Cầu Thang Gào Thét

Lượt đọc: 119 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
CHƯƠNG 23

Tôi choàng tỉnh dậy trong đau đớn. Mắt tôi mở to, và trong một lúc lâu các chị em tôi đang đứng đó, cùng với Lockwood, và Annabel Ward trong bộ váy mùa hè đẹp đẽ in hình những bông hoa màu cam. Tất cả bọn họ đều đang cười với tôi; tôi nhìn thấy họ rất rõ ràng, hình dáng của họ khẽ nhòa vào nhau. Có lẽ họ đang trôi trên một loại mây khói nào đó.

Tôi không tin vào mấy thứ đó; chưa kể đầu tôi đang đau như búa bổ. Bởi thế tôi nhìn chòng chọc vào họ không chớp mắt cho tới khi họ tách rời ra và tan biến đi, và tôi bị bỏ lại ở một nơi tối tăm hơn, khác lạ hơn.

Tối, nhưng không phải tối đen như mực. Không gian ở đây mờ mờ một ánh sáng bạc.

Yên lặng, nhưng không yên lặng hoàn toàn. Tôi nghe thấy tiếng vo ve trong tai mình.

Đó là tiếng vo ve nhỏ, cao vút như tiếng muỗi bay, và khi nghe thấy nó tôi ngay lập tức cảm thấy vui mừng. Bởi vì điều đó có nghĩa là tai tôi đang bị ù, và ù có nghĩa là tôi chưa chết. Tôi không ở cái nơi yên tĩnh dưới đáy giếng.

Thêm vào đó có mùi nồng nặc của khói và thuốc súng, và có một vị hóa chất gì đó trên lưỡi tôi. Một bên mặt tôi đang ép xuống nền đá cứng.

Khi động đậy tôi thấy đau. Như thể lại bị ngã từ cửa sổ phòng đọc sách nhà ông Hope xuống lần nữa vậy; tất cả các cơ bắp đều đau nhức. Tôi có thể cảm thấy một lớp bụi mỏng rơi ra khỏi tóc và da khi tôi lăn sang và chống người ngồi dậy.

Tôi đang ngồi ở một góc đằng xa của căn hầm kinh khủng, nơi sức ép của vụ nổ đã hất tôi tới. Trán tôi dính nhớp nháp máu. Người tôi - cũng giống như tất cả những thứ khác trong căn phòng này - đã bị bao phủ bởi một lớp tro và bụi sắt trắng bạc vẫn còn đang lơ lửng trong không khí. Tôi ho và khạc những thứ bám đầy trong miệng ra. Cơn ho khiến đầu tôi càng thêm nhức nhối.

Một cột khói trắng nhờ nhờ chầm chậm bốc lên từ lòng giếng ở giữa phòng. Nó được chiếu rọi bởi một thứ ánh sáng bạc chói lọi đầy giận dữ từ đáy giếng sâu phía dưới, một thứ ánh sáng kỳ quái bùng lên từng đợt. Cả căn phòng được ánh lửa magiê soi tỏ. Ở đâu đó, những tiếng vọng yếu ớt vẫn vang lên; tôi có thể cảm thấy những rung động trong đá.

Ở mép giếng, một vài hòn gạch đã biến mất, và một vết nứt cong cong giờ đã chạy từ thành giếng qua sàn nhà. Một phần của sàn nhà bị dựng nghiêng lên. Ở chỗ vết nứt chạm vào tường, nhiều viên đá đã bị bung ra; vài viên rơi xuống, còn những viên khác trồi ra ở những góc nghiêng lộn xộn. Những mảnh đá nhỏ hơn nằm rải rác khắp căn phòng. Nhiều mảnh rơi trên các cơ thể đang nằm ở đó.

Ba thân người, bị bao phủ bởi bụi trắng. Ba thân người, nằm rải rác bởi vụ nổ từ cái giếng. Tất cả đều bất động.

Với cậu trai Fittes tội nghiệp thì khá dễ hiểu. Cậu ta đã nằm như thế từ lâu rồi.

Nhưng Lockwood và George...

Tôi đứng dậy chậm rãi và thận trọng rồi dựa người vào tường. Mặc dù đầu óc còn chuếnh choáng, tôi vẫn cảm thấy tốt hơn nhiều so với khi tiếng gào thét xâm chiếm tâm trí tôi. Sau khi bị các hồn ma tấn công, dường như trí óc tôi đã bị hổng một lỗ; tôi cảm thấy nhẹ bẫng người và trống rỗng, như thể tôi là một người bệnh vừa mới ra khỏi giường.

