Cầu Thang Gào Thét

Lượt đọc: 108 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
CHƯƠNG 14

PHÁT LỘ SAU 50 NĂM!

THI THỂ CỦA NẠN NHÂN VỤ GIẾT NGƯỜI ĐÃ ĐƯỢC TÌM THẤY

CHIẾN CÔNG THUỘC VỀ CÔNG TY THÁM TỬ LOCKWOOD

Sau một trong những vụ “án lạnh” ly kỳ nhất những năm gần đây, xác của Annabel “Annie” Ward, cô gái đã biến mất gần nửa thế kỷ trước, đã được tìm thấy trong một ngôi nhà ở Tây Nam London. Các thám tử làm việc cho công ty Lockwood & Đồng sự đã chiến đấu cả nửa buổi đêm với hồn ma đáng sợ của nạn nhân, trước khi xác định được vị trí và chế ngự an toàn thi thể.

“Chúng tôi chỉ thoát chết trong đường tơ kẽ tóc,” Anthony Lockwood, người đứng đầu trẻ tuổi của công ty thám tử này, nói. “Nhưng tiêu diệt hồn ma là chưa đủ đối với chúng tôi. Chúng tôi muốn đòi lại công bằng cho cô gái vô danh này.”

Nhóm thám tử sau đó đã áp dụng những kỹ thuật điều tra phức tạp để xác định danh tính của cô Ward.

DEPRAC từ đó đã chấp thuận mở một vụ điều tra án giết người.

“Chẳng có vụ án nào xảy ra quá lâu hay quá khó đối với chúng tôi,” Lockwood nói. “Thực ra, những vụ khó lại hợp với chúng tôi nhất, nhờ tính chuyên nghiệp cao và cách tiếp cận cá nhân độc đáo của chúng tôi. Chúng tôi muốn chế ngự Khách, tất nhiên rồi, nhưng chúng tôi cũng quan tâm đến những câu chuyện rất con người đằng sau những vụ ma ám. Annie Ward tội nghiệp đã chết cách đây rất lâu, nhưng kẻ giết cô ấy có thể vẫn sẽ phải trả giá. Lucy Carlisle, một trong những thám tử hàng đầu của chúng tôi, đã kết nối tâm linh được với Khách này trong quá trình điều tra, và bất chấp đám cháy cuồng nộ do hồn ma đầy hận thù đó gây ra, đã thu thập được chứng cớ quan trọng mà chúng tôi nghĩ có thể đưa chúng ta đến với thủ phạm. Tạm thời đó là tất cả những gì tôi có thể nói lúc này, nhưng chúng tôi hy vọng sẽ sớm có thêm nhiều tin tức mới khi chúng tôi làm sáng tỏ toàn bộ sự thật giật gân đằng sau thảm kịch này.”

“Một bài báo tuyệt hay,” Lockwood nói lần thứ hai mươi trong ngày. “Không thể tuyệt vời hơn được nữa.”

“Họ ghi sai tên tôi kìa,” tôi chỉ ra.

“Họ còn chẳng thèm đả động tới tôi,” George nói.

“Hừm, nhưng điều quan trọng nhất,” Lockwood nhăn nhở cười với chúng tôi. “Trang sáu của tờ Thời đại. Trước kia chúng ta chưa từng nổi tiếng tới mức này. Đây chính là bước ngoặt đột phá. Cuối cùng thì mọi việc đã tích cực hơn.” Cậu rùng mình và nhấc giày từ một chỗ bón phân bốc mùi sang một chỗ bón phân bốc mùi khác.

Lúc đó đã gần tám giờ tối ngày hôm sau chuyến đi của chúng tôi tới Trung tâm Lưu trữ. Chúng tôi đang đứng trong một vạt đất trồng lý gai nhớp nhúa giữa một khu vườn tối tăm lạnh lẽo, chờ đợi một hồn ma. Đó không phải nhiệm vụ vinh quang nhất người ta từng biết.

“Nhiệt độ?” Lockwood hỏi.

“Vẫn đang giảm.” George kiểm tra nhiệt kế của mình. Nó tỏa sáng yếu ớt giữa những cành lý gai đan vào nhau, ở phía ngôi nhà, ánh sáng bị che khuất bởi những chiếc rèm xám xịt. Một con chó sủa ở tận phía xa. Cách chúng tôi sáu mét, những cành liễu mỏng đen sì rủ xuống như một làn mưa đông cứng.

“Âm khí đang tăng mạnh,” tôi nói. Tay chân tôi nặng nề, trí óc tôi bị đè nén bởi một cảm xúc vô vọng và xa lạ. Mùi vị của sự thối rữa gắt lên trong miệng tôi. Tôi ăn một chiếc kẹo bạc hà nữa để làm thanh sạch mọi thứ.

“Tốt lắm,” Lockwood nói. “Sẽ không lâu đâu.”

