Bất thình lình, như thể một cái công tắc vừa được gạt hay một chiếc phích cắm điện vừa được rút ra, âm thanh tồi tệ đó tắt ngúm. Chỉ còn lại chúng tôi với nhau.
Sự yên lặng đột ngột làm tôi nao núng. Tôi ngồi dựa vào bức tường đá thô ráp, đầu ngửa lên, miệng há hốc, hổn hển thở. Máu đập thình thịch trong tai tôi. Ngực tôi phồng lên xẹp xuống trong những cú giật mạnh; mỗi một cử động đều làm tôi đau đớn. Dù trong khung cảnh tối như hũ nút, tôi biết hai người kia cũng đang đổ vật ra cạnh tôi trong lối đi chật hẹp đó. Tiếng thở khô khè của họ hòa nhịp với tiếng thở của tôi.
Chúng tôi đổ xuống thành một đống, người nọ trên người kia. Không khí lạnh và gắt, nhưng ít ra thì cái mùi máu nồng nặc lúc này đã biến mất.
“George,” tôi kêu lên, giọng khàn khàn, “cậu ổn chứ?”
“Không. Mông ai đang đè bẹp chân tôi rồi.”
Tôi bực dọc đổi tư thế. “Ý tôi là những vệt sinh chất đó kia - chỗ cậu bị bắn vào ấy.”
“Ồ. Phải rồi. Cảm ơn cậu. Nó đã không chạm được vào tay tôi, dù tôi nghĩ cái áo đã hỏng rồi.”
“Như thế là tốt đấy. Chiếc áo khoác đó rất xấu. Ai có đèn pin nào? Tôi đánh rơi đèn pin của tôi rồi.”
“Tôi cũng vậy,” Lockwood nói.
“Đây.” George bật đèn pin của cậu lên.
Ánh đèn pin chẳng bao giờ cho thấy dáng vẻ tử tế nhất của người ta. Trong ánh sáng chói lọi đột ngột, George và tôi đang thu mình sát vào nhau, mắt lồi ra, tóc bết vào bởi mồ hôi và nỗi hãi hùng. Tay George bị vấy một vệt màu trắng xám ngả xanh tại chỗ sinh chất rơi vào cậu. Khói bốc lên từ đó, và cả từ thanh kiếm để ngang đầu gối tôi. Khi nhìn xuống, tôi thấy giày và quần tất của mình cũng đã bị thứ vật chất đó bắn lên.
Lockwood, thật thần kỳ thay, có vẻ như đã thoát được những gì tồi tệ nhất từ vụ tấn công. Áo choàng của cậu chỉ bị vấy bẩn một chút, và mỏm tóc trước trán cậu cháy trắng cả ra bởi một giọt sinh chất. Nhưng trong khi mặt George đỏ bừng, thì mặt cậu lại trở nên nhợt nhạt hơn; trong khi George và tôi thở hổn hển, rên la và lăn lê, cậu nằm yên vững vàng, đợi hơi thở của mình lắng xuống. Cậu đã gỡ cặp kính râm xuống và đôi mắt đen của cậu sáng lấp lánh. Hàm cậu đanh lại. Tôi có thể nhìn ra ngay lập tức là cậu đã dồn tình cảm của mình vào sâu thẳm bên trong, làm cho nó trở nên rắn rỏi, sắt đá. Có vẻ gì đó trên khuôn mặt cậu mà tôi chưa từng nhìn thấy trước kia.
“Hừm,” cậu nói. “Lúc này nó ngưng rồi.”
George chiếu đèn pin vào phía trong của lối đi bí mật. Mấy giây trước thôi, những ngón tay máu đặc sệt đã tuôn xuống đó. Giờ đây lớp gỗ đã khô, đầy bụi bặm và không có vết ố. Không dấu hiệu gì có thể nhìn thấy bằng mắt thường cho thấy có chuyện gì đã từng xảy ra. Nếu chúng tôi quay trở về căn phòng trống, không nghi ngờ gì rằng nó cũng đã khô ráo và sạch sẽ. Nhưng chúng tôi sẽ không quay trở lại đó.
Lockwood khó nhọc ngồi dậy, đoạn điều chỉnh những vòng dây xích sắt bọc trong màng bóng xốp. “Không ai làm sao cả,” cậu ấy nói. “Chúng ta bị mất chuỗi xích sắt cỡ lớn và những thứ để trong các túi đeo, nhưng chúng ta còn kiếm, mạt sắt và ấn bạc. Và giờ chúng ta đã tìm được thứ mình muốn.”
Tôi nhìn bề mặt sạch sẽ, bình yên của cánh cửa. “Sao nó lại không đuổi theo chúng ta nhỉ? Ma có thể đi xuyên tường mà.”
Lockwood nhún vai. “Trong một số trường hợp Khách thường gắn hoàn toàn vào căn phòng nơi cái chết xảy ra và không có ý niệm gì khác về không gian xung quanh nữa. Bởi vậy... khi chúng ta rời khỏi lãnh địa săn mồi của nó, thì như thể chúng ta không còn tồn tại nữa, như thể chúng ta không còn...”
Tôi nhìn cậu. “Thực sự cậu cũng không biết tại sao, phải không?”
“Ừ.”
“Có khả năng như thế này nhé,” George nói. Cậu vung tay cầm đèn pin. “Có nhìn thấy chiếc vòng chúng ta kéo để đóng cửa không? Nó được làm bằng sắt. Và nhìn này, có một lưới các dải sắt mỏng trên mặt gỗ. Và xuống tới cả mặt đá dưới này nữa... Tôi trông chúng có vẻ cũ. Có ai đó đã gắn chúng vào đây để chặn Khách đó lại từ lâu rồi. Nó làm cho lối đi này an toàn.”