George ở gần nhất. Cậu nằm ngửa, tay chân giạng ra. Trông cậu như một đứa bé đang làm thiên thần trên tuyết, mỗi tội cặp kính đã bị thổi bay và một bàn tay đang chảy máu. Cậu thở nặng nhọc; bụng phập phồng.

Tôi quỳ gối sát vào cậu. “George ơi?”

Một tiếng rên, một tiếng ho. “Quá muộn rồi. Mặc tôi... Để tôi ngủ...”

Tôi lắc cậu thật mạnh, tát vào một bên má cậu. “George, cậu phải thức dậy! Đi mà, George. Cậu ổn chứ?”

Một con mắt mở ra. “Au. Bên má đó là chỗ duy nhất trên người tôi không đau.”

“Đây, nhìn này - kính của cậu.” Tôi nhón nó ra khỏi tro bụi, đặt nó lên ngực cậu. Một bên mắt kính đã bị nứt. “Cậu dậy đi.”

“Lockwood thì sao?”

“Tôi không biết.”

Tôi tìm thấy cậu ở phía đối diện của căn phòng, nằm nghiêng người với chiếc áo khoác hất ra phía ngoài như một cái cánh gãy. Cậu nằm bất động. Khuôn mặt bị lớp tro bụi phủ kín, trông giống như một bức tượng thạch cao, trơn mịn, trắng toát, lạnh lẽo. Một mảnh vữa đã văng trúng cậu, và trên tóc cậu có vết máu. Tôi quỳ xuống bên cạnh, gạt tro bụi khỏi trán cậu.

Cậu mở mắt ra và nhìn tôi với ánh mắt trong trẻo, thanh thản.

Tôi hắng giọng. “Chào, Lockwood...”

Tri giác đã trở lại. Tôi nhìn thấy vẻ bối rối trước, rồi sau đó cậu dần dần nhớ lại.

“Ồ... Lucy.” Cậu chớp chớp mắt, ho hắng và cố ngồi dậy. “Lucy. Trong thoáng chốc tôi đã nghĩ cậu... Thôi bỏ đi. Cậu thế nào, Lucy? Cậu ổn chứ.”

Tôi đột ngột đứng lên. “Ừ, tôi ổn.”

George quan sát tôi qua cặp kính bị nứt. “Tôi nhìn thấy rồi nhé.”

“Gì cơ?” tôi nói. “Nhìn thấy gì? Có gì xảy ra đâu.”

“Chính xác. Những cú vả vào miệng cậu ấy đâu? Những cú lay người dữ dội đâu? Đi làm mà cũng có tiêu chuẩn kép sao?”

“Đừng lo,” tôi nói. “Lần tới chắc chắn tôi sẽ vả cậu ấy.”

George càu nhàu. “Được lắm... Dù điều đó cũng có nghĩa lần sau cậu có thể sẽ tung vài cú đá để đánh thức tôi dậy.”

“Tôi chắc chắn sẽ nhớ làm thế.”

Luồng khói màu trắng bạc vẫn tiếp tục bốc lên từ miệng hố, và nhờ ánh sáng của nó chúng tôi trấn tĩnh trở lại. Chúng tôi đã thoát khỏi sức ép của vụ nổ một cách tương đối nguyên lành, dù cho cả Lockwood và George đều bị những mảnh vụn bắn vào, và tất cả chúng tôi vẫn còn đang run rẩy từ những gì đã xảy ra trước đó. Chúng tôi có kiếm đấy, nhưng sắt và muối đã hết. George vẫn còn xích sắt; Lockwood và tôi thì đã ném chúng xuống giếng rồi.

Điều đầu tiên chúng tôi làm là chia sẻ chỗ bánh kẹp và nước tăng lực còn sót lại. George và tôi ngồi trên một đống vôi vữa để ăn phần của mình, túm tụm vào nhau cho ấm. Lockwood đứng cách đó một quãng, đờ đẫn nhìn làn khói.