“Thông báo với DEPRAC về Annie Ward,” đột nhiên George nói, “là tốt thôi. Nhưng tôi vẫn không nghĩ rằng cậu nên để báo chí dính dáng vào sóm như thế. Cảnh sát còn chưa tiến hành điều tra cơ mà? Chúng ta còn chưa biết khi nào họ sẽ tiến hành điều tra.”

“Ồ, có biết chứ. Ông Barnes không lấy làm thoải mái lắm khi chúng ta tìm ra danh tính của cô gái trước họ, nhưng ông ta rất quan tâm tới mối liên hệ với lão Hugo Blake. Ông ta đã tìm kiếm lão trong hồ sơ lưu trữ của họ. Hóa ra giờ lão là một doanh nhân thành đạt, nhưng đã từng ở tù vài lần vì làm ăn gian dối, và một lần vì tấn công vũ lực nghiêm trọng. Lão là một kẻ ác hiểm. Và chúng ta đã đúng: lão vẫn còn sống và sống ổn, ở ngay chính London này.”

“Vậy họ đã triệu lão đến chưa?” tôi hỏi.

“Họ định làm điều đó hôm nay. Có lẽ họ đã bắt lão rồi.”

“Sương ma đang đến đấy,” George nói. Những dải xoắn mờ nhạt đã bốc lên từ mặt đất, phát ra sáng lạnh lẽo, mỏng như sợi mỳ ống, uốn lượn giữa cây liễu và bức tường.

“Cậu nghe thấy gì, Lucy?” Lockwood hỏi.

“Vẫn thế. Gió thổi qua tán lá. Và một tiếng cọt kẹt, cọt kẹt, cọt kẹt.”

“Dây thừng chăng?”

“Có thể.”

“George - có thấy gì không?”

“Chưa thấy gì. Còn cậu? Đốm-sáng-chết vẫn ở bên trên mặt đất chứ?”

“Chậc, nó sẽ không di chuyển đâu, phải không nào? Đúng thế, nó vẫn ở trên đó giữa các cành cây.”

“Cho tôi một viên kẹo bạc hà được không, Lucy?” George nói. “Tôi quên không mang.”

“Được.”

Tôi chuyển gói kẹo. Câu chuyện ngưng lại. Chúng tôi quan sát cây liễu.

Dù Lockwood đặt nhiều hy vọng vào bài báo của cậu ấy, chúng tôi vẫn chưa cảm thấy bất cứ lợi ích nào từ nó, và ca lọ mọ đêm hôm lần này là vụ cuối cùng còn lại trong sổ của chúng tôi. Khách hàng của chúng tôi, một cặp vợ chồng trẻ, thường xuyên có cảm giác khó chịu và sợ hãi ở khu vực gần cuối khu vườn tân thời của họ. Những đêm gần đây hai đứa con của họ (bốn và sáu tuổi) nhìn từ trong nhà ra và thấy một “cái bóng màu đen, bất động” đứng giữa những cành nhánh của cây liễu. Hai ông bố bà mẹ, dù ở cùng với lũ trẻ trong những dịp đó, đã không nhìn thấy gì cả.

Lockwood và tôi đã tiến hành khảo sát sơ bộ khu vực này vào buổi sáng. Cây liễu đó đã rất già, cành nhánh to và cao vút. Cả hai chúng tôi đều đã nhận thấy những hiện tượng nền yếu ớt ở khu vực xung quanh, chủ yếu là âm khí và nỗi sợ vô căn cứ. Trong khi đó George dành cả ngày ở Trung tâm Lưu trữ điều tra lịch sử của ngôi nhà. Cậu phát hiện ra một sự kiện đáng chú ý. Trong tháng Năm năm 1926, người chủ nhà, ông Henry Kitchener, đã treo cổ tự vẫn đâu đó trong khuôn viên này. Địa điểm chính xác không được đề cập.

Chúng tôi có lý do để nghi ngờ cái cây.

“Tôi không biết tại sao cậu nhắc tới tôi nhưng không nhắc tới sợi dây chuyền,” tôi nói. “Cậu cứ làm như Annie Ward đã kể riêng với tôi về người giết cô ấy vậy, điều mà tất cả chúng ta đều biết là rất vớ vẩn. Các hồn ma không giao tiếp rõ ràng như vậy. Mối liên hệ tâm linh là một thứ rất rời rạc.”

Lockwood chặc lưỡi. “Tôi biết, nhưng nhấn mạnh vào khả năng xuất sắc của cậu cũng không mất gì mà. Chúng ta muốn những khách hàng khác chạy xô đến, hăm hở muốn cậu điều tra cho họ. Và tôi đã chủ tâm không nhắc đến sợi dây chuyền, một phần bởi tôi muốn giữ nó lại cho các bài báo sau, một phần bởi tôi chưa nói về nó với ông Barnes.”

“Cậu chưa nói với ông Barnes?” George nói vẻ hoài nghi. “Kể cả về dòng chữ ư?”