Cậu quét đèn pin vòng quanh chúng tôi để chúng tôi có thể đánh giá khoảng không gian chúng tôi đang bị nhốt ở trong. Đó là một hành lang rất chật hẹp, tường và nền lát những viên gạch mỏng đã cũ. Nó chạy một đoạn ngắn, rồi đâm vào góc bức tường phía Tây - bức tường có vẻ dày đến đáng nghi trong các bản vẽ mặt bằng của George. Ở đây, gạch đã được thay bằng đá và lối đi ngoặt về bên phải. Góc ngoặt đó hầu như bị bịt kín hoàn toàn bởi đám mạng nhện rủ xuống như những bức màn dày, từ trên trần xuống tới tận sàn lối đi.
“Tôi không thích lũ nhện đó,” tôi nói.
“Lối đi bên hông này thì không có nhện,” Lockwood nói, “bởi vì có những lớp sắt kia. Nhưng khi chúng ta đi qua chỗ ngoặt, chúng ta quay trở lại với tòa tu viện cũ, và chúng ta sẽ tới gần hơn với Nguồn. Điều đó có nghĩa là sẽ có nhiều nhện hơn và các hiện tưọng ma quỷ cũng mạnh mẽ hơn. Từ giờ trở đi, chúng ta sẽ sử dụng tất cả vũ khí chúng ta có ngay khi bất cứ thứ gì xuất hiện.”
Chúng tôi chật vật đứng dậy. Tôi đưa trả George thanh kiếm của cậu rồi rút kiếm của mình ra. Tôi tìm thấy đèn pin của mình ngay chỗ tôi đánh rơi nó trên nền gạch, nhưng bóng đèn đã bị vỡ. Đèn pin của Lockwood thì đã mất, còn đèn pin của George dường như không sáng bằng lúc trước.
“Để dành đi,” Lockwood nói. Cậu lấy ra mấy cây nến và chia cho từng người; khi thắp lên, ngọn lửa màu vàng mù tạt của chúng cao vút và ổn định. “Chúng sẽ rất hữu ích trong việc phát hiện sự hình thành của các hiện tượng tâm linh,” cậu nói thêm. “Để mắt đến chúng nhé.”
“Thật tiếc chúng ta không thể dùng mèo nhốt trong lồng, như Tom Rotwell đã từng làm,” George nhận xét. “Chúng là những công cụ cảnh báo nhạy nhất đấy, hiển nhiên là thế - nếu ta có thể chịu đựng được tiếng chúng rú lên.”
“Thật không thể tin được là Nguồn lại không ở trong Căn Phòng Đỏ,” tôi nói. “Khách này quá mạnh.”
“Và quá kỳ lạ,” George nói thêm. “Pha trộn giữa Yêu Tinh và Biến Hình. Loại mới đấy.”
“Không, chỉ là Biến Hình thôi.” Lockwood chìa ngọn nến ra phía trước, thăm dò đoạn hành lang dẫn đến góc ngoặt. “Nó không có khả năng di chuyển đồ vật.”
“Cậu quên là nó đã đóng và khóa cửa sao?” tôi nói.
“Có phải là nó không?” Lockwood nói. “Tôi không nghĩ vậy đâu.”
Tôi nhăn trán trước câu trả lời của cậu còn cậu thì đã tiến lên rồi. “Gượm đã,” tôi nói. “Cậu nghĩ là một con ma khác đã...” Rồi câu trả lời đến với tôi. “Ý cậu là một người sống đã làm việc đó ư? Chủ tâm nhốt chúng ta lại? Nhưng điều đó có nghĩa là...”
George khẽ huýt sáo một tiếng thật dài. “Fairfax hoặc Starkins...”
“Nhưng họ có vào đây đâu,” tôi phản đối, “sau khi trời tối.”
“Starkins thì không,” Lockwood nói. “Thôi đi nào, chúng ta còn có việc cần phải làm.”
Nhưng tôi vẫn nhìn cậu. “Ông Fairfax ư? Nhưng tại sao chứ? Lockwood...”
Cậu giơ tay ra hiệu cho tôi yên lặng; giờ cậu đang ở góc ngoặt, người cúi thấp để tránh những tấm mạng nhện. Khi cậu giơ ngọn nến về phía chúng, hàng chục cơ thể sáng bóng màu đen chạy lon ton ra rìa ngoài, cố trốn khỏi quầng ánh sáng. “Ở đây tức khắc lạnh hơn rất nhiều,” cậu nói, “ngay khi ta bước ra khỏi nền gạch. Và có cả âm khí cùng nỗi phiền muộn tức thì nữa... George, cậu kiểm tra nhiệt độ ở chỗ đó, rồi sang bên lát đá đi.”
George chen lên vượt qua tôi và bắt đầu đọc các chỉ số. Tôi theo sau một cách miễn cưõng.
“Tôi biết cậu không thích ông Fairfax,” tôi nói, “nhưng nếu cậu nói rằng ông ấy bị điên...”
“Ồ, chắc chắn lão không điên rồi,” Lockwood nói. “Nhiệt độ khác biệt thế nào, George?”
“Giảm từ chín xuống năm độ chỉ trong khoảng cách một bước chân thôi.”
Lockwood gật đầu. “Tất cả nằm trong đá hết. Và sẽ chỉ càng lạnh hơn khi chúng ta xuống dưới đó.”
Cậu chỉ vào khung vòm bên cạnh mình: tối đen và trống hoác như một cái miệng há hốc. Ánh nến của chúng tôi không rọi được vào sâu bên trong. George bật đèn pin lên trong thoáng chốc, để lộ phần mở đầu của một lối đi khác, cao hơn và rộng hơn so với lối chúng tôi đã vào. Nó chạy dài bên trong bức tường.
