Cầu Thang Gào Thét

Lượt đọc: 114 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
CHƯƠNG 19

“Chào mừng, cậu Lockwood, chào mừng!” John William Fairfax đón chúng tôi trên ngưỡng cửa, ông ta bắt tay Lockwood và gật đầu cộc lốc với George và tôi. Ông ta dường như thậm chí còn cao gầy và giống bọ ngựa hơn so với những gì tôi nhớ về ông ta; vải bộ vét xám sẫm màu của ông ta treo thõng phía trên đôi chân gầy guộc. “Vừa kịp giờ, y như cậu đã hứa. Và cậu sẽ thấy rằng tôi cũng giữ lời hứa của mình. Tôi đã chuyển tiền vào tài khoản của cậu mười phút trước, cậu Lockwood ạ, bởi vậy tương lai của công ty cậu đã được đảm bảo. Xin chúc mừng! Nếu giờ cậu theo tôi tới phòng tôi ở Chái Đông, cậu có thể điện thoại cho giám đốc ngân hàng của cậu, trong khi chúng ta thảo luận. Cậu Cubbins, cô Carlyle - ở phòng trưng bày dài đằng kia các cô cậu sẽ thấy đồ ăn thức uống đặt cạnh lò sưởi. Không, đừng lo mấy cái túi! Ông Starkins sẽ để mắt đến chúng.”

Ông ta tiếp tục vừa bước đi vừa nói ầm ầm, cây gậy của ông ta đều đặn gõ xuống mặt sàn lát đá. Lockwood đi cùng ông ta; George chần chừ một chút, chùi sạch đôi giày trên tấm thảm trước cửa. Tôi cũng chần chừ một chút, nhưng không phải để chùi giày. Lần đầu tiên kể từ khi Jacobs dùng roi bắt tôi vào một ngôi nhà nông trại bị ma ám hồi tôi còn bé, tôi đã không tuân thủ quy tắc tiên quyết, quan trọng nhất.

Tôi nấn ná ở lối vào, do dự và sợ hãi.

Sảnh căn nhà này là một phòng lớn hình vuông, có mái vòm bằng gỗ và những bức tường quét vôi trắng giản dị. Hai bản vẽ mặt bằng của George đã cho chúng tôi biết nó là phần còn lại của tu viện ban đầu, và với quy mô cùng kiến trúc giản đơn thì nó vẫn còn rất giống một nhà thờ. Trên trần nhà, nơi những thanh xà cũ kỹ giao nhau, những hình tạc nhỏ bé có cánh và mặc áo choàng đang nhìn xuống đầy bí hiểm, khuôn mặt của chúng đã cũ mòn theo năm tháng. Trên các bức tường treo những bức tranh sơn dầu, chủ yếu là chân dung các lãnh chúa và phu nhân thời xa xưa.

Ở hai bên sảnh, những khung vòm thụt vào dẫn tới những căn phòng khác. Tuy vậy, ngay đối diện tôi là một khung vòm khác cao hơn nhiều, gần tới tận trần nhà, và đằng sau khung vòm đó...

Đằng sau khung vòm đó là một cây cầu thang. Những bậc thang rất rộng và được làm bằng đá. Thời gian và những bước chân qua nhiều thế kỷ đã mài mòn phần giữa, làm chúng nhẵn bóng như đá hoa cương. Ở hai bên, hai hàng lan can dẫn ngược lên một chiếu nghỉ bên dưới một cửa sổ kính tròn. Xuyên qua khung cửa đó, những tia sáng mặt trời cuối cùng le lói, nhấn chìm những bậc thang trong sắc đỏ.

Tôi nhìn cái cầu thang đó, và tôi không di chuyển được nữa. Tôi nhìn nó và lắng nghe.

Bên cạnh tôi, George đang giậm giậm đôi chân mập mạp của mình. Ông lão Starkins đã nhấc chiếc túi vải len thô đầu tiên lên, và thở khò khè trong lúc khó nhọc kéo lê nó vào sảnh. Những người phục vụ bước qua, mang theo những chiếc khay đựng cốc, bánh và những bộ thìa dĩa kêu leng keng. Tôi nghe Lockwood cười khi cậu ấy tiến vào một căn phòng khác.