“Chưa. Ông ta vẫn còn tức giận với chúng ta, và bởi việc mang các đồ tạo tác nguy hiểm về nhà như Lucy đã làm là phạm luật, tôi nghĩ sẽ an toàn hơn khi giữ yên lặng về nó lúc này. Thêm vào đó, tại sao phải lăn tăn chứ? Sợi dây chuyền đó chẳng mang lại thêm thông tin gì cả. Kể cả không có nó, thì rõ ràng Blake cũng có tội. Nhắc đó mới nhớ - cậu có tìm được thêm điều gì về vụ cô Ward không, George?”

“Có. Một vài bức ảnh. Chúng rất đáng quan tâm đấy. Tôi sẽ cho các cậu xem khi chúng ta về nhà.”

Thời gian trôi qua. Cảm giác băng giá tăng lên. Cảm xúc phiền não của linh hồn tự tử chưa an nghỉ rỉ ra từ cây liễu, lan tới những bụi cây và những luống hoa, ra những chiếc xe đạp nhựa và đồ chơi trẻ con nằm vương vãi trong khu vườn. Những nhành liễu bắt đầu sột soạt khe khẽ, cho dù chẳng có chút gió nào.

“Tôi đang băn khoăn không hiểu sao ông ấy lại làm thế,” Lockwood thì thầm.

“Ai cơ?” George nói. “Hugo Blake á?”

“Không, tôi đang nghĩ về vụ này cơ. Sao ông ấy lại treo cổ tự vẫn.”

Tôi cựa mình. “Ông ấy mất người nào đó ông ấy yêu quý.”

“Thật sao? Sao cậu lại nói thế, Luce? Điều đó không có trong hồ sơ, phải không, George?”

Đầu óc tôi đã hoàn toàn trống rỗng; tôi đang lắng nghe tiếng sột soạt trên cây. “Tôi chẳng biết nữa. Cũng có thể tôi sai.”

“Khoan đã.” Giọng Lockwood đanh lại. “Tôi nhìn thấy một hình dáng... Đúng rồi! Hai cậu có thấy không?”

“Không. Ở đâu cơ?”

“Ông ấy ở ngay đó! Các cậu không thấy ông ấy sao? Ông ấy đang đứng dưới gốc cây, ngước nhìn lên.”

Tôi đã cảm giác thấy nó đang đến - những làn sóng nhiễu loạn vô hình đang gợn lăn tăn từ trong ra ngoài, làm cho mạch máu đập thình thịch trong tai tôi. Nhưng Nhãn lực của tôi không tốt bằng của Lockwood, và với tôi cái cây đó vẫn chỉ là một màn bóng tối.

“Ông ấy cầm sợi dây thừng trong tay,” Lockwood thì thào. “Hẳn là ông ấy đã đứng đó rất lâu, lấy dũng khí để làm việc đó...”

Đôi khi mẹo vặt, giống như khi ngắm sao, là nhìn chệch đi một chút. Khi tôi đưa mắt về phía bức tường của khu vườn, những cái bóng dưới tán cây đột nhiên rõ nét hơn: tôi nhìn thấy một hình dáng mờ nhạt, gầy guộc và bất động, những cành cây liễu chồng lên trên đó như những chấn song.

“Tôi nhìn thấy rồi.” Đúng thế, ông ta đang nhìn lên, đầu nghiêng nghiêng, như thể cổ ông ta đã gãy sẵn rồi.

“Đừng nhìn vào mặt ông ấy,” George nói.

“OK, tôi sẽ tiến sát vào đây,” Lockwood nói. “Tất cả hãy bình tĩnh nhé. Aaa! Có thứ gì đó tóm được tôi rồi!”

Hai tiếng lưỡi sắt loẹt quẹt vang lên cùng lúc: George và tôi đã rút kiếm ra. Tôi bật đèn pin chiếu vào Lockwood, cậu ấy đang chết sững cạnh tôi, mắt nhìn trừng trừng.

Tôi lại tắt đèn pin đi.

“Chẳng có gì tóm được cậu đâu,” tôi nói. “Đuôi áo của cậu vướng vào bụi lý gai thôi.”

“Ồ, tốt rồi. Cảm ơn cậu.”

Một tiếng khịt mũi từ George. “Cái áo choàng đó! Nó quá dài! Nó cũng đã suýt giết cậu vào đêm đó rồi.”

Vài âm thanh nhỏ vang lên khi Lockwood dứt chiếc áo ra khỏi bụi lý gai. Dưới tán liễu, hình dáng đó vẫn không di chuyển.

“Yểm trợ cho tôi nhé,” Lockwood nói.

Cậu rút kiếm ra và lẳng lặng tiến bước về phía cái cây. Sương ma vờn quanh bắp chân cậu ấy và vặn xoắn thành những cuộn xoáy màu trắng sữa theo mỗi bước chân thận trọng của cậu. George và tôi theo sát đằng sau, bom muối sẵn sàng trên tay.