Lockwood đã nói đúng về sự giảm nhiệt. Lần đầu tiên, tôi thực sự cảm nhận thấy cái lạnh. Tôi lấy mũ ra, đội lên đầu; kéo khóa áo khoác lên thật kín. Hai cậu kia cũng làm vậy. Tôi vừa làm vừa lườm Lockwood, khó chịu vì cậu đã từ chối không nói về ông Fairfax và cánh cửa Căn Phòng Đỏ. Lại một lần nữa cậu giữ yên lặng, không chịu chia sẻ những gì mình biết. Cậu đã hành xử như thế mấy ngày nay rồi, kể từ khi có cuộc gọi đầu tiên của ông Fairfax. Thậm chí có lẽ là trước đó - từ khi có vụ trộm, thậm chí kể từ khi chúng tôi tìm thấy sợi dây chuyền...
Tôi đưa hai tay lên cổ, kiểm tra sợi dây được đeo kín đáo quanh cổ. Phía dưới áo khoác của tôi, chiếc hộp thủy tinh lạnh lẽo ép chặt vào ngực. Tôi băn khoăn không biết nó có ửng lên không, liệu hồn ma trong đó có phát ra thứ ánh sáng nào không. Hừm, cô ấy đã bị nhốt kỹ. Người chúng tôi phải lo tới lúc này không phải Annie Ward.
Lockwood đeo găng tay vào; George đã nhét được đầu vào trong mũ len xanh xấu xí đính quả bông. Chúng tôi bắt đầu tiến theo hành lang, Lockwood dẫn đầu. Cậu giơ cao ngọn nến. Những mảng mạng nhện nhảy múa phía trên ngọn lửa nến mong manh.
Bước được vài bước, George gọi chúng tôi dừng lại. Cậu chỉ vào bức tường bên phải, một cổng vòm thô bằng gạch ẩn trong tường đá. “Đã từng có lối đi gốc xuyên qua đây từ Căn Phòng Đỏ,” cậu nói. “Nó bị bít kín khi họ xây lại căn nhà. Chúng ta giờ đây đang ở trong một lối đi của tu viện xưa.”
“Tốt rồi,” Lockwood nói. “Hãy nhìn vào sơ đồ. Rồi chúng ta có thể nhìn thấy đâu là...”
Cậu quay giật đầu lại nhìn xung quanh. Bấc nến của cậu rung rinh, ánh sáng của nó mờ đi. Tất cả chúng tôi đã cảm thấy sự thay đổi khi có Khách tiến lại gần.
Chúng tôi chờ đợi, kiếm rút ra sẵn sàng, tay để hờ trên đai lưng.
Mất một lúc chẳng có gì cả, và rồi tiếp theo... một cậu con trai đứng phía trước chúng tôi trong bóng tối. Cậu ta tỏa ra một thứ ánh sáng yếu ớt. Thật khó mà nói cậu ta ở cách đây bao xa, hoặc liệu cậu ta nổi bồng bềnh trên không hay đứng trên mặt sàn đá. Ánh-sáng-khác của cậu ta chỉ soi rọi bản thân cậu ta. Khi lắng nghe, tôi nghĩ rằng mình đã thấy tiếng khóc nức nở yếu ớt, nhưng khuôn mặt ma hình lại trống trơn không biểu hiện gì. Cậu ta nhìn về phía chúng tôi với vẻ trống rỗng mà rất nhiều hồn ma như vậy thường có.
“Để ý quần áo nhé,” Lockwood thì thầm.
Cậu con trai khá trẻ, có lẽ chưa đến tuổi tôi. Cậu ta có mái tóc vàng hoe, dáng người to bè, gần như là béo, cùng khuôn mặt tròn, mềm mại. Nếu George được cọ rửa sạch sẽ và được nhét vào bộ đồ nào đó bảnh chọe, là lượt phẳng phiu, thì chắc cũng suýt trở thành anh em họ của cậu kia. Cậu ta mặc một chiếc quần sẫm màu và áo khoác dài màu xám, có vẻ hơi rộng so với cậu ta. Có cái gì đó từ cách cắt may chiếc áo vét và chiếc quần (tôi không giỏi lắm về thời trang), cho tôi biết rằng cậu ta chết cách đây đã hàng chục năm rồi. Nhưng bộ đồng phục, hay chuôi kiếm kiểu Ý ở hông cậu ta thì không thể lẫn vào đâu được.
“Ôi, Chúa ơi,” tôi nói, “đó là cậu con trai của đội Fittes. Cậu ấy đã chết ở đây.”
Âm thanh khóc than trở nên rõ ràng hơn. Ma hình bập bùng; nó chầm chậm quay đi khỏi chúng tôi và trôi đi dọc hành lang.
Tất cả hình ảnh và âm thanh đột ngột biến mất. Chỉ còn lại bóng tối, sự yên lặng, và một thứ mùi chua chua ngọt ngọt nhạt dần đi trong mũi tôi. Bấc nến lại sáng như ban ngày. Chúng tôi nhớ ra là cần phải thở.
“Giá được ăn một chiếc kẹo bạc hà thì tốt thật,” George nói.
“Cậu ấy có nói gì với cậu không, Lucy?” Lockwood hỏi.
“Không. Nhưng cậu ấy đã cố nói với chúng ta điều gì đó.”
“Đó là vấn đề đối với các hồn ma. Họ chẳng bao giờ nói gì rõ ràng cả. Hừm, có lẽ đó là một lời cảnh báo, nhưng chúng ta vẫn phải đi tiếp thôi. Chúng ta chẳng thể làm được gì khác.”
Chúng tôi tiếp tục tiến bước dọc theo hành lang ấy, nhưng chậm hơn so với trước. Chỉ thêm độ một mét nữa, áng chừng ngay khoảng chúng tôi thấy ma hình vừa rồi, chúng tôi tới một đoạn cầu thang.