“Đáng lẽ chúng ta phải tấn công cái giếng đó ngay từ đầu,” George nói. “Tôi cho rằng chúng ta đã làm như thế, nếu như không có cái âm thanh quỷ quái kia làm chúng ta quẫn trí. Ắt hẳn đó chính là Nguồn. Là nơi chứa xương của các tu sĩ; nơi họ đã chết.”

Tôi gật đầu mà không nói năng gì. Đúng vậy, đó là nơi họ đã chết - sau khi bị trói vào nhau và dẫn xuống cầu thang. Họ đã biết điều gì sắp đến. Nỗi sợ hãi trong hành trình cuối cùng của họ đã thấm vào đá...

“Giờ tôi đã thấy mọi thứ khớp với nhau,” George tiếp tục. “Linh hồn của các tu sĩ đã ở đây nhiều đời, và cái chết của họ khủng khiếp đến nỗi ảnh hưởng của họ đã lan tỏa ra toàn bộ tòa nhà. Nó là cơ sở cho tất cả các Khách khác. Chính những điều xảy ra trong căn phòng này đã khiến rất nhiều người tới ở trong tòa dinh thự sau đó phát điên và làm những điều kinh khủng.”

“Tất cả những công tước giết chóc và những quý bà tự tử mà Starkins rất yêu thích,” tôi nói. Tôi nuốt miếng bánh kẹp cuối cùng. “Cậu nghĩ giờ tất cả đã kết thúc rồi chứ?”

“Hy vọng thế.” George nhìn làn khói hừng hực. “Ống pháo đó hẳn đã rải rất nhiều sắt, bạc và magiê xuống dưới ấy. Nếu may mắn nó sẽ trộn đều với những khúc xương, và điều đó sẽ giữ tình hình yên tĩnh cho tới khi chúng ta có thể bịt cái giếng lại. Cây cầu thang sẽ an toàn. Và có lẽ cả Căn Phòng Đỏ nữa.”

“Cậu nghĩ thứ máu ở đó có liên hệ với các tu sĩ sao?” tôi hỏi.

“Tôi tin đó chính là họ, chỉ hiện hình khác đi thôi. Họ là những Biến Hình: họ có hình dạng khác nhau ở những địa điểm khác nhau. Dòng máu chảy xối xả ở Căn Phòng Đỏ, những cái bóng gào thét ở cầu thang; ở dưới này họ thậm chí còn hiện thành hình người, dù đó không phải hình dạng ưa thích của họ. Tôi nói 'của họ' nhưng thực sự thì hồn ma của họ hành động gần như một cá thể duy nhất. Chính vì thế nó mới mạnh đến vậy. Việc hợp nhất như thế không phải chưa từng xảy ra. Chẳng phải từng có vụ Lâu đài Sherbourne rất nổi tiếng đó sao?”

“Có lẽ vậy. Cậu nghĩ thế nào, Lockwood?” tôi nói. “Cậu yên lặng quá đấy.”

Cậu không trả lời ngay, chỉ đứng nhìn làn khói. Bóng cậu mảnh mai và đen thẫm, áo choàng của cậu ấy rũ xuống và rách rưới như bộ lông một con chim gặp bão. “Tôi nghĩ thế nào ư?” cậu nói khẽ. “Tôi nghĩ tới giờ chúng ta đã suýt chết hai lần.” Cậu quay lại nhìn chúng tôi, mặt cậu đầy máu, tóc tai rối bởi; khi cậu cử động, tro bụi rơi khỏi người cậu như một đám mây nhỏ. “Tôi nghĩ chúng ta may mắn lắm mới sống sót. Tôi nghĩ rằng tôi đã hiểu ra vấn đề quá trễ, và đã đánh giá quá thấp kẻ thù của chúng ta. Đó là sai lầm không thể tha thứ đối với một người lãnh đạo, và tôi xin lỗi vì điều đó. Tuy nhiên,” - giọng cậu trở nên đanh sắc; cậu nói qua hàm răng nghiến chặt - “giờ tất cả những điều đó đã kết thúc.”

George và tôi nhìn cậu. “Ờ, thế tốt rồi,” tôi nói. “Vậy có lẽ cậu có thể nói với chúng tôi chính xác chuyện gì đang diễn...”

“Tôi cần cái gì để bẩy!” Lockwood hét to, đột ngột tới mức cả George và tôi đều giật mình. Cậu bỗng dưng hoạt bát trở lại, sải bước băng qua căn phòng, chiếc áo choàng rách rưới lật phật đằng sau cậu. “Một cái gậy, xà beng - hay thứ gì đó! Nào! Nhanh lên! Không được lãng phí thời gian!”