Chúng tôi tiến gần hơn đến vòm lá rủ bên ngoài của cây liễu.

“OK...” Lockwood thở thành tiếng. “Tôi đã đến gần, nhưng ông ấy không phản ứng gì. Ông ấy chỉ là một Bóng thôi.”

Lúc này tôi có thể nhìn thấy ông ta rõ ràng hơn: những đường nét thô sơ bên ngoài của một người đàn ông mặc áo sơ mi, quần cạp cao kèm dây đeo quần... Một khuôn mặt nhợt nhạt hất lên phía trên. Tôi cố giữ mắt mình tránh khỏi khuôn mặt đó, nhưng tôi cảm thấy những tiếng vọng của một nỗi buồn khổ xa xưa, một người thân yêu đã ra đi, một nỗi tuyệt vọng quá sức chịu đựng... Tôi cảm nhận được một tiếng rên sâu trong cổ họng một người đàn ông.

Bất thình lình hình dáng đó chuyển động; tôi nhìn thấy loáng thoáng một sợi dây thừng, một vòng dây được quăng lên những cành cây...

Đúng lúc đó một vật nhỏ màu nhạt bay qua đầu tôi và bật tung ra trên cây. Một trận mưa muối ào xuống, xuyên qua hình dáng đó. Nó quằn quại và biến mất. Những hạt muối bắt cháy lóe thành thứ lửa màu xanh lục. Chúng rơi lộp bộp xuống đất như một trận mưa tuyết màu ngọc lục bảo.

Tôi quay lại nhìn George. “Cậu làm thế để làm gì?”

“Cậu bình tĩnh đi. Ông ấy đã di chuyển. Lockwood thì ở ngay đó. Tôi không chấp nhận mạo hiểm đâu.”

“Ông ấy có tấn công đâu,” tôi nói. “Ông ấy còn đang bận nghĩ về vợ mình.”

“Vợ ông ấy ư? Sao cậu biết điều đó? Cậu đã nghe được ông ấy nói sao?” George nói.

“Không...”

“Vậy làm thế nào...”

“Điều đó không quan trọng.” Lockwood gạt những nhành liễu sang một bên. Xung quanh giày cậu, những đốm sáng xanh lục nhấp nháy và tan biến. “Ông ấy đã đi rồi. Hãy lấy sắt rải quanh khu vực này và quay về nhà thôi.”

Một vài vụ là như thế - nhanh chóng và dễ dàng, chỉ trong chớp mắt. Ngày hôm sau, một vòng dây cũ, khuất sâu trên một cành cao, đã được tìm thấy thẳng phía trên chỗ ma hình xuất hiện. Sợi thừng đã chìm vào trong thân gỗ và không gỡ ra được, bởi thế cả cành cây đã bị cưa xuống và thiêu trong lửa-muối. Ba ngày sau đó, chủ nhà đã cho đốn cả cái cây xuống.

Trở về Portland Row sau pha hành động ở khu vườn nọ, chúng tôi ngạc nhiên thấy một chiếc xe cảnh sát đỗ bên ngoài nhà, đèn xe vẫn sáng và động cơ vẫn đang chạy. Một nhân viên DEPRAC xuống xe khi chúng tôi bước tới gần: một anh chàng to lớn, đầu cạo trọc, cơ bắp cuồn cuộn và chẳng thấy cổ đâu. Anh ta mặc bộ đồng phục đêm màu xanh da trời.

Anh ta chào chúng tôi mà không hề cười. “Lockwood & Đồng sự hả? Cuối cùng cũng xuất hiện. Các vị sẽ tới Sở Cảnh sát Thủ đô.”

Lockwood nhăn mặt. “Bây giờ ư? Nhưng muộn quá. Chúng tôi vừa mới xong một vụ.”

“Điều đó chẳng có nghĩa lý gì với tôi. Ông Barnes muốn gặp các vị. Ông ấy muốn gặp các vị từ hai tiếng trước cơ.”

“Có thể đợi đến mai được không?”

Bàn tay của viên cảnh sát, hồng hào và to bự như một súc thịt hun khói, chầm chậm hạ xuống cây dùi cui sắt ở thắt lưng. “Không.”

Lockwood chớp mắt. “Súc tích đấy,” cậu ấy nói. “Được thôi, hạ sĩ. Chúng ta đi thôi.”

Sở Cảnh sát Thủ đô, trụ sở chính của lực lượng cảnh sát truyền thống tại London, và cũng là trụ sở của các đơn vị DEPRAC phục vụ thành phố trong những thời khắc ban đêm khắc nghiệt, là một khối nhà hình tam giác được xây dựng từ thép và kính nằm giữa phố Victoria ở trung tâm thành phố. Gần đó là Hội Đào Mả và Nghiệp đoàn Nhà đòn; chưa kể công ty sắt Fairfax; công ty Muối United; và trên tất cả, là công ty Sunrise khổng lồ chuyên sản xuất đồ nghề cho hầu hết các công ty thám tử trên đất nước này. Ở phía đối diện, bên kia đường, là các văn phòng của hầu hết các tôn giáo lớn. Mỗi một tổ chức trong số những tổ chức quyền lực đó đều là trung tâm của cuộc chiến chống lại Vấn đề.

