Cầu Thang Gào Thét

Lượt đọc: 113 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
CHƯƠNG 18

Việc di chuyển từ văn phòng của Lockwood & Đồng sự ở London tới làng Combe Carey khá dễ dàng. Chỉ cần bắt một chuyến taxi nhanh tới nhà ga Marylebone, ung dung chờ đợi ở sân ga số sáu, và cuối cùng đi một chuyến tàu bốn mươi lăm phút nhẹ nhàng - xuyên qua những vùng ngoại ô màu nâu xám mênh mông trải dài, rồi những cánh đồng hiu hắt của vùng Berkshire - trước khi ta đến bên dưới sườn nhà phủ rêu mốc của nhà thờ thánh Wilfred ở nhà ga Combe Carey cũ kỹ. Một hành trình nhiều lắm là một tiếng rưỡi. Một chuyến đi thẳng tưng dễ dàng, nhanh chóng và thoải mái nhất có thể.

Vâng, đúng vậy. Lý thuyết là thế. Nhưng thực tế sẽ không vui thú đến vậy khi các bạn phải giúp nhau mang sáu chiếc túi vải len thô cực lớn nặng trĩu các đồ kim loại, cộng thêm một túi đựng kiếm với bốn thanh kiếm cũ nhồi bên trong làm kiếm dự phòng, và rồi chính bạn cũng có một thanh mới tinh đeo ở thắt lưng cứ liên tục làm vướng chân. Rồi lại cũng chẳng khá khẩm gì hơn khi đội trưởng và đội phó của bạn tiện làm sao lại bỏ quên ví, thành ra bạn lại là người phải trả tiền cho ba vé tàu, tiền hành lý quá cân. Hoặc khi bạn dành quá nhiều thời gian tranh cãi và lỡ mất chuyến tàu đầu tiên. Đúng vậy, tất cả những điều đó thực sự vui lắm đấy.

Và rồi việc đến một trong những ngôi nhà bị ma ám nặng nề nhất nước Anh với hy vọng bạn sẽ không ngỏm củ tỏi cũng là một vấn đề nho nhỏ nữa.

Chuyện George chìa ra bản tóm tắt chi tiết về những thứ cậu đã khám phá ra được trong hai ngày trước chẳng giúp làm vấn đề cuối cùng trên nhẹ nhàng hơn chút nào. Cậu có một cặp hồ sơ gáy xoắn kẹp đầy những trang giấy ghi chép mạch lạc, và khi con tàu vui vẻ trôi lững lờ qua những ngọn tháp nhọn và những ngọn đèn ma của vùng quê giấu mình trong những khu rừng trập trùng giữa bao ngọn đồi thoai thoải, cậu thết đãi chúng tôi bằng hàng đống chi tiết kinh khủng từ trong đó.

“Về cơ bản, dường như những điều ông Fairfax đã nói với chúng ta đều đúng,” cậu nói. “Tòa dinh thự đó đã mang tiếng xấu trong nhiều thế kỷ rồi. Các cậu nhớ lúc đầu nó là tu viện chứ? Tôi đã tìm thấy một tài liệu từ thời Trung cổ về nó. Nó được một hội có tên Các Tu sĩ Dị giáo của Thánh John xây dựng. Có vẻ như bọn họ đã 'chuyển từ tôn thờ Chúa sang mến mộ những thứ đen tối', bất kể điều đó có nghĩa là gì. Chẳng bao lâu sau một nhóm nam tước nghe phong thanh được chuyện này và đốt rụi nơi đó. Họ chiếm vùng đất của tu viện rồi chia nhau.”

“Có thể đó là một âm mưu chăng?” tôi nói. “Bọn họ giăng bẫy các tu sĩ nhằm chiếm lấy khu đất?”