Nói một cách khác, có rất nhiều âm thanh ở xung quanh. Nhưng khi lắng nghe, tôi cảm nhận được một thứ khác. Sự yên lặng. Cái yên lặng sâu thẳm của ngôi nhà. Tôi cảm nhận nó ở khắp xung quanh tôi, như thể nó có tri giác và nhận thức. Sự yên lặng đó vươn dài ra từ chỗ tôi, chạy dọc những hành lang và các tầng nhà, lên những bậc cầu thang đá, xuyên qua những cánh cửa mở và những khung cửa sổ cô độc, cứ thế cứ thế mãi, cho tới tận những nơi xa xôi và đáng sợ hơn cả. Nó chẳng có điểm kết thúc. Căn nhà này chỉ là một cánh cổng. Sự yên lặng đó cứ tiếp diễn tới bất tận. Và nó đang chờ đợi chúng tôi - tôi có thể cảm thấy nó đang chờ đợi. Tôi có ấn tượng như thể có thứ gì đó đứng cao lừng lững cạnh tôi, to lớn và cao vút, sẵn sàng đổ sụp xuống đầu tôi.

George đã chùi giày xong; cậu bắt đầu đuổi theo những người phục vụ và đống bánh. Ông Starkins đang đánh vật với đống hành lý. Những người khác thì đã đi khỏi.

Tôi ngoái lại nhìn con đường rải sỏi và khoảng sân vườn phía xa. Ánh sáng đã tắt trên khắp vùng thôn quê lạnh lẽo. Trên những cánh đồng, các luống cày đã bị bóng tối bao phủ; chẳng mấy chốc nó sẽ tràn tới phủ kín khắp đất đai, và sự yên lặng trong căn nhà sẽ bị khuấy động...

Cơn hoảng hốt ghì chặt ngực tôi. Tôi không bắt buộc phải vào trong, vẫn còn thời gian để quay lại.

“Hồi hộp, có phải không?” Bert Starkins nhận xét và lách qua tôi, hai tay ôm một chiếc túi vải len thô. “Tôi cũng chẳng trách nếu cháu hồi hộp. Cô gái tội nghiệp từ Fittes ba mươi năm trước đó: cô ấy cũng sợ hãi. Để tôi nói cháu nghe nhé, tôi sẽ không trách nếu cháu bỏ chạy.” Ông ta nhìn tôi vô cùng ái ngại.

Giọng ông ta cắt ngang trạng thái đờ đẫn của tôi. Khoảnh khắc đó qua đi; cơn tê liệt của tôi đã qua đi. Tôi khẽ lắc đầu mà không nói gì. Chậm rãi mà cứng nhắc, tôi bước qua ngưỡng cửa, băng qua hành lang lạnh giá, và bước vào phòng trưng bày dài.

Đây là một căn phòng đẹp nhưng ảm đạm, được chiếu sáng dọc theo chiều dài tít tắp bởi một chuỗi những cửa sổ có chấn song. Rõ ràng nó được xây cùng thời với căn sảnh lớn: cùng lớp đá quét vôi trắng, trần nhà gỗ sồi, những hình tạc trong bóng tối, những hàng dài các bức tranh đã ngả màu. Ở nửa chừng, một ngọn lửa đang nhảy nhót và bập bùng trong lò sưởi bằng gạch cỡ lớn; ở phía đầu đằng kia, một tấm thảm treo nhạt màu choán hết bức tường. Nó thể hiện một cảnh thần thoại khó hiểu, bao gồm sáu tiểu thiên sứ, ba người phụ nữ mũm mĩm bán khỏa thân và một con gấu trông có vẻ xấu xa. Bên cạnh lò sưởi là một chiếc bàn, và những người phục vụ đang dọn lên đó bữa trà mặn.