Nó là một cầu thang xoáy trôn ốc, chật hẹp và dốc thẳng xuống dưới. Hành lang dẫn thẳng tới nó, và đường xuống được những khối đá nhỏ hơn bo quanh.
“Bốn độ,” George dửng dưng nói. Ánh sáng từ nhiệt kế phản chiếu trên cặp kính làm cho hơi thở đã hóa khói của cậu trở thành màu xanh.
“Có vẻ chúng ta sẽ đi xuống dưới,” Lockwood nói. “Có chỗ này trên bản vẽ mặt bằng thời Trung cổ không, George?”
“Tôi không biết nữa... Thực ra là... có, tôi nghĩ là có. Một cầu thang nối từ các phòng ngủ xuống phòng ăn. Muốn tôi xem lại không?”
“Không. Không, cứ làm cho xong đi đã.”
Chúng tôi bước xuống những bậc thang. Lockwood đi trước, rồi đến tôi, George chốt đuôi. Đó không phải một nơi dễ chịu. Chúng tôi có cảm giác rất mãnh liệt rằng mình đang ở nơi nào đó rất xưa cũ và cách rất xa ánh sáng tự nhiên. Bất chấp cái lạnh, không khí bí bức, ngột ngạt, và những bức tường ép chặt lại từ cả hai bên. Chúng tôi phải cúi đầu xuống để tránh những lớp mạng nhện rủ xuống từ trần nhà. Khói từ mấy ngọn nến làm tôi ứa nước mắt, và những chiếc bấc đẫm sáp chảy rọi những cái bóng nhảy múa lên các đoạn tường đá cong nhẵn thín.
“Đừng vấp vào bộ phận nào của cậu bé Fittes đấy, Lockwood,” George nói. “Cậu ấy ngã đâu đó dưới này.”
Tôi quay lại quắc mắt nhìn. “Hừ, George. Sao cậu có thể nói thế chứ?”
“Chắc có lẽ bởi vì tôi đang lo lắng.”
Tôi thở dài. “Cũng... phải thôi. Tôi cũng vậy.”
Lúc này tất cả chúng tôi đều đã cảm thấy căng như dây đàn; các giác quan của chúng tôi đang ở trong tình trạng báo động đỏ, chỉ chờ đợi kích thích nhỏ nhất. Phía ngoài kia tất cả dường như yên lặng - không âm thanh, không đốm-sáng-chết, không có những dải sinh chất trôi bồng bềnh. Nhưng như thế cũng chẳng có nghĩa lý gì. Mọi chuyện ở Căn Phòng Đỏ cũng đã bắt đầu y hệt vậy thôi.
Chiếc cầu thang mở ra thoáng chốc vào một khoang hình vuông bé tí, với những cửa vòm đã bị bịt lại ở cả hai bên, trước khi tiếp tục đi xuống. Lockwood ngừng lại. “Chúng ta đã ở tầng mặt đất rồi,” cậu nói. “Chắc chắn ta đang ở ngay đằng sau tấm thảm đó. Các cậu nhớ chứ - cái có hình con gấu tinh ranh đó.”
“Tôi nhớ,” tôi nói. “Đây chính là chỗ của điểm lạnh đó.”
“Đúng vậy, nhiệt độ đã hạ xuống ba độ rưỡi,” George nói. “Nhiệt độ thấp nhất trong ngôi nhà này.” Giọng cậu đanh lại. “Chúng ta tới gần rồi.”
“Giờ chúng ta nên đi chậm lại.” Lockwood đưa cho mọi người kẹo bạc hà. Chúng tôi nhai trong vô thức và lại bắt đầu theo những bậc thang xoáy xuống hầm rượu. Một ý nghĩ chợt đến với tôi.
“Cây cầu thang này...” tôi nói bằng giọng bình thản. “Nó chẳng... nó chẳng phải chính là cây cầu thang đó sao?”
Đằng sau tôi, George bật cười. “Không. Đừng lo. Đó là cầu thang khác.”
“Cậu chắc chứ? Những truyền thuyết kia có nói rõ nó là cầu thang chính của sảnh không?”
“Có.” Chúng tôi bước xuống một cách chậm rãi, thận trọng, từng bước từng bước một vòng xuống dưới. Ngọn nến của Lockwood mờ đi và lập lòe, rồi lại sáng rõ lên. “Hừm,” George tiếp tục, “thực ra thì chúng không nói hẳn ra như thế. Chúng chỉ đề cập đến 'những bậc thang cũ'. Nhưng ai cũng cho rằng đó là cây cầu thang chính, với những con rồng tạc, hốc tường đặt đầu lâu và những thứ còn lại.”
“Phải rồi... Vậy là họ chỉ cho là thế thôi... Nhưng theo lẽ tự nhiên, nếu phải ở chỗ nào thì nó ắt hẳn phải là cầu thang chính, đúng không nào?”
“Đúng. Chính xác.”
“Cho dù chúng ta không tìm được bất kỳ dấu hiệu tâm linh nào ở đó, phải không?”
“Đúng vậy. Và ở đây chúng ta cũng không cảm nhận được gì.” George nói với vẻ quả quyết khác thường. “Chỉ là truyền thuyết thôi.”
Có vẻ đúng là như vậy. Tôi không nghi ngờ tí gì về điều đó. Và tôi cởi găng tay ra rồi nhét vào trong túi áo chỉ để khẳng định chắc chắn hơn. Chỉ đơn thuần vì tò mò, tôi để những ngón tay của mình trượt trên mặt đá khi chúng tôi chầm chậm đi vòng vòng xuống dưới.