“Tôi có xà beng đây,” tôi nói và quờ xuống thắt lưng. “Nhưng...”

“Cái đó được đấy. Đưa đây.” Cậu giật chiếc xà beng từ tay tôi, lao qua phòng tới bức tường nứt vỡ và phang nó vào giữa hai hòn đá. “Đừng có ngồi không như thế,” cậu gầm gừ. “Các cậu đang đi picnic sao vậy? Chúng ta phải phá tường ở đây.”

“Khoan đã nào, Lockwood,” George cất tiếng khi tôi và cậu đang cố gắng đứng lên. “Chúng ta đang ở sâu dưới đất. Làm thế nào cậu biết đó có thể là lối thoát chứ?”

“Hãy nhìn làn khói!” Lockwood giật mạnh chiếc xà beng, bẩy một viên đá lỏng lẻo cho rơi xuống, và nhảy sang một bên khi nó nứt ra trên những phiến đá giữa hai chân cậu. “Nếu khói có thể thoát ra, chúng ta cũng vậy!”

Và đúng như thế, dù rằng cả George lẫn tôi đều đã không nhận ra trước đó, rằng khói từ cái giếng không tụ lại trong căn phòng; thay vì thế nó chạy ngang trần thành một dòng chảy màu xám nhạt, và bị hút ra ngoài giữa các tảng đá của bức tường nứt vỡ.

“Có chênh lệch áp suất,” Lockwood nói to. “Nó bị hút ra một không gian lớn hơn. Đó chắc là hầm rượu. Xuyên qua bức tường đó chắc hẳn là hầm rượu. Vụ nổ đã làm giúp chúng ta phân nửa công việc. Chúng ta chỉ cần tạo một cái lỗ to hơn thôi. Nào các cậu!”

Năng lượng của cậu đã thúc đẩy chúng tôi hành động. Rũ bỏ cảm giác lờ đờ mệt mỏi, George và tôi dùng dao cùng xà beng, những khối lỏng lẻo nhất thì gỡ xuống, những khối còn lại thì nạy cho rời ra. Bên cạnh chúng tôi, Lockwood làm việc hết tốc lực, ráng sức đẩy xà beng, và khi cần thiết, nạy những hòn đá bằng tay không. Mắt cậu lấp lánh; miệng cậu mím chặt thành một đường thẳng trắng bợt.

“Tối nay chúng ta đã đương đầu với hai vấn đề riêng rẽ,” cậu vừa nói vừa bổ vào lớp vữa. “Chúng dường như liên quan tới nhau, nhưng thực sự chúng rất khác biệt. Vấn đề đầu tiên, vụ ma ám ở dinh thự Combe Carey, đã kết thúc. Các tu sĩ đã ra đi, những vụ hiện hồn khác có thể dễ dàng bị dẹp bỏ. Nguy hiểm đã kết thúc ở đây. Vấn đề thứ hai” - cậu quẳng chiếc xà beng sang một bên và giúp George kéo một tảng đá cỡ trung ra khỏi bức tường - “liên quan tới ông bạn của chúng ta, ngài John William Fairfax, và câu chuyện đó thì vẫn chưa kết thúc.”

Hòn đá rơi xuống, vỡ thành những mảnh nhỏ. Tôi gạt những mảnh vụn ra. Lockwood và George quay trở lại tấn công khu vực yếu nhất ở nửa chừng bức tường.

“Vậy,” tôi nói. “Fairfax. Ông ấy thì làm sao?”

“Ngay từ đầu rõ ràng đã có thứ gì đó rất không ổn trong toàn bộ chuyện này,” Lockwood nói. “Lời mời tới đây của lão đã là một chuyện quá sức lạ thường. Đúng vậy, các điều khoản đều vô cùng hào phóng, nhưng nó lại khiến cho câu chuyện càng thêm kỳ lạ hơn nữa. Tại sao lão lại chọn mời chúng ta tới, trong khi lão có thể mời Fittes hoặc Rotwelll, hoặc một công ty bất kỳ trong hàng chục công ty thám tử khác? Danh tiếng của chúng ta gần đây... không tốt lắm, nhưng lão lại nói lão ấn tượng với nó.”