Bên ngoài Sở Cảnh sát Thủ đô, những đám oải hương cháy âm ỉ trong những chiếc bồn kim loại, và những rãnh nước sạch đang tuôn chảy qua các vỉa hè. Hai đứa trẻ gác đêm mũi đỏ ửng đứng gần mấy cánh cửa, canh phòng những mối nguy hiểm siêu nhiên. Chúng thu gậy và đứng nghiêm nghênh đón khi viên cảnh sát dẫn chúng tôi đi qua và trèo lên những bậc thang để đến trung tâm điều hành của DEPRAC.

Cũng như mọi khi, sau khi màn đêm buông xuống, căn phòng vô cùng náo nhiệt. Ở bức tường phía sau là một tấm bản đồ đường phố London khổng lồ, trên đó lốm đốm hàng chục chấm sáng nhỏ, một số màu xanh lá, một số màu vàng, mỗi đốm đánh dấu một ca khẩn cấp của đêm đó. Những người đàn ông và phụ nữ mặc đồng phục nền nã chạy đi chạy lại như con thoi phía dưới tấm bản đồ, mang theo hàng tập giấy tờ, nói lớn vào điện thoại, ra lệnh cho các nhóm trưởng của Rotwell và Fittes, các công ty thường giúp DEPRAC trong công việc của họ. Một thám tử trẻ chạy vượt qua chúng tôi, cầm theo một bó kiếm; đằng xa, hai cảnh sát đang đứng uống cà phê, lớp áo giáp của họ bốc khói - hậu quả của những vết cháy ngoại chất.

Viên cảnh sát đưa chúng tôi vào một phòng đợi và bỏ lại chúng tôi ở đó. Ở đây yên tĩnh hơn. Phía trên đầu chúng tôi đám đồ treo bằng sắt đang đung đưa trong làn gió thổi từ những chiếc quạt khuất đâu đây. Tiếng điều hòa không khí kêu đều đều.

“Cậu nghĩ ông ta muốn gì?” tôi hỏi. “Muốn biết thêm về vụ cháy chăng?”

Lockwood nhún vai. “Tôi hy vọng đó là tin tức mới về Blake. Có lẽ họ đã tóm được lão. Có lẽ lão đã thú tội.”

“Tiện thể nói đến điều đó...” George lục tìm trong túi xách. “Trong khi chờ đợi, các cậu hãy xem những bài báo lấy từ Trung tâm Lưu trữ này. Tôi đã tìm được thêm nhiều thông tin về Annie Ward. Có vẻ như năm mươi năm trước đây, cô ấy tham gia vào một nhóm phù phiếm - hầu hết là con nhà giàu, nhưng không phải tất cả - họ la cà ở những quán bar sành điệu nhất ở London. Một năm trước khi cô ấy chết, tờ Xã hội London đã đăng một loạt ảnh về họ. Các cậu xem đi. Cô ấy không phải cái tên duy nhất các cậu nhận ra đâu.”

Được sao ra từ bản gốc, trên trang báo là những tấm ảnh đen trắng. Hầu hết chụp cảnh dạ hội và tiệc tùng, nhưng cũng có cả ảnh sòng bạc và những ván bài nữa. Những con người trẻ tuổi, rạng rỡ túm tụm lại trong mỗi bức hình. Ngoại trừ kiểu cách ăn mặc (và cả nước ảnh đen trắng) thì họ chẳng khác mấy các nhân vật trong những tạp chí hiện đại mà Lockwood vẫn đọc, và cũng đờ đẫn y như thế - nhưng tôi đã sững người khi xem đến trang thứ ba hoặc thứ tư gì đó. Có hai bức ảnh trên trang này. Bức đầu tiên chụp một chàng trai trẻ bóng bẩy, đang cười trước ống kính trong studio. Anh ta đội mũ đen, đeo nơ con bướm đen, bận vét đen tuyền. Có lẽ anh ta còn vận một chiếc áo sơ mi có diềm tay nữa, nhưng đã bị che khuất đằng sau cây ba toong trong tay anh ta. Anh ta cũng mang găng tay màu trắng nữa. Tóc anh ta dài, sẫm màu và toát lên vẻ quyền quý; gương mặt anh ta mang vẻ đẹp trai màu mỡ. Nụ cười rất tự tin và lấy lòng người nhìn. Nó như nói lên rằng nó biết bạn sẽ thích anh ta nhiều thế nào một khi bạn dấn tới.

Phía dưới có một lời chú thích: Ông Hugo Blake: Công dân tiêu biểu của thành phố ngày hôm nay.