Thật nhẹ nhõm khi tất cả những gì tôi có thể cảm thấy chỉ là cái lạnh trong bức tường. Nó là cái lạnh sâu, khô khốc và vô hồn đã thấm vào lòng đá qua bao nhiêu năm tháng. Nó châm vào da tôi, như một cú điện giật khiến tôi dựng tóc gáy. Một cảm giác không lấy gì làm thoải mái - nhưng tất cả chỉ có thế. Chỉ lạnh thôi.
Tôi đang chuẩn bị nhấc tay ra thì nghe thấy những âm thanh ấy.
Ban đầu chúng rất yếu ớt, nhưng nhanh chóng tiến lại càng lúc càng gần. Tiếng những đôi giày nện xuống. Tiếng chân sầm sập, cùng tiếng leng keng của kim loại. Những âm thanh đó vang vọng trong ống cầu thang cùng với giọng của nhiều người đàn ông. Có áo chùng sột soạt, tiếng lạo xạo của những thanh kiếm. Đột nhiên chúng vỡ òa khắp xung quanh chúng tôi, hòa nhịp cùng bước đi của chúng tôi. Tôi ngửi thấy mùi hắc ín cháy, mùi khói cùng mùi mồ hôi, và sặc một thứ mùi của sợ hãi bao trùm. Có ai đó la hét bằng một thứ ngôn ngữ tôi không hiểu được. Đó đơn giản là tiếng hét tuyệt vọng, cầu xin sự giúp đỡ. Tiếng áo giáp sắt xủng xoảng, một cú đòn giáng xuống; tôi nghe thấy tiếng rên đau đớn.
Tiếng giày chạy vào trong và xuống dưới, và với mỗi bước chúng tôi đi, bầu không khí kinh hoàng càng trở nên mạnh mẽ và hiện hữu hơn. Giờ đây không chỉ còn là một tiếng kêu van nài duy nhất nữa, mà là giọng của nhiều người - và khi tôi lắng nghe, những tiếng kêu la của họ ngày càng lớn và trở nên tuyệt vọng hơn, chói tai hơn. Chúng cứ lớn dần, lớn dần... chẳng mấy chốc chúng đã át hết những âm thanh khác - những tiếng giày nện và tiếng áo giáp sắt xủng xoảng - cho tới khi dường như chỉ còn một tiếng thét vang vọng duy nhất xoáy sâu vào lòng đất, một tiếng thét thất thanh, cuồng loạn đầy sợ hãi...
Tôi giật tay ra.
Tất cả biến mất. Tôi hớp một ngụm không khí đầy khói, và lo lắng nhìn khắp bức tường, ơn trời. Trong một khoảnh khắc cái bóng của tôi dường như đã khác đi một chút. Cao hơn, gầy hơn, sắc cạnh hơn và gù hơn... Mà không, nó vẫn nguyên như cũ. Còn âm thanh kia đã biến mất.
Tôi dò dẫm xỏ lại găng vào những ngón tay đã lạnh cóng. Tất cả đã biến mất...
Chỉ mỗi tội nó không biến mất hẳn. Tôi vẫn có thể nghe thấy nó. Yếu ớt và xa xăm, tiếng la hét vẫn tiếp tục vang vọng.
“Ừm, các cậu ơi...” tôi nói.
Lockwood dừng khựng lại trước mặt tôi. Cậu kêu lên một tiếng. “Tất nhiên là thế rồi! Tôi ngốc thật đấy!”
George và tôi đứng lại nhìn. “Cái gì?” George hỏi. “Cái gì nào?”
“Nó đã ở ngay trước mắt chúng ta từ đầu tới giờ!”
“Cái gì cơ?”
“Câu trả lời cho mọi chuyện. A, tôi quả là ngu ngốc!”
Nhăn trán, tôi đưa bàn tay đi găng áp lên đầu. Tôi đang tập trung hết sức lắng nghe. “Lockwood, đợi đã,” tôi nói. “Cậu có nghe thấy...”
“Tôi chịu quá đủ rồi,” George nói. “Lockwood, cậu đã cư xử rất kỳ lạ mấy ngày nay. Nói với chúng tôi điều gì đang xảy ra đi. Rõ ràng nó là về Fairfax, và bởi vì công việc của ông ấy đang đặt chúng ta vào nguy hiểm như thế này, tôi nghĩ cậu nợ chúng tôi một lời giải thích.”
Lockwood gật đầu. “Đúng vậy. Nhưng trước tiên chúng ta phải tìm ra Nguồn đã. Rồi...”
”Không,” George nói. “Thế luôn đi.”
Tiếng gào thét đang nổi lên, vẫn còn yếu ớt nhưng sức mạnh đang tăng dần. Những ngọn nến bập bùng. Những cái bóng méo mó trên tường. “Lockwood,” tôi khẩn khoản. “Nghe xem nào.”
“Chúng ta phải hết sức cảnh giác, George,” Lockwood nói. “Không có thời gian giải thích đâu.”
“Thế thì cậu nói nhanh lên, dùng từ ngữ ngắn gọn thôi.”
“Không! Cả hai cậu im đi!” Họ nhìn tôi. Những ngón tay tôi đang cào vào thái dương; hàm răng tôi nghiến chặt. Âm thanh đáng sợ đó vừa bùng lên tới mức tối đa trên những bức tường. “Các cậu không nghe thấy sao?” tôi thì thào. “Tiếng gào thét đó ấy.”
Lockwood nhăn mặt. “Gì cơ? Không... tôi không nghĩ vậy.”
“Hãy nghe tôi đi! Đây chính là cây Cầu Thang Gào Thét đó! Chúng ta cần phải rời khỏi đây ngay bây giờ.”
