độ nào đó. George và Lockwood đang múa may ở những góc đằng xa của căn phòng, biến cơn hoảng hốt của họ thành những tiếng hò reo, huýt sáo, và những lời sỉ nhục thậm tệ nhằm vào Khách. Đáp lại, vũng máu trên trần nhà đã tõe ra những nhánh mới: những dòng chảy dài giận dữ của máu tỏa đi xung quanh chùm đèn, phóng về phía họ.
Nhưng tôi cũng không bị lãng quên. Tôi kinh hoàng thấy một dòng máu đã vươn gần tới chân mình trên sàn nhà. Phía trên cao, một cánh tay của khối máu trung tâm đã tiến lại gần tôi đến đáng ngại, và từ đó, một dòng chảy nhỏ, sẫm màu đang rơi xuống. Những vệt màu đen bắn tung lên những tấm ván sàn cạnh giày tôi. Một vết rơi vào gót giày tôi. Có một tiếng xì xì; một làn khói trắng mỏng cuộn lên khi tôi nhảy lên bậu cửa rộng bên dưới cửa sổ để tránh.
Thế này không ổn rồi. Giờ tôi đứng trước nguy cơ bị bủa vây hoàn toàn. Tôi xoay người, cúi thấp, chuẩn bị nhảy xuống - và khi tôi làm thế, ngón tay tôi chạm vào cánh cửa chớp bằng gỗ đã được gập lại bên thành của hốc cửa sổ. Tôi nhìn nó. Và trong khoảnh khắc tuyệt vọng đó, ý tưởng chợt nảy ra.
Tôi vặn đèn pin sáng lên hết cỡ chiếu vào cửa chớp. Đó là loại cánh chớp một bên, cao bằng hốc cửa sổ và rộng gần như thế. Ở lưng nó, gần cửa sổ, những chiếc bản lề đen to lớn gắn chặt nó vào mặt đá. Nếu ta kéo nó ra, nó sẽ mở rộng che lấy lớp kính.
Và - cũng có thể - sẽ để lộ ra thứ gì đó.
Tôi nắm lấy cánh cửa chớp gỗ, cố kéo nó về phía mình. Tôi muốn nhìn thấy đằng sau đó - nhỡ đâu có gì. Ở đâu đó, có thứ gì đó lỏng ra. Tôi cảm thấy cánh cửa chớp chuyển động. Tôi lia nhanh đèn pin để nhìn - và thấy một vết nứt đã mở ra, một khoảng trống đủ rộng để nhét ngón tay vào. Có lẽ chẳng có gì ngoài mặt đá phía sau; có lẽ nó thực sự là một cánh cửa chớp. Hoặc có lẽ...
“George! Lockwood!” Tôi ngoái lại gọi to, xuyên qua những cột máu đang tuôn xuống. “Có lẽ tôi đã tìm ra nó! Nhanh lên - tôi cần các cậu giúp!”
Không chờ đợi, tôi kéo cánh cửa gỗ. Tôi ráng sức giật mạnh. Nó chẳng hề di chuyển.
Có thứ gì đó xô tôi sang một bên. Đó là Lockwood, đang lao mình vào hốc cửa sổ. Máu đã chảy tới gần rìa phòng. Cậu đã phải ép sát người vào tường khi chạy tới rìa cửa sổ. George tăng tốc phía sau cậu, thanh kiếm chếch lên một góc phía trên đầu. Những giọt máu rơi xuống bắn tóe trên mũi kiếm, xèo xèo và lóe sáng khi chạm vào lười sắt. Cậu nhảy tới sát chúng tôi. Không ai nói gì. George đưa tôi thanh kiếm. Cậu và Lockwood nắm lấy cánh cửa gỗ, gắng hết sức mình và kéo.
Tôi quay người lại giơ thanh kiếm lên phía trên chúng tôi như thể một tấm khiên chẳng mấy tác dụng.
Vệt máu trên trần nhà lúc này đã dàn ra hầu như tới hết các mép tường; ở góc của chúng tôi, còn lại duy nhất một khoảng hình tam giác sạch sẽ. Từng luồng máu tuôn xuống thành lớp màn, sôi sục, quay cuồng, giật như làn mưa trong con bão. Sàn nhà đã ướt sũng. Máu đọng thành vũng dưới khe ván sàn và ào lên liếm vào chân tường. Chùm đèn cũng đang nhỏ máu: pha lê phát ra ánh sáng đỏ. Giờ tôi đã biết tại sao căn phòng lại không có bất cứ thứ đồ đạc gì, và tại sao nó lại bị bỏ hoang nhiều năm như thế. Giờ tôi đã biết tại sao nó lại có cái tên như vậy.
George thở hổn hển; Lockwood kêu lên một tiếng, họ ngã ra phía sau, xô vào người tôi, kéo cánh cửa chớp bật mở. Đằng sau nó, mạng nhện bện lại như những lọn tóc xác chết. Ánh đèn pin của tôi cho thấy cả bóng tối nữa - một khung vòm hẹp bên trong bức tường.
Máu đã bắn tung lên góc cửa chớp và trên mũi kiếm chếch lên của tôi. Tôi cảm thấy máu xèo xèo trên găng tay và cánh tay mình.
“Vào đi! Vào đi!” tôi ra hiệu với bọn họ; họ đổ nhào vào bên trong. Tôi đi giật lùi theo sau, bước từ bậu cửa sổ vào trong lớp đá cổ. Máu tuôn xuống mặt trong cửa chớp; chảy xuống các cạnh của hốc cửa sổ về phía chân tôi.
Ở bên trong cánh cửa chớp chúng tôi nhìn thấy một sợi dây xưa cũ, đầu buộc một vòng sắt. George và Lockwood nắm lấy nó, gắng sức kéo. Cánh cửa chầm chậm xoay vào bên trong. Máu chảy như thác qua khe cửa đang đóng dần, vẩy đầy lên cánh tay của George. Cậu chửi thề và ngã về phía sau; tôi cũng mất thăng bằng. Lockwood kéo một lần cuối cùng. Cánh cửa đóng ập - và chúng tôi bị bỏ lại trong bóng tối, lắng nghe tiếng máu dộng vào cửa và kêu ùng ục, máu của thứ không tên đang xả cơn cuồng nộ ở phía bên kia bức tường.