“Lão đó,” Lockwood thở dài.

Tôi nhìn chằm chặp khuôn mặt bóng bẩy, tự mãn đó. Và khi tôi làm thế, một khuôn mặt khác - bị bụi và mạng nhện bao phủ - ùa vào tâm trí tôi.

“Và lão ở trong bức hình này nữa,” George nói.

Ngay phía dưới là một bức hình khác. Đây là bức ảnh tập thể, được chụp từ trên cao. Những người đàn ông và phụ nữ trẻ tuổi đang đứng cạnh một đài phun nước. Đó hẳn là một dịp hội hè buồn tẻ, bởi tất cả cánh đàn ông đều bận cà vạt trắng và áo đuôi tôm, còn hội con gái mặc những chiếc váy dạ hội dài. Nào dây đeo, nào cườm lấp lánh, nào vai xếp nếp và những thứ khác nữa tôi chẳng biết gọi là gì. Tôi không thạo về áo váy cho lắm. Đó là một bức ảnh đen trắng, nhưng nhìn là biết đám váy vóc có màu sắc rất đẹp. Các cô gái được xếp đứng trước, còn những chàng trai đứng chen chúc phía sau. Tất cả bọn họ đều hướng về ống kính cười như thể thế giới này là của họ, mà với vài người trong số họ, có thể đúng như vậy thật. Và ngay chính giữa bức ảnh là Annie Ward. Cô ấy rạng rỡ như thế ánh-sáng-khác đã tỏa hào quang quanh cô ấy ngay từ lúc ấy. Các cô gái ở quanh cô ấy nở những nụ cười cam phận, như thể họ biết rẳng mình chỉ đang làm nền.

“Blake đây,” George nói và chỉ vào một người cao lớn đang cười ở hàng sau. “Ngay đằng sau vai cô ấy. Như thế lão bám theo cô ấy ngay cả ở chính chỗ này.”

“Và nhìn này...” Tôi giật nẩy người lên khi nhận ra một vệt mờ nhỏ hình bầu dục chỉ vừa đủ nhìn thấy bên dưới chiếc cổ trắng ngần của cô gái. Tôi cảm giác cổ họng mình nghẹt lại. “Cô ấy đã đeo sợi dây chuyền đó.”

“Ồ, tất cả các cô cậu đã đến rồi, phải không?” Thanh tra Barnes đứng ở cửa, nhìn xuống chúng tôi. Ông ta trông có vẻ mệt mỏi, ngay cả bộ ria của ông ta cũng rầu rĩ rũ xuống. Một tay ông ta cầm theo tập hồ sơ kẹp các báo cáo còn tay kia cầm cốc cà phê dùng một lần. “Vui làm sao. Chuẩn bị làm đổ đồ uống của tôi nữa chăng?”

Lockwood đứng dậy. “Chúng cháu tới đây theo yêu cầu của ông, ông Barnes,” cậu ấy điềm tĩnh nói. “Chúng cháu có thể giúp gì ông?”

“Hừm, không phải tất cả các cô cậu đều có thể.” Ông Barnes nhìn George đầy chủ ý. “Cậu vứt chiếc bình ma đó đi chưa, Cubbins?”

“Chắc chắn rồi, thưa ông Barnes,” George nói.

“Ừm. Chậc, hôm nay tôi không cần đến cậu - và cả cậu nữa, Lockwood. Tôi muốn nói chuyện với cô Carlyle.” Đôi mắt ti tiện dò xét tôi; tôi cảm nhận được cái nhìn sắc lạnh của ông ta. “Giờ xin mời đi theo tôi, quý cô. Những người khác đợi ở đây.”

Cảm giác sợ hãi dâng trào trong ngực tôi; tôi lo lắng nhìn Lockwood, giờ đã cau mày bước lên phía trước. “Cháu không đồng ý, thưa thanh tra,” cậu nói. “Cô ấy là nhân viên của cháu. Cháu yêu cầu phải được có mặt dù...”

“Nếu cậu muốn bị buộc tội cản trở điều tra,” Barnes gầm gừ, “thì cứ tiếp tục nói đi. Tuần này tôi đã quá đủ chuyện với cậu rồi. Thế nào? Còn muốn nói điều gì nữa không?”

Lockwood yên lặng. Tôi cố nở nụ cười tươi nhất có thể với cậu. “Không sao đâu,” tôi nói. “Tôi sẽ ổn thôi.”

“Tất nhiên là cô ấy sẽ ổn.” Ông Barnes kéo cánh cửa mở ra và dẫn tôi đi qua. “Đừng lo. Sẽ không lâu đâu.”

Ông ta dẫn tôi ra ngoài và đi qua các phòng điều hành tới một cánh cửa thép nhẵn thín ở đằng xa. Ông ta nhấn một dãy số vào một bàn phím; cánh cửa trượt mở, để lộ một hành lang yên tĩnh được những dải đèn neon dài chiếu sáng.