George đã chén một chiếc bánh rồi, và đang chăm chú ngắm nghía tấm thảm. “Bánh ngon đấy,” cậu nói. “Cậu nên thử một chiếc bánh trứng sữa.”

“Bây giờ không phải lúc. Tôi cần nói chuyện với Lockwood.”

“Căn giờ chuẩn đấy. Cậu ấy đây rồi.”

Lockwood và ông Fairfax đã từ sảnh bước vào phòng. Lockwood di chuyển tới chắn trước mặt chúng tôi. Gương mặt cậu bình thản, nhưng mắt thì sáng rỡ.

“Cậu có cảm thấy không khí của nơi này không?” tôi bắt đầu. “Chúng ta...”

“Các cậu sẽ chẳng bao giờ đoán được đâu,” cậu nói với tôi. “Họ đã lục soát túi của chúng ta.”

George và tôi trọn trừng. “Gì cơ?”

“Trong khi chúng ta thăm thú xung quanh cùng ông Starkins. Ông Fairfax đã bảo người của mình kiểm tra chúng. Họ muốn đảm bảo chắc chắn chúng ta không mang theo bất cứ ống Lửa Hy Lạp nào.”

George huýt sáo. “Họ không thể làm thế được!”

“Đúng thế! Chúng ta đã hứa với họ rồi mà.”

Ở bàn trà đằng kia, Fairfax đang la mắng những người phục vụ vì một sai sót nào đó. Ông ta vừa huơ huơ một tay vừa dộng chiếc gậy xuống sàn nhà. “Sao cậu biết ông ấy làm thế?” tôi khẽ nói.

“Ồ, ông ấy đã nói thẳng với tôi, sau khi tôi gọi điện đến ngân hàng. Ông ấy trơ lắm. Ông ấy nói với ai ông ấy cũng sẽ làm thế thôi. Ông ấy phải bảo vệ kết cấu của ngôi nhà cổ, và những đồ đạc cực kỳ đắt tiền - vân vân và vân vân. Nhưng thông điệp thực sự mà ông ấy muốn gửi đến tôi là: đây là nhà ông ấy, phải tuân theo những gì ông ấy đặt ra. Chúng ta chơi theo luật của ông ấy, không thì thôi.”

“Ngay từ đầu đã như thế rồi mà,” George nói. “Toàn bộ câu chuyện này rất dở hơi. Chẳng có thứ gì hợp lý cả. Ông ấy không cho phép chúng ta mang theo pháo. Ông ấy không cho chúng ta thời gian để tìm hiểu. Rồi ném chúng ta vào nơi ông ấy cho là một trong những khu vực bị ma ám nặng nề nhất Anh quốc, và...”

“Không phải chỉ cho là không đâu,” tôi nói. “Các cậu không cảm thấy sao? Xung quanh chúng ta ấy?”

Tôi nhìn bọn họ. Lockwood gật đầu cộc lốc. “Có. Tôi có cảm thấy.”

“Thế thì, cậu có thực sự nghĩ rằng chúng ta nên...”

“Cậu Lockwood!” Giọng nói trầm sâu của ông Fairfax vang lên từ bên kia phòng trưng bày tranh. “Trà của các cô cậu đang đợi đây! Hãy ra bàn và để tôi khuyên các cô cậu vài điều cho tối nay.”

Bữa ăn rất ngon, trà là loại Pitkins tốt nhất, và hơi ấm từ ngọn lửa kêu lách tách đẩy lùi cái yên lặng chết chóc kia một lúc. Ông Fairfax ngồi cùng với chúng tôi trong khi chúng tôi ăn, nhìn chúng tôi bằng đôi mắt đen già nua, và nói chung chung về ngôi nhà. Ông ta nói về rất nhiều những báu vật của nó - những mái trần thời hậu Trung cổ, những bộ sưu tập đồ sứ vùng Sèvres và đồ nội thất thời nữ hoàng Anne, những bức tranh sơn dầu thời Phục hưng độc nhất vô nhị được treo ở sảnh và cầu thang. Ông ta kể về những hầm rượu rộng lớn chạy dưới chân chúng tôi; về những vườn rau thơm mà ông ta hy vọng sẽ phục hồi lại được sớm; về những dãy hành lang chìm dưới đáy hồ. Ông ta không đề cập bất cứ điều gì liên quan tới nhiệm vụ của chúng tôi cho tới khi bữa tiệc trà kết thúc. Rồi ông ta cho những người phục vụ đi và bắt đầu vào công việc.