George gật đầu. “Có thể lắm. Kể từ khi đó nó đã được hết gia đình giàu có này đến gia đình giàu có khác sở hữu - nhà Carey, nhà Fitz-Percy, nhà Throckmorton - tất cả đều đã được hưởng lợi từ khu đất. Nhưng bản thân tòa dinh thự thì chỉ đem lại rắc rối. Tôi không thể tìm thấy nhiều chi tiết cụ thể, nhưng một chủ sở hữu đã bỏ hoang nó trong thế kỷ 15 bởi vì có 'ma quỷ hiện hình'. Nó suýt cháy hai hay ba lần, và - nghe này - năm 1666 một dịch bệnh bùng phát đã giết chết những cư dân của tòa nhà. Dường như một vị khách tới thăm và phát hiện thấy tất cả mọi người đã chết, ngoại trừ một em bé đang nằm khóc trong nôi ở một phòng ngủ.”

Lockwood huýt sáo. “Ghê quá. Đó có thể chính là cụm Khách của cậu đấy.”

“Họ có cứu được em bé đó không?” tôi hỏi.

George xem lại những ghi chép của mình. “Có. Ông ta được một người họ hàng nhận nuôi và trở thành thầy giáo. Chuyện đó kinh khủng thật, nhưng rồi ông ta đã may mắn thoát được. Dù sao đi nữa thì điều tiếng xấu về ngôi nhà vẫn tiếp tục cho tới thế kỷ này. Đã có nhiều vụ tai nạn liên tiếp, và người chủ cuối cùng trước ông Fairfax - một người họ hàng xa - đã tự tử bằng súng.”

“Phen này chúng mình không lo thiếu Khách rồi,” Lockwood trầm ngâm. “Có thông tin gì nhắc đến Cầu Thang Gào Thét, hoặc Căn Phòng Đỏ đáng sợ không?”

“Một mẩu nhỏ, từ cuốn Những huyền thoại Berkshire của Corbett.” George lật giở một trang khác. “Trong đó nói rằng người ta tìm thấy hai đứa trẻ ở Combe Carey trong tình trạng bất tỉnh ở dưới chân 'những bậc thang cũ' ở trong tòa dinh thự. Một đứa chết ngay lập tức, nhưng đứa kia hồi phục vừa đủ để thuật lại rằng chúng đã bị 'một tiếng tru ma quái, ác hiểm, tàn độc và báng bổ' bao vây.” Cậu đóng sập tập hồ sơ lại. “Rồi cô bé cũng chết sau đó.”

“Tiếng tru là gì?” Tôi hỏi.

“Đó chính là tiếng gào.” Lockwood nhìn ra khung cảnh đang trôi vụt đi. “Những câu chuyện, toàn những câu chuyện... Điều mà chúng ta thực sự cần là những sự kiện có thật.”

George tự mãn chỉnh lại cặp kính. “A ha. Có lẽ tôi có thể giúp cậu cả chuyện đó nữa đấy.” Cậu lấy từ bên trong cặp hồ sơ ra hai tờ giấy, mở ra và để trên chiếc bàn con dưới cửa sổ trong khoang tàu của chúng tôi. Tờ đầu tiên là bản vẽ tay mặt sàn của một tòa nhà lớn, cho thấy có hai tầng nhà rất rộng, mỗi tầng có tường, cửa sổ và cầu thang được vẽ cẩn thận bằng mực. Đôi chỗ có những chú thích được viết bằng mực màu xanh: Sảnh chính, Thư viện, Phòng Công tước, Phòng trưng bày dài... Ở trên cùng, dòng chữ gọn gàng, nắn nót của George ghi Chái Tây: Dinh thự Combe Carey.

“Rất xuất sắc đấy, George,” Lockwood nói. “Cậu tìm thấy nó ở đâu vậy?”