“Cậu bạn Lockwood của cô đã nói với tôi,” ông Barnes mở lời khi chúng tôi bước vào hành lang, “rằng cô có liên hệ tâm linh với hồn ma của Annie Ward. Có phải thế không?”

“Vâng, thưa ông. Cháu nghe thấy tiếng nói của cô ấy.”

“Cậu ấy cũng nói rằng cô có kiến giải quan trọng về cái chết của cô ấy - rằng cô ấy bị người đàn ông cô ấy từng yêu giết chết.”

“Đúng vậy, thưa ông.” Chà, điều đó cũng đúng - xét theo một chừng mực nào đó. Tôi đã có kiến giải đó khi tôi chạm vào sợi dây chuyền. Tôi không thu thập được thông tin đó từ chính bản thân hồn ma cô gái.

Ông Barnes nhìn xéo tôi. “Khi cô ấy nói chuyện với cô, cô ấy có cho cô biết tên hắn ta không?”

“Không, thưa ông. Nó chỉ là... những mảnh âm thanh rời rạc ngẫu nhiên thôi. Ông biết Khách là như thế nào mà.”

Ông ta lẩm bẩm. “Người ta nói rằng hồi xưa Marissa Fittes đã nói chuyện được với các hồn ma Loại Ba, và bởi thế đã tìm ra được nhiều điều. Nhưng đó là một Năng lực rất hiếm, và những hồn ma đó cũng rất hiếm. Còn chúng ta phải chấp nhận xoay xở với bất cứ thứ vớ vẩn nào chúng ta có thể có. Được rồi... đây là khu vực an ninh cao. Chúng ta sắp tới rồi.”

Chúng tôi bước theo một cầu thang bê tông xuống một tầng bên dưới. Những cánh cửa xung quanh chúng tôi giờ đây đã nặng nề hơn, và được nẹp cứng những đai sắt. Một vài trong số chúng có những tấm biển cảnh báo viền đen gắn trên tường: những hình tam giác màu vàng bên trong có một hình sọ người đang nhe răng cười, những hình tam giác màu đỏ thì có hai. Không khí đã lạnh hơn; tôi đoán chúng tôi giờ đây đã ở dưới mặt đất.

“Giờ hãy nghe nhé,” ông Barnes nói. “Nhờ những khám phá của cô, tôi đã mở lại vụ Annabel Ward.” Ông ta trừng mắt nhìn tôi ngờ vực. “Đừng có nghĩ rằng không có các cô cậu thì chúng tôi không thể tìm ra danh tính của cô ấy. Các cô cậu có thể tìm ra nhanh hơn, nhưng đó là bởi vì các cô cậu là ba đứa lêu lổng, chẳng có việc gì khá hơn để làm. Nhưng dù thế nào đi nữa, tôi đã điều tra mối quan hệ tới ông Hugo Blake này và tôi nghĩ ông ta có tội. Hôm nay tôi đã bắt ông ta.”

Tim tôi nhảy vọt lên. “Tốt quá ạ!”

“Tuy vậy...” ông Barnes đã dừng lại bên ngoài một cánh cửa sắt trơn “đã năm mươi năm rồi, Blake vẫn một mực chối bỏ mọi tội lỗi. Ông ta nói rằng đã để cô ấy xuống xe ở bên ngoài nhà, còn ông ta không bước vào nhà.”

“Ông ta đang nói dối đấy,” tôi nói.

“Tôi chắc chắn là vậy, nhưng tôi muốn có thêm chứng cứ. Và đó là lúc tôi cần đến cô. Nào, mời cô vào.”

Trước khi tôi có thể mở miệng, ông ta đã dẫn tôi qua cánh cửa và bước vào một căn phòng nhỏ tối tăm, chỉ có hai chiếc ghế thép mặt bọc da và một chiếc bàn con. Những chiếc ghế hướng về phía bức tường đối diện, bức tường có duy nhất một khung kính xám mờ. Có một công tắc gắn với bàn, và cả một ống nghe điện thoại màu đen.

“Mời ngồi, cô Carlyle.” Ông Barnes nhấc ống nghe lên và nói vào đó. “Được chưa? Ông ta ở đó chứ? Ổn rồi.”

Tôi nhìn ông ta. “Ông đang nói chuyện gì thế? Hãy cho cháu biết đang có chuyện gì diễn ra đi.”

“Những mối liên hệ tâm linh như giữa cô với cô gái đã chết đó,” ông Barnes nói, “là những thứ rất chủ quan. Rất khó nói thành lời. Cô nhớ một vài điều và quên những điều khác, về cơ bản, chúng gây nhiễu loạn trong trí óc cô. Bởi vậy có thể hồn ma đó đã trao đổi nhiều thông tin về vụ giết cô ấy hơn cô nhớ. Chẳng hạn như khuôn mặt của kẻ đã giết cô ấy.”