“Thời gian rất gấp gáp,” ông ta nói, “ông Starkins và tôi muốn rời đi trước khi màn đêm buông xuống. Chắc chắn các cô cậu cần phải chuẩn bị trước khi bắt đầu công việc, bởi vậy tôi sẽ nói ngắn gọn thôi. Như hôm trước tôi đã nói với các cô cậu, chái nhà này là khu vực nhiều vấn đề của tòa nhà. Có lẽ các cô cậu cũng đã cảm thấy điều đó rồi.”

Ông ta chờ đợi. Lockwood, lúc này đang lấy một ngón tay thon dài rê một quả nho khô trong chiếc đĩa của mình, mỉm cười lịch sự. “Sẽ là một đêm rất hấp dẫn đấy, thưa ngài,” cậu nói.

Ông Fairfax chặc lưỡi. “Có tinh thần lắm. Rất tốt, đây là những luật lệ cơ bản nhé. Sau khi trời tối, tôi sẽ bỏ lại các cô cậu ở bên trong, nhưng nhớ rằng các cửa chính kia vẫn không khóa cả đêm, nếu các cô cậu cần phải rời khỏi tòa nhà. Thêm vào đó, ở mỗi tầng các cô cậu sẽ thấy một cánh cửa sắt dẫn tới các căn phòng của tôi ở Chái Đông. Những cánh cửa đó sẽ được khóa, nhưng trong trường hợp khẩn cấp, hãy đập thật mạnh vào cửa và tôi sẽ đến trợ giúp các cô cậu. Các thiết bị điện ở chái bên này không hoạt động tốt, do ảnh hưởng của các linh hồn, nhưng chúng tôi sẽ đặt một điện thoại ở trong sảnh, kết nối từ chỗ các cô cậu đến ngôi nhà gỗ của ông Starkins. Tất cả các cánh cửa bên trong sẽ được mở để các cô cậu có thể đến bất cứ chỗ nào các cô cậu muốn, ngoại trừ một cánh cửa. Với cánh cửa đó” - ông ta vỗ vào túi áo khoác - “tôi có chìa khóa ở đây, và tôi sẽ đưa cho các cô cậu ngay bây giờ. Các cô cậu muốn hỏi gì không?”

“Nếu ngài có thể chỉ cho chúng cháu những khu vực có nhiều hoạt động nhất thì sẽ rất hữu ích đấy ạ,” Lockwood nói khẽ. “Nếu ngài có thời gian.”

“Có. Tất nhiên là có chứ. Starkins!” Ông già cao giọng hét lên; từ ngoài sảnh ông già thậm chí còn lớn tuổi hơn thế hấp tấp bước vào, hai bàn tay xương xẩu siết chặt vào nhau. “Bảo Boris và Karl đặt điện thoại nhé,” ông Fairfax nói. “Tôi sẽ đưa cậu Lockwood đi xem một vòng. Ông Starkins đó là một người phục vụ tốt,” ông ta giãi bày khi người quản gia đã tập tễnh bước đi, “chỉ là nhát đến phát bực. Ông ấy chẳng bao giờ lên trên tầng tầm này, cho dù mặt trời còn chưa lặn hẳn đi nữa. Hừm, tôi nghĩ chắc sự cẩn trọng đó đã giúp ông ấy sống lâu đến như này. Chúng ta đi thôi.”