Một khoảnh khắc do dự trôi qua, nhưng Lockwood là một người lãnh đạo giỏi và cậu không đời nào lờ đi một lời cảnh báo khẩn thiết. Cậu nắm lấy tay tôi. “Được rồi, bọn tôi sẽ đưa cậu xuống dưới chân cầu thang. Có lẽ âm thanh sẽ ngừng lại ở đó. Có lẽ chỉ có cậu, Lucy, người có thể...” Cậu chợt ngừng lại. Những ngón tay cậu siết chặt những ngón tay tôi; tôi cảm thấy cậu loạng choạng trên những bậc thang. Những âm thanh đó lại trỗi dậy; lần đầu tiên nó phá vỡ những rào cản vật lý, trở thành âm thanh mà những đôi tai không nhạy cảm bằng tai tôi cũng có thể nghe được.
Tôi nhìn lại. George cũng đã sững người, hai mắt cậu mở to. Cậu nói gì đó, nhưng tôi chẳng thể nghe thấy. Tiếng hét quá to.
“Đi xuống!” Lockwood hét lên; ít nhất, tôi có thể nhìn thấy khẩu hình cậu. “Đi xuống!” Cậu lảo đảo nhưng vẫn nắm chặt tay tôi. Cậu kéo tôi đi; đằng sau tôi George đã vấp ngã, hai nắm tay áp chặt vào tai. Chúng tôi lao xuống dưới qua không gian xoắn ốc lẫn lộn giữa ánh sáng và bóng tối, với những ngọn nến nhảy nhót điên cuồng và những cái bóng của chúng tôi nhào lộn trên những bức tường.
Những tiếng gào thét vang lên khắp xung quanh chúng tôi, phát ra thẳng từ những bậc thang và những tảng đá. Cường độ của nó quả là kinh sợ - đau đớn như những cú đấm liên hoàn - nhưng sự kiệt quệ tinh thần nó mang theo mới quả là quá sức chịu đựng, nó làm bụng ta cuộn lên, đầu đau như chẻ làm đôi và thế giới quay cuồng trước mắt ta. Nó là âm thanh kinh hoàng của cái chết, khỏi phát từ hư không rồi cứ lan ra tới vô tận. Nó xoay vòng xung quanh chúng tôi, quặp lấy trí óc chúng tôi.
Chúng tôi cứ quay cuồng chạy mãi, chạy mãi - rồi những cái bóng đồng loạt chạy ùa theo chúng tôi, nhưng không phải bóng của chính chúng tôi, mà là những hình dáng sẫm màu hơn với những cái đầu trùm mũ sắc nhọn, và những cánh tay gầy, rất gầy, vươn cao theo những bức tường. Chúng tôi cứ chạy xuống mãi - ngã nhào, nhảy cóc, xuyên toạc qua những đám mạng nhện treo lơ lửng. Quay cuồng, quay cuồng - trên tường, những hình dáng đội mũ kia cứ trồi lên rồi lại sụp xuống, bám theo ở cả hai phía. Ngón tay của những cái bóng chụp xuống; cầu thang cứ dài bất tận; và những tiếng gào thét vẫn xoáy vào đầu chúng tôi như những que sắt nung đỏ, tới mức tôi chẳng còn mong muốn điều gì ngoài việc dừng âm thanh kinh khủng đó lại...
Đúng lúc đó thì chúng tôi ngã khỏi những bậc thang cuối cùng, vào một căn phòng nhỏ hình vuông.
Chúng tôi ngã rạp xuống sàn nhà. Những ngọn nến tuột ra khỏi tay, trượt trên nền đá. Đầu óc chúng tôi quay cuồng; chúng tôi chẳng thể nào gượng đứng dậy được do thứ âm thanh kia và cảm giác choáng váng sau khi lao xuống. Tiếng gào thét vẫn không tắt đi. Và giờ đây những cái bóng đã tuôn ra từ cầu thang lên khắp mé tường căn phòng, chúng lờ mờ thụp xuống trên các bức tường như thể đang nhảy trong một cơn cuồng điên từ địa ngục. Những sợi dây thừng đứt đoạn đung đưa trên những cổ tay chúng.
“Các tu sĩ,” tôi hổn hển. “Đó chính là các tu sĩ! Những người đã bị giết ở đây.”
Bảy vị tu sĩ, truyền thuyết đã nói như vậy. Bảy vị tu sĩ, vì tội báng bổ, đã bị đem vứt xuống giếng.
Tôi ngóc đầu lên, nhìn quanh sàn nhà chao đảo. Kia rồi, dưới ánh sáng của ngọn nến nằm ngang mặt đất: một miệng hố tròn rộng, đen ngòm, mép viền đá, được đặt ở chính giữa sàn nhà. Và bên cạnh nó...
Ở giữa chúng tôi và cái giếng là một dáng người nhỏ bé nằm co rúm: một đống hỗn độn xương và vải rách, được bao phủ bởi một lớp bọc mềm mại tạo thành từ tầng tầng lớp lớp mạng nhện. Cái cổ vặn xoắn ở một tư thế kỳ lạ, không hề tự nhiên. Một bên tay áo khoác rỗng với ra về phía cái hố như thể nó đã muốn kéo bản thân mình về phía trước và trượt vào trong bóng tối.
Hồi đó cậu trai của Fittes đã gần tới được chân cầu thang trước khi bị tiếng gào thét kia giết chết. Tôi đoán chừng cậu ta đã bị vấp ngã và lộn nhào khi hoảng sợ tháo chạy, và kết cục là bị ngã gãy cổ. Ít ra cậu ta cũng có được kết thúc nhanh chóng.
Âm thanh này đang làm tôi phát điên. Tôi cố đứng dậy. Thật khó để làm thế; thật khó để có thể di chuyển hay suy nghĩ. Ở bên cạnh tôi, Lockwood và George cũng làm tương tự. Máu đang nhỏ giọt xuống từ một bên tai của Lockwood.