“Ông ấy cũng đã nói mình là người ngoại đạo mà,” tôi vừa nói vừa giật mạnh một hòn đá. “Ông ấy nói ông ấy thích sự nhiệt huyết và - cẩn thận chân cậu nhé! Ồ, xin lỗi, George - tư duy độc lập của chúng ta.”

Môi Lockwood nhếch lên. “Đúng vậy, đó là điều lão đã nói, phải không? Một tuyên bố khá thiếu thuyết phục, đặc biệt khi cậu đọc được về tuổi trẻ của lão và phát hiện ra lão đã thừa hưởng tất cả tài sản từ bố mình. Nhưng ngoài việc chọn chúng ta, thì còn ba câu hỏi khác làm tôi băn khoăn. Thứ nhất: tại sao lại là lúc này? Lão đã sở hữu tòa nhà này nhiều năm rồi, vậy sao lão lại đột nhiên tuyệt vọng muốn giải quyết mấy vụ ma ám tới thế? Thứ hai: tại sao lại vội vàng tới vậy? Lão chỉ cho chúng ta hai ngày để chuẩn bị! Và thứ ba: vì lý do gì mà lão cấm chúng ta không được mang pháo chứ?”

“Đúng vậy, tôi chẳng thể nào hiểu được vấn đề cuối cùng,” George nói. “Chẳng ai có đầu óc minh mẫn lại chịu đối đầu với Khách hạng A mà không có đủ pháo.”

“Chúng ta sẽ chịu,” Lockwood nói. “Và Fairfax biết điều đó. Lão biết chúng ta khao khát muốn kiếm tiền. Và lão cũng khao khát muốn mời chúng ta tới hệt như thế, tới nỗi lão đề nghị trả cho chúng ta 60.000 bảng tiền nợ, chỉ để chúng ta xuất hiện ở cửa. Với tôi điều đó hoặc là hào phóng tới mức điên khùng, hoặc có liên hệ tới một động cơ ngầm nào đó, và tôi muốn tìm ra nó là gì. Bởi vậy hành động đầu tiên của tôi, ngày tiếp theo, là ghé thăm làng Combe Carey một chuyến.”

“Chúng ta xuyên qua được rồi!” George nói. Cậu vừa vật lộn gỡ được một hòn đá nữa: một khoảng trống nhỏ lúc này đã hiện ra chính giữa bức tường nứt. Đằng sau đó là bóng tối và khoảng không trống rỗng.

Lockwood gật đầu. “Tốt lắm. Hãy nghỉ ngơi một phút. Mấy giờ rồi, Lucy?”

“Ba giờ sáng.”

“Đêm sắp tàn rồi. Chúng ta phải ra khỏi đây trước bình minh. OK, thế là tôi đã tới làng này. Tôi giả làm một người bán dạo, đi tới từng nhà một.”

“Bán cái gì cơ?” George hỏi.

“Bộ sưu tập truyện tranh của cậu, George. Ồ, đừng lo, tôi không bán được quyển nào đâu. Tôi đã đặt giá quá cao. Nhưng nó cho tôi một lý do để nói chuyện với người dân địa phương.”

“Và rồi cậu tiếp tục thế nào?” tôi hỏi.

Lockwood tỏ vẻ buồn rầu. “Lúc đầu cái giọng giả quê mùa của tôi không có tác dụng. Chẳng ai hiểu được tôi, và ba gã đánh xe ngựa lực lưỡng đã phật lòng mà đuổi tôi chạy vòng quanh hồ nước cối xay. Nhưng khi tôi sửa lại giọng, tất cả trở nên thuận lợi, và tôi đã nghe được một vài tin đồn về Fairfax. Tôi nghe được rằng lão thường tới ngôi nhà này cùng một xe tải của công ty lão. Nó chất đầy những món đồ sắt mới; và dân địa phương được trả tiền để mang những món đồ đó vào bên trong. Hầu hết chúng là những thứ đồ gia dụng bình thường - chắn cửa và đồ treo cửa sổ, các cậu biết đấy - nhưng còn có những thứ đồ chắc chắn phải lớn hơn, bởi vì chúng được chứa trong những thùng lớn. Vài ngày sau lão lại thuê người đưa chúng ra. Dân địa phương không nghi ngờ gì về điều lão đang làm - lão đang bận thử nghiệm tính an toàn của những sản phẩm mới trên những bóng ma của dinh thự Combe Carey. Bản thân điều đó,” Lockwood vừa nói vừa vuốt tóc và nhìn bức tường, “không có gì sai trái - tất cả các công ty đều phải làm như thế. Nhưng lại một lần nữa nó làm dậy lên những nghi vấn. Nếu lão thấy địa điểm này hữu ích đến vậy, tại sao lão lại đột nhiên muốn dẹp bỏ nó? Tại sao lại gọi chúng ta đến?”