Chúng tôi rời khỏi bàn và theo ông Fairfax băng qua căn phòng ra ngoài. Ông ta chỉ một cánh cửa ở phía xa của lò sưởi. “Qua cánh cửa này các cô cậu sẽ thấy những phòng hứng nắng, khu vực tiếp tân, nhà kính và bếp. Chúng đều cũ rồi, nhưng không bằng phòng trưng bày tranh ở đây, vốn là một phần của tu viện ban đầu. Trước kia nó dẫn tới các tòa nhà khác, nhưng chúng đã bị phá sập từ rất lâu rồi.” Ông ta trỏ vào tấm thảm treo ở phía cuối. “Chỗ đó bầy giờ là điểm cuối của tòa nhà.”

Ông ta dẫn chúng tôi quay trở lại qua sảnh và tới một khung vòm ở phía xa. Đây là một căn phòng hình vuông, trải thảm và tối sầm đi bởi những hàng giá sách cao vút; ở phía đằng xa là một cánh cửa kim loại tán đinh. Những chiếc ghế hiện đại bằng sắt và da trông không lấy gì làm thoải mái đứng giữa những chiếc bàn đọc sách. Một bức tường gần như bị che phủ hoàn toàn bởi một bộ sưu tập rất nhiều những bức ảnh đóng khung, một số là ảnh màu, còn hầu hết là ảnh đen trắng. Bức to nhất, đặt ở vị trí trang trọng nhất, là ảnh một chàng thanh niên nghiêm nghị, mặc áo chẽn, cổ xếp nếp và quần ống bó, đang chăm chú xem xét một cái đầu lâu trông có vẻ rêu mốc.

Lockwood nhìn bức ảnh đó vẻ thích thú. “Xin lỗi thưa ngài, nhưng chẳng phải đó chính là ngài sao?”

Ông Fairfax gật đầu. “Đúng, đó là tôi. Tôi đóng vai Hamlet hồi còn trẻ. Thực ra tôi đã đóng hầu hết các vai kịch Shakespeare, nhưng Dane có lẽ là vai diễn tôi yêu thích nhất. À, ‘tồn tại hay không tồn tại', người anh hùng bị giằng co giữa sống và chết... Tôi phải tự khen rằng mình diễn khá tốt. Còn đây: thư viện, nơi tôi dành phần lớn thời gian trong các chuyến viếng thăm nơi này. Gu sách của người chủ trước tôi không được sắc sảo cho lắm, bởi vậy tôi đã thay thế bộ sưu tập sách của ông ấy bằng bộ sách của tôi, và chỉnh trang lại chút ít. Chỉ cần bước qua cánh cửa kia là đến được chỗ an toàn nơi các căn phòng của tôi, và những đồ đạc bằng sắt - tất nhiên do chính công ty tôi sản xuất - sẽ xua lũ ma ra xa.”

“Một căn phòng rất thoải mái, thưa ngài,” Lockwood nhận xét.

“Các cô cậu không cần tìm kiếm nhiều ở đây đâu,” ông Fairfax đưa chúng tôi quay trở lại sảnh, nơi ông Starkins đang đặt một chiếc điện thoại kiểu cổ màu đen lên một chiếc bàn con, cạnh một bình hoa có hoa văn tinh xảo. “Cho dù là thứ gì đi nữa, thì chắc chắn Nguồn cũng sẽ ở trong phần cổ nhất của tòa nhà. Sảnh, phòng trưng bày dài, hoặc có nhiều khả năng nhất, là ở trên tầng. Này, cẩn thận đấy!” Hai người phục vụ đang trải cuộn dây điện thoại quanh chiếc bàn. “Nó là đồ thời nhà Hán đấy! Các người có biết giá trị của chiếc bình đó là bao nhiêu không?”