Như một gã say, cậu túm lấy cổ áo chúng tôi, kéo chúng tôi lại gần. “Tìm Nguồn đi!” cậu gào lên. “Nó chắc chắn phải ở đây. Đâu đó trong căn phòng này!”
Cậu đẩy chúng tôi ra xa. George bị vấp ngã, và vì thế dúi dụi tới gần hơn một trong những chiếc bóng trên tường. Ngay lập tức một bàn tay trong mờ vươn ra từ thành đá bên cạnh cậu, với những ngón tay dài và xương xẩu, cẳng tay phủ lông trắng, cổ tay treo lủng lẳng một đầu dây thừng tưa sờn. Nó vươn tới George. Lockwood đã nhanh hơn; cậu giật mạnh một quả bom muối từ đai lưng, ném vào thành đá. Những hạt muối bùng cháy thành ngọn lửa xanh lục. Cánh tay kia thụt về. Trên bức tường, cái bóng ấy co lại, uốn éo dữ dội như một con rắn.
Chúng tôi, Lockwood, George và tôi, loạng choạng băng qua phòng, tìm đi tìm lại. Nhưng chẳng ích gì. Căn phòng chẳng dẫn đi đâu. Nó không có lối ra, không có những chiếc giá; chẳng có gì bên trong ngoài những bức tường, những tảng đá và một cái giếng sâu tối đen đang chờ đợi.
Một ánh chớp trắng chói lòa lóe lên, một tiếng nổ của muối và sắt. George đã lẳng một ống Lửa Hy Lạp vào những cái bóng ở góc đằng xa của căn phòng. Những mảnh vữa hồ rơi ra từ các phiến đá; căn phòng rung chuyển. Trong một thoáng những hình bóng ở gần nhất rung rinh, rồi điệu nhảy của chúng lại tiếp tục.
Nỗi tuyệt vọng chiếm lĩnh chúng tôi. Lúc này tất cả chúng tôi đang chuẩn bị đợt tiến công cuối cùng. Mạt sắt, bom muối, pháo - chúng tôi ném cả vào những bức tường, cố gắng làm những cái bóng ma quái tiêu tan, cố gắng làm thứ âm thanh đáng sợ kia ngưng bặt. Những viên đá nứt vỡ, khói liếm ra phía ngoài, những bức rèm mạng nhện bùng lửa. Những đốm sắt và muối bay lơ lửng, bắn tung khắp phòng trong vô vàn màu sắc. Vậy mà bóng của những tu sĩ bị giết hại vẫn cứ nhảy múa, tiếng gào thét của họ vẫn cứ tiếp tục.
Chẳng ích gì. Một cảm giác nặng nề khôn tả đột ngột nhận chìm tôi. Chúng tôi chưa tìm thấy Nguồn, và giờ đai lưng và đai choàng vai của chúng tôi đã trống rỗng, vũ khí của chúng tôi đã được dùng hết, năng lượng của chúng tôi đã cạn kiệt... Tôi bước chậm lại rồi dừng khựng ở một tư thế lê lết. Ở đằng kia, George đã rút thanh kiếm ra và đang chém bừa xung quanh mình, chẳng ý thức mình có chạm vào tường hay không nữa. Lockwood đứng bên cạnh cái giếng, điên cuồng nhìn quanh, lông mày nhăn tít, có vẻ như vẫn đang cố hết sức tìm kiếm một giải pháp.
Lockwood tội nghiệp. Chẳng có giải pháp nào cả. Năng lực của chúng tôi đã thành vô dụng, vũ khí của chúng tôi đã hết. Tôi buông thõng tay; đầu gục xuống. Chúng tôi sẽ chẳng bao giờ tìm thấy Nguồn. Chúng tôi sẽ chẳng bao giờ tìm thấy nó và âm thanh kia sẽ chẳng bao giờ bặt đi cả.
Trừ phi...
Tôi lờ đờ nhìn cái giếng.
Sao tôi lại ngu ngốc vậy nhỉ? Có một cách để âm thanh kia ngừng lại. Để ngay lập tức từ ồn ào trở thành tĩnh lặng, từ đau đớn trở thành yên bình và trật tự. Và nó thật dễ thực hiện.
Ở đăng kia, cạnh những bậc thang, George đã hạ kiếm. Cậu đã khuỵu gối, và đang co rúm người xuống thấp, hai cánh tay choàng lên che đầu. Ở bức tường phía sau, những cái bóng hả hê đang nhảy vũ điệu chiến thắng.
Tôi lê tới trước. Phía trước tôi: gờ giếng xây bằng gạch, những thân đá xám nhạt dẫn lối vào bóng tối yên bình.
Đúng vậy. Thật dễ dàng, thật hiển nhiên. Tôi đã biết ngay từ lúc đầu rồi. Sau cùng thì, đây chính là điều mà ngôi nhà này đã hứa hẹn, khi tôi đứng lưỡng lự ở sảnh mấy giờ trước. Đây là nơi tôi biết nó sẽ dẫn tôi tới - từng bước, từng bước dễ dàng, vượt qua những Loại Một lơ lửng vòng quanh, đám sương ma và những tiếng thì thầm quỷ quái, vượt qua căn phòng đầy máu, và cuối cùng, xuống những bậc thang xoáy vòng. Đây chính là nơi nó sẽ kết thúc. Chính ở nơi này. Nơi sự yên lặng ngự trị, ở ngay trung tâm của ngôi nhà và những vụ ma ám, nơi yên lặng sẽ kéo dài mãi mãi. Mọi chuyện giờ đây thật đơn giản. Chỉ cần một vài bước nữa thôi và tiếng gào thét sẽ ngừng lại. Tôi cũng sẽ là một phần của sự yên lặng đó.