“Và tại sao không nói với chúng ta rõ hơn về những mối nguy hiểm?” tôi thêm vào. “Nếu ông ta đã tiến hành những thử nghiệm ở đây, ông ta hẳn phải biết ít nhất là về Căn Phòng Đỏ, nếu không nói đến cây cầu thang ẩn giấu.”

“Chính xác... Các cậu biết đấy, tôi nghĩ chúng ta nên bẩy hòn to này tiếp theo. Nếu có thể đẩy nó ra, thậm chí cả George cũng có cơ hội thu mình chui qua.”

Tiếng đáp trả ngắn ngủi của George chìm trong âm thanh xà beng bổ vào đá. Chúng tôi gắng sức xử lý khối đá còn lại suốt vài phút nữa; và sau một hồi dồn toàn lực chúng tôi đã xoay xở bẩy nó ra được nửa chừng trước khi nó lại mắc kẹt một lần nữa. Rồi tất cả chúng tôi lại nghỉ.

“Nói tóm lại thì là như thế này,” Lockwood nói, “tôi đã vô cùng nghi ngờ Fairfax và động cơ của lão. Tôi có thêm cơ sở để suy ngẫm từ những nghiên cứu của George mà tôi đã đọc trên tàu. Về việc Fairfax đã khởi đầu một cách bừa bãi thế nào khi còn trẻ. Về việc bố lão muốn lão bắt đầu ngay vào việc kinh doanh, nhưng lão đã hoang phí nhiều năm sống ở London, rượu chè, cờ bạc và cố gắng trở thành diễn viên. Tất cả những điều đó sẽ không có ý nghĩa gì đối với tôi, nếu như không có bước đột phá quan trọng của Lucy.” Cậu ngừng lại đột ngột.

“Đó là?” George nói. Tôi mừng vì cậu đã hỏi; bản thân tôi cũng không biết.

“Cậu ấy đã chỉ tôi xem cái này.” Lockwood ngồi thẳng dậy và lục lọi hết đám túi trên áo choàng, lôi ra nào là những mẩu giấy gói kẹo đã dùng, nào là những mẩu nến và đoạn dây, trước khi lôi ra một mẩu giấy gấp nhàu nát. Cậu đưa nó cho chúng tôi.

Đó là một bản copy trang báo có bài viết trên cuốn tạp chí George tìm được ở Trung tâm Lưu trữ. Bài viết về cộng đồng những thanh niên trẻ tuổi, giàu có thường xuyên tụ tập ở các quán cà phê và sòng bạc năm mươi năm trước. Annie Ward ở đó, giữa đám đông bóng bảy đang tụ tập gần đài phun nước. Trong bức ảnh chân dung chụp riêng, khuôn mặt của Hugo Blake đang nhìn tôi đầy tự mãn.

“Hãy nhìn quanh đài phun nước,” Lockwood nói.

Thật khó để nhìn rõ các chi tiết trong ánh sáng mờ mờ từ lửa magiê, bởi thế George bật đèn pin của cậu ấy lên. Ở hàng sau của đám đông hội hè đó là một nhóm thanh niên chải chuốt hết cỡ với nơ trắng và áo vét đuôi tôm. Họ đứng vòng quanh đài phun nước. Một người đã trèo lên bệ đỡ phía dưới vòi phun; những người khác bám vào bên cạnh. Họ toát lên vẻ giàu có, khỏe khoắn, phấn khởi. Người cao nhất trong bọn họ đứng khuất một phần trong bóng của đài phun nước, hơi tách biệt khỏi những người khác. Anh ta là một người cao lớn, lực lưỡng, vòm ngực nở nang với mái tóc dài màu đen bù xù như bờm sư tử. Với mái tóc như thế và bóng của đài phun nước, khuôn mặt của anh ta phần nào bị che khuất, nhưng những đường nét cơ bản - cái mũi khoằm lớn, cặp lông mày dày, chiếc cằm vuông mạnh mẽ và dứt khoát - đủ rõ để nhận ra.