George gãi chiếc mũi bự. “Hiệp hội Kiến trúc Hoàng gia ở Pall Mall. Họ có tất cả những bản vẽ mặt bằng và các bảng khảo sát ở đó. Bản vẽ này được hoàn thành từ thế kỷ 19. Hãy nhìn chiếc cầu thang vĩ đại này: nó quả là một con quái vật. Nó hẳn phải lấn át cả căn nhà. Bản vẽ mặt bằng còn lại” - cậu lật sang tờ giấy kia - “thì cũ hơn nhiều; thậm chí có thể từ thời Trung cổ. Nó là những nét phác họa sơ sài, nhưng cho thấy nơi đó về cơ bản vẫn là phế tích của tu viện. Nó nhỏ hơn nhiều, và rất nhiều phòng hẳn đã bị phá đi khi họ xây lại thành nhà ở, bởi vì chúng đã không còn xuất hiện trong tấm bản đồ sau này nữa. Nhưng nhìn này, các cậu có thể thấy cây cầu thang khổng lồ đã có ở đó, và cả những khu vực sau này trở thành hành lang và phòng trưng bày dài nữa. Phòng trưng bày dài chính là phòng ăn của các tu sĩ. Vài căn phòng ở tầng trên cũng tương ứng với bản vẽ mặt bằng ở thế kỷ 19. Bởi thế so sánh giữa chúng,” George nói, “những bản vẽ mặt bằng này cho chúng ta biết những khu vực cổ xưa nhất của Chái Tây ở đâu.”

“Và nơi đó,” Lockwood nói, “nhiều khả năng chính là nơi Nguồn có tối cao. Tốt lắm. Tối nay chúng ta sẽ bắt đầu việc tìm kiếm của mình ở những khu vực đó. Còn những tài liệu khác mà tôi đã yêu cầu cậu thì sao, George? Tôi có thể xem qua được chứ?”

George rút ra một bìa kẹp hồ sơ mỏng màu xanh lá cây. “Đây. Tất cả những gì tôi có thể tìm thấy về ông John William Fairfax. Như ông ấy đã nói, ông ấy được thừa kế nơi đó sáu hay bảy năm trước. Có vẻ không bị nhụt chí bởi những tai tiếng của nó. Dù sao đi nữa, có rất nhiều bài báo về ông ấy ở trong đó - những cuộc phỏng vấn, tiểu sử, những thứ đại loại như thế.”

Lockwood cầm tập hồ sơ ngả người ra sau. “Để xem nào... Hừm, có vẻ Fairfax là một người rất ủng hộ việc săn cáo. Thích săn bắn và câu cá... Hỗ trợ rất nhiều hoạt động từ thiện. Ồ, ông ấy còn là một diễn viên nghiệp dư xuất sắc hồi còn trẻ... Hãy xem bài phê bình này: 'Liệu Fairfax có thể đem đến màn trình diễn xuất sắc khi đóng vai Othello...' Ngạc nhiên thật đấy. Nhưng theo một cách nào đó thì cũng có lý. Thậm chí cả bây giờ ông ấy cũng có vẻ hơi đóng kịch.”

“Điều đó không thực sự liên quan, phải không?” tôi nói. Tôi vẫn đang nghiên cứu những bản vẽ, lần theo đường cong của chiếc cầu thang, đoán chừng xem vị trí của Căn Phòng Đỏ tai tiếng ở đâu.

“Ồ, biết toàn bộ bối cảnh của một vụ án là điều tốt mà...” Lockwood trở nên đắm chìm. Cuộc nói chuyện đã lắng xuống; con tàu vẫn lao đi. Một hoặc hai lần tôi chạm vào mặt trước áo choàng của mình, cảm thấy viền cứng của vật treo bên trong: chiếc hộp chứa mặt dây chuyền của cô gái ma. Tôi giữ nó an toàn trong người mình, như Lockwood đã chỉ thị. Tôi hy vọng cậu đúng; rằng chúng tôi sẽ mau chóng đưa câu chuyện đó tới đoạn kết. Tất nhiên, với điều kiện chúng tôi sống sót qua buổi đêm ở Dinh thự Combe Carey.