Ông ta tiếp tục quở trách họ, nhưng tôi đã chẳng còn nghe ông ta nói nữa. Tôi bước ngang sảnh, lắng nghe bằng tai trong và chỉ thấy tiếng tim mình đập trong bầu im lặng chờ đợi. Phía trước tôi, cây cầu thang lớn nhô lên, uốn cong tới chiếu nghỉ và dẫn lên vào bóng tối. Những sinh vật kỳ lạ với rất nhiều vảy và sừng được khắc vào hai bên thành cầu thang theo từng bậc. Mỗi con đỡ một chiếc cột nhỏ trong móng vuốt.

“Có nghe thấy gì không?” George thì thầm. Cậu đã tới bên cạnh tôi.

“Không. Mà ngược lại. Cứ như thể thứ gì đang cố che đậy những âm thanh ấy hay sao đó.”

“Tôi thấy là các cô cậu đã tìm thấy cây Cầu Thang Gào Thét huyền thoại!” ông Fairfax một lần nữa quay lại với chúng tôi. “Các cô cậu thấy đống cột cạnh những tượng rồng đó chứ? Đó là nơi Công Tước Đỏ đặt đầu lâu những nạn nhân của ông ấy - chuyện kể lại như vậy. Có lẽ sau đêm nay, các cô cậu sẽ có thể khẳng định lại câu chuyện về cây cầu thang. Tôi hy vọng các cô cậu sẽ không phải nghe tiếng hét của nó.”

Ông ta dẫn chúng tôi lên những bậc thang, cây gậy đều đặn gõ vào bậc thang đá. Chúng tôi theo sau trong yên lặng, đội hình rời rạc, mỗi người đều lờ những người kia đi, để cho các giác quan của chúng tôi dẫn lối. Tôi vuốt ngón tay lên tay vịn cầu thang, vừa để tâm trí rộng mở chờ đón những dấu vết tâm linh, vừa liên tục lắng nghe.

Chúng tôi đi bên dưới một ô cửa sổ, bốn dáng người vương những tia nắng cuối cùng chầm chậm leo lên qua một đợt cầu thang nữa và tới chiếu nghỉ. Một tấm thảm màu đỏ đun và lớp giấy dán tường xốp màu đỏ hấp thụ hết mọi âm thanh. Ở trên này có một thứ mùi ngọt ngào rất lạ, như mùi những bông hoa của vùng nhiệt đới, nhưng quẩn mùi thối rữa. Một hành lang dài rộng mà tôi còn nhớ được từ bản vẽ của George chạy theo hướng Đông-Tây, dọc theo trục tòa nhà. Ở cả hai bên có rất nhiều căn phòng mở cửa; qua những cánh cửa khép hờ tôi loáng thoáng thấy đám đồ đạc tối màu, những bức tranh, những tấm gương vàng nặng nề... Fairfax bỏ qua tất cả. Ông ta dẫn lối dọc theo hành lang về phía Tây cho tới khi nó kết thúc ở một cánh cửa.

Fairfax dừng lại; không hiểu do cố gắng lúc leo cầu thang hay do không khí ở nơi đây đột nhiên trở nên ngột ngạt mà ông ta bị hụt hơi.

“Đằng sau rào chắn này,” cuối cùng ông ta nói, “chính là nơi tôi đã nói với các cô cậu. Căn Phòng Đỏ.”

Đó là một cánh cửa gỗ chắc chắn, được đóng chặt và khóa lại, và không khác gì so với những cánh cửa khác mà chúng tôi vừa đi ngang qua - ngoại trừ một vệt đánh dấu ở trên. Người nào đó, vào một lúc nào đó, đã gạch một chữ X nguệch ngoạc lên thanh ván ở giữa của nó. Một nét ngắn, một nét dài; cả hai đều được tạo ra bởi lực rất mạnh, khắc sâu vào gỗ.

Fairfax chỉnh vị trí của đầu gậy trên sàn nhà. “Giờ, cậu Lockwood, hãy thật chú tâm nhé. Bởi vì đây là một căn phòng đặc biệt nguy hiểm, nó luôn được khóa lại. Tuy vậy, tôi có chìa khóa ở đây, và giờ tôi trao nó cho cậu.”