Tôi sải bước đầu tiên thật nhanh; khi tôi bắt đầu sải bước thứ hai, một cơn đau đột ngột nhói lên trong ngực tôi: một cơn co thắt mãnh liệt, lạnh buốt. Tôi lưỡng lự, rờ rẫm sợi dây quanh cổ mình. Nó tới từ chiếc hộp đựng mặt dây chuyền... Một luồng năng lượng bung tỏa; tôi có thể cảm thấy nó thậm chí xuyên qua cả lớp thủy-tinh-bạc. Đó là Annie Ward - đến thời khắc cuối cùng rồi mà vẫn còn gây rắc rối! Hừm, không sao. Cô ấy cũng sẽ biến mất cùng tôi.
Lòng giếng chờ đợi. Nó hứa hẹn với tôi rất nhiều. Tôi không lưỡng lự nữa. Trong lòng chẳng có gì khác ngoài sự nhẹ nhõm, tôi sải những bước cuối cùng lên phía trước và bước khỏi thành giếng...
Và treo người ở đó, nhoài ra phía trên một vực thẳm đen ngòm.
Có thứ gì đó đã túm lấy tôi; thứ gì đó đã giữ tôi thật chặt. Thứ gì đó đã kéo tôi trở lại nơi an toàn trên mặt đá.
Lockwood: khuôn mặt cậu phờ phạc, đầu tóc rối bời, áo choàng đã rách và vấy bẩn. Máu chảy xuống cổ áo cậu. Cậu giữ chặt hơn quanh eo tôi và kéo tôi về phía mình.
“Đừng,” cậu nói vào tai tôi. “Đừng, Lucy. Đó không phải cách.”
Nói rồi cậu buông tôi ra, cúi đầu xuống, gỡ vòng xích sắt của mình ra thả xuống sàn. “Diêm!” cậu hét lên. “Đưa diêm của cậu đây cho tôi. Và cả xích sắt nữa!” Cậu lần tìm trên thắt lưng của mình. “Tôi muốn có thêm sắt, và bất cứ cái ấn bạc nào cậu có. Nào, nhanh lênl Chúng ta thật là ngu ngốc,” cậu gào lên. “Cái giếng chính là Nguồn, tất nhiên là thế rồi. Khách đã tới từ đó.”
Sức mạnh ý chí của cậu đã phá tan trạng thái ma-khóa, phá tan cái sức mạnh làm người ta nhụt hết nhuệ khí của tiếng gào thét không ngừng kia. Tôi ném dây xích sắt của mình xuống và gỡ những chiếc ấn ra. Tôi mở một chiếc túi ở đai lưng, lấy ra hộp diêm Sunrise, trong khi Lockwood rút ống lửa cuối cùng ra khỏi thắt lưng mình. Ống loại lớn. Với giấy bọc màu đỏ sẫm. Ống pháo có sức công phá đáng nể với dây ngòi dài, đủ thời gian để ta tìm được chỗ trú an toàn.
Lockwood lôi ra con dao gấp và cắt dây ngòi đi, chỉ để lại một núm nhỏ tí.
“Cầm lấy này!” cậu quát lên. “Châm lửa vào đầu ngòi!”
Cậu đã bước khỏi chỗ tôi, kéo những đoạn xích về phía cái giếng, chiến đấu chống lại thứ âm thanh ngộp thở. Xung quanh, trên những bức tường, bảy hình dáng đang nhào xuống chợt dừng lại; bọn họ dường như cũng đã đột nhiên cảnh giác. Những cánh tay ma đẩy xuyên qua lớp đá, với ra về phía chúng tôi; cùng với chúng, những cái đầu trùm mũ đầu tiên hiện ra rõ ràng.
Tôi quẹt một que diêm, gí nó vào dây ngòi tẩm dầu. Một đốm lửa lòe lên, một vệt sáng nhỏ lập lòe.
Ở thành giếng, Lockwood đá đống xích sắt và ấn bạc xuống bên dưới. Cậu loạng choạng lùi về đằng sau, cầm lấy chiếc hộp trên tay tôi rồi hét vào tai tôi.
“Chạy đi, Lucy! Chạy lên cầu thang!”
Nhưng tôi chẳng thể di chuyển được. Tôi vẫn cảm thấy lực kéo chết người về phía cái giếng. Cơ thể tôi cảm giác như đang ngập trong nhựa đường; tôi thậm chí chẳng có sức lực để quay đầu nữa.
Các Khách lúc này đã thoát hẳn ra khỏi các bức tường; họ đang trôi vào phía trong từ mọi hướng. Hai Khách gần nhất đã sắp tới chỗ George, lúc này vẫn đang khom người trên sàn nhà. Các Khách còn lại tụ vào chỗ hai đứa tôi, những khuôn mặt xương trắng lấp ló dưới đám mũ mục ruỗng. Những hốc mắt sâu hoắm, những hàm răng sắc nhọn lóe sáng. Và tiếng gào thét vẫn cất cao.
Lockwood cầm ống pháo, loạng choạng tới bên thành giếng. Đoạn ngòi đã sắp cháy hết.
Cậu thả nó vào trong đó. Đoạn ngòi cháy chiếu sáng thành đá của cái giếng trong thoáng chốc rồi biến mất.
Lockwood quay người lại. Trong một khoảnh khắc tôi nhìn thấy khuôn mặt thanh tú, xanh xao của cậu, đôi mắt sẫm màu của cậu bắt gặp mắt tôi.
Những cái bóng trùm mũ nhào xuống chúng tôi.
Rồi tiếng gào thét ngưng bặt, những cái bóng dừng khựng lại, và một phần một triệu giây sau đó thế giới nổ tung trong thứ ánh sáng vô thanh.