Bên ngoài nhà ga của làng, một chiếc xe con đang đợi chúng tôi. Một anh chàng trẻ tuổi đầu bù tóc rối đang ngồi uể oải trên nắp ca pô, đọc một số cũ của tờ Những vụ ma ám nổi tiếng. Khi chúng tôi lảo đảo bước ra dưới sức nặng của hành lý như thể ba người Tây Tạng mới vào nghề phu khuân vác vừa quay xuống từ đỉnh Everest, anh ta hạ thấp tờ tạp chí xuống và nhìn chúng tôi bằng một vẻ thích thú nhẫn tâm pha lẫn thương xót. Anh ta chạm vào lọn tóc mái với một cử chỉ có phần châm biếm.

“Cậu Lockwood, phải không? Tôi đã nhận được điện của cậu, tôi sẽ đưa cậu đến tòa dinh thự.”

Đồ đạc của chúng tôi được nhồi nhét vào hàng ghế sau, và sau khi cố xoay xở, George và tôi cũng len được vào đó. Lockwood nhảy vào hàng ghế trước cạnh tài xế. Chiếc taxi đánh lái ra đường, làm lũ vịt nháo nhào dưới ao làng còn tôi ngã dúi đầu vào lòng George. Tôi sầm mặt chống người ngồi thẳng dậy. Gã thanh niên huýt sáo trong khi xe chúng tôi chạy giữa những hàng cây du xám ảm đạm.

“Tôi thấy trên xe không gia cố đồ sắt,” Lockwood gợi chuyện.

“Ở đây thì không cần,” anh ta đáp.

“Vùng an toàn ư? Không có Khách quanh đây hả?”

“Không. Bọn chúng tập trung ở tòa nhà đó cả rồi.” Anh chàng cua gấp để tránh ổ gà trên đường, và thế là tôi lại văng cả người qua đùi George lần nữa.

George nhìn xuống tôi. “Muốn giúp một tay không? Cậu có thể nằm yên ở đó nếu như thế dễ dàng hơn.”

“Không. Không, cảm ơn cậu. Tôi xoay xở được.”

“Ý anh là dinh thự Combe Carey hả?” Lockwood nói. “Tốt lắm. Đó chính là nơi chúng tôi sẽ ở tối nay.”

“Ở chái mới hả? Hay cùng với ông già quản gia Bert Starkins?”

“Ở trong nhà chính.”

Anh chàng trẻ tuổi yên lặng một lúc, nhấc tay ra khỏi bánh lái để làm dấu thánh, chạm vào một biểu tượng tôn giáo nhỏ trên bảng đồng hồ và cung kính nhổ nước bọt ra ngoài cửa sổ. Anh ta trầm ngâm nhìn vào gương chiếu hậu. “Tôi thích chiếc túi vải len thô màu đỏ đó,” anh ta nói. “Tôi có thể lấy một chiếc để đựng đồ đá bóng. Cậu không phiền nếu sáng mai tôi chạy ù vào trong nhà xin một chiếc chứ? Ông Fairfax chắc sẽ chẳng cần đến nó đâu nhỉ? Cả ông già Starkins cũng thế.”

“Xin lỗi,” Lockwood nói. “Sáng mai chúng tôi vẫn cần tới nó.”

Người thanh niên trẻ gật đầu. “Dù sao tôi vẫn cứ ghé qua,” anh ta nói. “Xem một tí cũng chẳng hại gì.”

Chúng tôi băng lên đồi, xuyên qua những lùm cây rải rác, giữa những cánh đồng lạnh giá, tối tăm nằm xen kẽ với những cánh đồng trồng rau vụ đông. “Anh đã bao giờ vào trong tòa nhà ấy chưa?” Lockwood hỏi.

“Gì cơ? Cậu nghĩ tôi điên sao?”

“Vậy thì hẳn anh biết điều gì đó về nó. Về những vụ ma ám tại tòa nhà đó.”