Ông ta làm một màn khua chiêng gõ trống, hết vỗ vỗ rồi lục lọi. Cuối cùng chiếc chìa khóa xuất hiện: một vật nhỏ màu vàng trên một vòng dây đỏ đậm. Lockwood điềm tĩnh cầm lấy.

“Tôi tin,” ông Fairfax nói, “rằng Nguồn ở trong căn phòng này. Các cô cậu có muốn điều tra theo hướng đó không là tùy các cô cậu. Các cô cậu không bắt buộc phải vào trong đó. Tôi để các cô cậu tự quyết định. Tuy vậy, tôi nghĩ các cô cậu đã cảm thấy là tôi đúng...”

Có lẽ ông ta còn nói nhiều nữa, nhưng tôi quá bận rộn để cố gắng lắng nghe những tiếng thì thầm yếu ớt lặp đi lặp lại đã đột nhiên phá vỡ sự tĩnh lặng. Chúng ở đâu đó rất gần, và tôi không thích những giọng nói đó. Tôi nhận ra Lockwood đã tái xám mặt mày, và kể cả George trông cũng xanh tái và nôn nao; cậu kéo cao cổ áo như thể cảm thấy lạnh.

Ở dưới sảnh, chiếc điện thoại đã được đặt cạnh cái bình, dây cáp của nó chạy trên mặt sàn đá tới một lỗ cắm đâu đó trong thư viện. Những người phục vụ đã rời đi. Ông già Bert Starkins bồn chồn đứng bên cánh cửa, trong ánh sáng nhá nhem, nóng lòng muốn đi theo bọn họ.

“Còn mười phút, thưa ngài!” ông ta gào lên.

Ông Fairfax nhìn chúng tôi. “Cậu Lockwood?”

Lockwood gật đầu. “Được ạ. Chúng cháu chỉ cần mười phút thôi.”

Chúng tôi làm việc trong yên lặng bên dưới những khung cửa sổ cao và hẹp của phòng trưng bày dài, đổ các thứ trong túi ra, tập hợp đồ nghề, thắt chặt các dây buộc và điều chỉnh bộ dụng cụ. Mỗi chúng tôi đều mang những bộ đồ nghề thông thường và bổ sung thêm một chút để bù cho việc thiếu pháo.

Trên đai lưng, tôi mang thanh kiếm của mình, một chiếc đèn pin cùng pin dự phòng, ba cây nến với một chiếc bật lửa và một hộp diêm, năm ấn bạc nhỏ (mỗi cái có một hình dạng khác nhau), ba túi nhỏ mạt sắt, ba quả bom muối, hai lọ nước oải hương, nhiệt kế, sổ ghi chép và một cái bút. Kế đến, trên một dây đai khác, choàng chéo qua vai tôi như một tấm khăn, tôi đeo hai hàng hộp nhựa đặt thành cặp. Mỗi cặp chứa hai lạng mạt sắt và hai lạng muối. Tiếp theo, cũng là ở trên vai, tôi có một vòng xích sắt mỏng, giở hết ra thì dài một mét tám, và được quấn chặt với màng bóng xốp để ngăn tiếng động mạnh. Cuối cùng, trong túi ngoài áo khoác của tôi, tôi trữ đồ ăn dùng trong trường hợp khẩn cấp - nước tăng lực, bánh kẹp và sô cô la. Những bình giữ nhiệt đựng trà nóng, xích sắt cùng những chiếc ấn lớn hơn, được mang trong một túi riêng.

Ngoài quần áo thường ngày, tôi mang găng tay, áo gi lê và quần tất giữa nhiệt, và bên trong đôi bốt thì đi tất dày. Vẫn chưa đủ lạnh để đội mũ, bởi vậy tôi nhét nó trong túi áo khoác dài. Và tôi vẫn đeo sợi dây chuyền đặt trong chiếc hộp thủy-tinh-bạc giấu quanh cổ.