George và tôi yên lặng nhìn bức ảnh.

Ông ta đã giảm cân rất nhiều trong những năm qua, nhưng đó chính là ông ta.

“Fairfax...” tôi nói.

George gật đầu một cái, vẻ thông thái, đầy suy tư. “Tôi cũng đã nghĩ như thế.”

Tôi nhìn cậu ta. “Gì cơ? Đừng có nhận vơ. Cậu có biết gì đâu!”

“Hừm...” Cậu đưa trả lại tờ giấy cho Lockwood. “Dù sao tôi cũng đã nghĩ ông ta có cái gì đó mờ ám.”

“Bởi thế khi tôi giơ tờ giấy này cho hồn ma của Annie Ward xem,” tôi bắt đầu, “cô ấy đã hóa điên vì kinh sợ hoặc buồn khổ...” tôi ngừng lại, cắn môi. Bên dưới chiếc áo khoác của tôi, chiếc hộp thủy-tinh-bạc lạnh tới bỏng rát trên da thịt tôi. “Nhưng điều đó không chứng tỏ...”

“Cậu nói đúng,” Lockwood nói. “Tự thân nó thì không chứng tỏ được gì nhiều. Ngoại trừ một điều trọng yếu: Fairfax là kẻ nói dối. Khi tới gặp chúng ta, lão đã quả quyết rằng chưa từng nghe tới Annie Ward. Lão đã cố làm ra vẻ không nhớ tên cô ấy. Nhưng hiển nhiên lão đã từng biết cô ấy. Lão từng là một thành viên của nhóm kia khi còn trẻ.”

“Và không chỉ có thế!” Lúc này tim tôi đang đập rộn lên. Tôi cảm thấy chóng mặt; đầu óc tôi quay cuồng, giống như lúc trước khi ở trên cây cầu thang xoắn, nhưng lần này không phải bởi tiếng gào thét ma quái nào. Nó chính là ký ức của tôi đang gào thét: tôi nhớ lại một chi tiết mình đã bỏ sót trước kia. “Cô ấy cũng là một diễn viên,” tôi nói. “Giống như Fairfax. Các cậu có nhớ, trong tờ báo cũ đó, họ đã nói rằng cô ấy có nghiệp diễn rất triển vọng, nhưng đã phải từ bỏ bởi... một nguyên nhân gì đó.”

“Hugo Blake,” Lockwood nói. “Cô ấy chịu sự ảnh hưởng của lão, và bởi thế...”

“Nếu chúng ta đang đến nơi mà tôi nghĩ chúng ta định đến,” George đột ngột nói và gõ gõ vào khối đá trồi ra, “các cậu không nghĩ chúng ta nên bước tiếp sao? Đêm không dài mãi đâu.”

Không ai phản đối cậu ấy. Trong yên lặng chúng tôi tấn công một lần cuối cùng vào khối đá. Phải mất vài đợt tấn công thật lực lên lớp hồ vữa ngang bướng với hai chiếc xà beng và một con dao, cùng với toàn bộ sức mạnh của chúng tôi, khối đá mới lỏng ra. Nó rơi xuống đất. Âm thanh của chấn động ấy dần tắt đi. Chúng tôi đứng nhìn vào cái lỗ.

Lockwood bước lại gần và nheo mắt nhìn qua. “Chẳng nhìn thấy gì cả... Có lẽ chỗ này ở sâu trong hầm rượu, nơi lúc trước tôi nhìn thấy tu sĩ đó. Tốt rồi... Một khi chúng ta lên được trên tầng chúng ta sẽ theo lối cửa trước thoát ra. Đưa đèn pin cho tôi, George. Tôi sẽ đi qua trước.”

Ngậm chiếc đèn pin giữa hai hàm răng, cậu nhảy lên và chui đầu qua khe hở. Lúc lắc, vặn vẹo rồi giật hai chân: cậu lao vèo về phía trước và biến mất.

Yên lặng.

George và tôi chờ đợi.