Tôi lắc đầu khi đột ngột hiểu ra. “Ý ông là Blake ư? Không. Cháu vừa mới nhìn thấy một bức ảnh của ông ta lúc nãy. Nó chẳng gợi lên điều gì cho cháu cả.”

“Có thể con người bằng xương bằng thịt sẽ khác chăng,” ông Barnes nói. “Chúng ta sẽ xem nhé?”

Cơn hoảng hốt tràn ngập trong tôi. “Ông Bames, cháu thực sự không muốn làm việc này. Cháu đã kể tất cả mọi thứ với ông rồi.”

“Cứ nhìn thử đi. Ông ta sẽ không thể nhìn thấy cô đâu. Đây là kính một chiều. Ông ta thậm chí chẳng hề biết cô ở đó.”

“Không mà, xin ông đấy, ông Barnes...”

Viên thanh tra tảng lờ tôi. Ông ta nhấn công tắc trên bàn. Trước mặt chúng tôi, ánh sáng rực rỡ xẻ đôi ô kính. Vùng sáng mở rộng ra. Những cửa chớp ở bên trong được kéo sang bên như những tấm rèm, để lộ ra một căn phòng lắp đèn rọi.

Một người đàn ông ngồi trên chiếc ghế kim loại ở giữa phòng, mặt hướng về phía chúng tôi. Nếu không tính tới tấm kính một chiều, lão cách tôi khoảng chừng hai đến ba mét.

Lão là một quý ông lớn tuổi mặc bộ vét thời thượng màu đen với những đường sọc mảnh màu hồng. Đôi giày của lão được đánh sáng bóng, chiếc cà vạt của lão màu hồng tươi; một chiếc khăn tay màu hồng rực nhô lên từ túi áo ngực như ngọn lửa. Hugo Blake rõ ràng vẫn lưu giữ được cái vẻ bảnh bao lão đã trưng ra trong tấm ảnh đen trắng chụp năm mươi năm về trước. Mái tóc lão đã ngả muối tiêu, nhưng vẫn dài và rậm rạp; nó xõa tung xuống vai lão thành những cuộn xoăn mềm.

Rất nhiều thứ vẫn nguyên như thế - nhưng khuôn mặt thì không.

Cái vẻ tự mãn dẻo quẹo của tuổi trẻ đã bị thay thế bằng vẻ nhăn nheo, hốc hác ảm đạm thê lương. Xương chìa ra như những lưỡi cày bên dưới lớp da. Mạng lưới mạch máu dày màu xanh trên mũi đã bắt đầu trải ra trên gò má và cằm. Cặp môi nhăn nhúm - mỏng quẹt và mím chặt đầy khắc nghiệt. Và đôi mắt...

Đôi mắt là thứ tệ nhất. Chìm trong hốc mắt sâu hoắm, chúng sáng rực và lạnh lùng, chất chứa nỗi tức giận và ánh lên vẻ trí tuệ. Chúng di chuyển không ngừng, nhìn khắp lượt xung quanh, quan sát bề mặt của bức tường kính trống trơn. Cơn thịnh nộ của người đàn ông lộ rõ. Hai bàn tay lão bấu chặt vào hai đầu gối như móng vuốt loài thú. Lão đang nói gì đó, nhưng tôi chẳng thể nghe rõ lời.

“Blake rất giàu có,” ông Barnes tặc lưỡi, “và thường muốn gì được nấy. Ông ta chẳng vui vẻ chút nào khi phải ở đây. Nhưng đó không phải vấn đề của cô. Hãy quan sát thật kỹ nhé, cô Carlyle. Hãy để tâm trí mình không vướng bận; hãy nghĩ lại về những gì cô có được từ cô gái đó. Nó có làm nảy ra bất cứ điều gì không?”

Tôi hít một hơi thật sâu, dằn nỗi lo của mình xuống. Dù gì thì mọi việc cũng sẽ ổn thôi. Lão không thực sự nhìn thấy tôi. Tôi sẽ làm điều ông Barnes muốn, rồi biến khỏi đây.

Tôi chú tâm vào khuôn mặt...

Và ngay khi tôi làm thế, đôi mắt người đàn ông đó đột ngột khóa chặt ánh mắt tôi. Chúng chững lại. Cứ như thể lão đã nhìn xuyên qua lớp kính và biết tôi đang ở đó.

Lão cười với tôi. Đó là một nụ cười nhăn nhở.

Tôi giật nẩy người trên ghế. “Không!” tôi thốt lên. “Thế là đủ rồi! Cháu không thu nhận được gì cả. Chẳng có cái gì nảy ra cả. Xin ông đấy. Xin hãy ngừng lại ngay! Thế là đủ rồi.”

Ông Barnes lưỡng lự, rồi nhấn công tắc. Cánh cửa chớp kéo vào, từ tốn che khuất người đàn ông đang cười với khuôn mặt được rọi sáng.

« Lùi
Tiến »