Những người kia cũng mang theo ít nhiều như thế, dù Lockwood còn có cặp kính râm gài vào túi ngực áo khoác. Những trang thiết bị trở thành gánh nặng cho chúng tôi, và khiến chúng tôi thấy vướng víu hơn bình thường, nhưng mỗi người chúng tôi đều mang theo đủ lượng sắt để có thể tự mình chiến đấu. Nếu bị tách nhau ra và rơi vào tình thế bắt buộc, chúng tôi có thể tạo lập những vòng tròn bảo vệ của riêng mình. Trong mấy túi vải len thô vẫn còn hai bộ xích sắt đường kính năm phân nữa - ngay cả những Khách mạnh nhất cũng khó lòng dịch chuyển được chúng - nhưng chúng tôi hiện giờ không hoàn toàn phụ thuộc vào những thứ này.

Chúng tôi đã xong. Ánh sáng bên ngoài cửa sổ gần như đã tắt hẳn. Đằng kia trong lò sưởi, những ngọn lửa màu cam đang lụi dần. Bóng tối đã trườn dọc trần nhà của phòng trưng bày dài, bao lấy những đường cong và góc nhọn của cây cầu thang đá lớn. Nhưng thế thì đã sao? Đúng vậy, ngày đã tàn và đêm đã đến, và Khách trong căn nhà đang thức dậy, nhưng Lockwood & Đồng sự đã sẵn sàng. Chúng tôi làm việc cùng nhau, và chúng tôi sẽ không sợ hãi.

“Hừm, vậy thôi,” ông Fairfax nói. Ông ta đứng cạnh ông Starkins ở cửa. “Tôi sẽ quay trở lại đây vào chín giờ sáng ngày mai để nghe báo cáo của các cô cậu. Còn có câu hỏi cuối nào không?”

Ông ta nhìn khắp chúng tôi; chúng tôi đứng đó chờ đợi, Lockwood cười nhẹ nhàng như vẫn thường làm, tay đặt trên chuôi kiếm, thoải mái như thể đang đứng đợi taxi vậy. Bên cạnh cậu, George, bình thản tới kỳ cục như mọi khi, đang chớp mắt qua cặp kính tròn dày cui, quần được kéo cao bấp chấp sức nặng của muối và sắt. Còn tôi... Tôi tự hỏi trông mình ra sao trong những giây phút cuối cùng đó? Tôi hy vọng mình thể hiện tốt. Hy vọng tôi không để sự sợ hãi của mình lộ ra ngoài.

“Có câu hỏi gì không?” ông Fairfax nhắc lại.

Mỗi đứa chúng tôi đều đứng đó yên lặng, chờ đợi ông ta kết thúc câu chuyện và rời đi.

“Thế thì hẹn gặp sáng mai nhé!” Fairfax giơ tay làm một cử chỉ chia tay gượng gạo. “Chúc các cô cậu may mắn!” Ông ta gật đầu nhanh với Bert Starkins, và quay đầu đi xuống các bậc thềm. Ông Starkins với tay ra đóng cửa. Hai tiếng cót két đồng thời của mấy chiếc bản lề rít lên; hai cánh cửa khép lại. Trong một khoảnh khắc người quản gia như bị đóng khung giữa chúng, in bóng trong ánh sáng chạng vạng như một giá treo cổ cằn cỗi và uốn éo... Rồi hai cánh cửa đóng sập lại. Tiếng sập cửa dội chói tai qua sảnh và dọc khắp các phòng trưng bày. Tôi có thể nghe thấy những tiếng vọng trôi mãi tới tận những ngóc ngách xa xôi, bụi bặm của tòa nhà.

“Chẳng phải sẽ rất hay nếu ông ấy quên gậy và phải vội vã chạy ngược lại để lấy nó sao?” George nói, “Chắc chắn hiệu ứng này sẽ hỏng bét, phải không?”

Cả hai chúng tôi đều không đáp lời. Những tiếng vọng đã lịm dần, và giờ đây cái im lặng hau háu của ngôi nhà dâng lên ôm lấy chúng tôi như một làn nước giếng.

« Lùi
Tiến »