Một ánh sáng lờ mờ hiện ra bên kia bức tường, và cùng với đó là giọng Lockwood. “Xin lỗi nhé,” cậu thì thào. “Tôi để rơi đèn pin một lúc. Ổn rồi, đây chính là hầm rượu. Nào - Lucy tiếp theo.”

Tôi không mất quá nhiều thời gian để vượt qua. Khi hai tay và đầu tôi vươn được sang bên kia, Lockwood đã ở đó để kéo tôi ra.

“Cảnh giới khi tôi hỗ trợ George nhé,” cậu thì thầm. “Đêm đã sắp tàn rồi, vậy nên tôi cho rằng các Khách khác giờ cũng đã trở nên yên lặng, nhưng... ta sẽ chẳng biết trước được đâu.”

Bởi vậy tôi đứng đó với đèn pin và kiếm, trong khi Lockwood vật lộn đưa George qua khoảng hở. Tôi chỉ có thể nhìn thấy một lối nhỏ. Bóng tối dày đặc phủ khắp mái vòm cong của hầm rượu; đằng sau khung vòm gần nhất, đường nét của những giá chứa rượu vươn vào bóng tối. Sương ma đã biến mất dạng. Có lẽ vụ tấn công của chúng tôi vào chiếc giếng đã ảnh hưởng đến toàn bộ cụm ma. Thật khó mà nói được.

Nhưng vào chính lúc đó, ma mãnh không phải mối quan tâm chính của tôi. Tôi đang nghĩ về cô gái tóc vàng trong bức ảnh, và người đàn ông bên cạnh đài phun nước. Mối liên hệ đó cứ liên hồi dậy lên trong trí óc tôi.

“Mọi người sẵn sàng chưa?” Lockwood thì thào khi George đã chui ra được rồi. “Chúng ta sẽ rời ngôi nhà này và băng qua công viên nhanh nhất có thể. Tôi muốn tới được cánh cổng hỏng dẫn ra đường. Nếu chúng ta có thể tới đó trước bình minh, chúng ta sẽ...”

“Hãy cho tôi biết điều này trước đã,” tôi nói. “Cậu nghĩ Fairfax cũng chính là người lên kế hoạch vụ trộm đó sao?”

“Tất nhiên rồi. Khi vụ đó thất bại, lão đã phải sử dụng phương án hai, đó là đưa chúng ta tới đây.”

“Vậy là ông ta muốn có mặt dây chuyền kia ư?”

Cậu gật đầu. “Tất cả đều là vì mặt dây chuyền đó, và điều nó có thể chứng minh.”

“Thế nó chứng minh vậy, cậu Lockwood?” một giọng trầm cất lên.

Tiếng kim loại lách cách. Hai bóng người tiến lên phía trước từ bên kia khung vòm. Đó là bóng hai người đàn ông, nhưng có mái đầu méo mó, kỳ quái. Một người cầm khẩu súng ngắn ổ quay, người kia cầm đèn lồng chiếu thẳng vào mắt chúng tôi; luồng sáng chói lọi của nó khiến chúng tôi lóa mắt và đau điếng.

“Dừng lại đó!” giọng nói lại tiếp tục. Tay chúng tôi đã để xuống những chuôi kiếm. “Tối nay sẽ không có đấu kiếm nữa đâu. Đặt vũ khí của các cô cậu xuống sàn nhà nếu không chúng tôi sẽ bắn hạ các cô cậu ngay tại chỗ đấy.”

“Làm như lão nói đi,” Lockwood nói. Cậu cởi thanh kiếm ra và thả nó rơi xuống. George cũng làm như thế. Tôi là người cuối cùng tuân theo. Tôi nhìn trân trân vào bóng tối, theo hướng của giọng nói đó.

“Nhanh nào, cô Carlyle!” giọng nói đó ra lệnh. “Hay cô muốn một viên đạn găm vào tim đây?”

“Lucy...” Lockwood nắm lấy vai tôi.

Tôi thả rơi thanh kiếm. Lockwood nhấc tay ra, và tiện thể làm một động tác tao nhã. “Lucy, George,” cậu nói, “rất hân hạnh được giới thiệu với các cậu một lần nữa chủ nhà và người bảo trợ của chúng ta, ông John William Fairfax - chủ tịch của công ty sắt Fairfax, một trùm kinh doanh lẫy lừng, đã từng là diễn viên và, tất nhiên rồi, kẻ đã giết Annie Ward.”

« Lùi
Tiến »