Người thanh niên trẻ đột ngột ngoặt vào một con đường phụ nhỏ hẹp, một cú ngoặt thần kỳ vào phút cuối làm tất cả mọi thứ ở đằng sau xe nhào dữ dội về bên trái, và đầu tôi bị kẹp một cách tàn nhẫn giữa cửa kính xe và phần mềm mềm nào đó trên mặt George. Mất một vài giây tôi chẳng nghe thấy gì ngoại trừ tiếng cậu thở vào tai tôi; cho tới lúc cậu đẩy được người ra khỏi tôi, sau một hồi lóng ngóng không cần thiết, thì chúng tôi đã vượt qua một cái cổng xiêu vẹo và lao như tên trên một đoạn đường dài thẳng tắp.

“... bị giết chết, giấu xác, và không bao giờ tìm thấy,” anh chàng đó đang nói. “Tôi nghĩ tất cả đã bắt đầu như thế đó. Ai ở quanh đây đều biết chuyện. Cái chết này dẫn đến cái chết kia, và cứ thế trở thành một chuỗi những cái chết, nó cứ tiếp tục dài ra chừng nào tòa nhà này còn tồn tại. Cần phải đốt rụi toàn bộ chỗ đó và rải muối trên lớp tro - mẹ tôi nói thế đó. Nhưng chúng tôi không thể khiến chủ nhà hiểu được điều đơn giản ấy. Ông ta nhất quyết thực hiện những thí nghiệm nho nhỏ của mình. Chúng ta tới nơi rồi. Mười bảng rưỡi, cộng thêm hai bảng cho túi xách nữa.”

“Thú vị đấy,” Lockwood nói. “Đặc biệt là phần đầu ấy. Cảm ơn anh.”

Chúng tôi dừng lại ở cuối đoạn đường rải sỏi. Qua cửa kính chỗ mình, tôi thấy một đồng cỏ rộng lớn rải rác những cây sồi và dẻ gai, và một phần của cái hồ tôi đã nhận ra trong bức ảnh của ông Fairfax. Nó có một vẻ hoang dã, um tùm. Cỏ mọc cao và bờ hồ ken đặc những bãi sậy. Ở phía bên kia, qua chỗ George, tôi chỉ có thể nhận ra phần thân nhạt màu của một cái cây, hai cái bình lớn đặt trên bệ, và đằng sau tất cả, bề mặt đá xám trống trải của một tòa nhà.

Lockwood đang bận nói chuyện với anh tài xế. Tôi ra khỏi xe và giúp George lấy túi. Dinh thự Combe Carey rộng lớn và sừng sững phía sau tôi. Không khí ẩm ướt và lạnh giá.

Tít trên đầu, những ống khói gạch cao vút nhô lên như những chiếc sừng nổi bật trên những đám mây. Khu bên tay trái của tòa nhà, mà tôi cho là khu Chái Tây, chái nhà lâu đới hơn, hầu hết được xây bằng đá cổ, và bằng gạch ở gần mái và ở rìa nhà. Nó có rất nhiều cửa sổ, với nhiều kích cỡ và độ cao khác nhau, mỗi ô cửa đều trơ trơ phản chiếu bầu trời xám ngoét tháng Mười một. Những chiếc cột rạn nứt chống đỡ một cổng hiên bê tông xấu xí phía trên cánh cửa đôi dẫn vào nhà, phía trước nó là mấy bậc thềm loe ra dưới chân. Một cây tần bì đồ sộ, lớn cả về tuổi đời lẫn kích thước, đứng ở đằng xa, phía cuối chái nhà. Những cành cây màu trắng ngà của nó ép vào tường gạch như những cái chân của một con nhện khổng lồ.

Ở bên phải của bậc thềm dẫn lên lối vào, chái phía Đông nhỏ hơn và cũng được xây bằng gạch, nhưng rõ ràng có tuổi đời ít hơn. Do một lỗi kiến trúc kỳ quặc, hai chái nhà được thiết kế để tạo thành một góc tù lớn, bởi thế nó tạo ra hiệu ứng như thể toàn bộ căn nhà đang khẽ với ra để bao vây tôi. Đó là một kết hợp ngột ngạt, xấu xí và không cần nghe tới tiếng xấu của nó, tôi cũng đã ghét nó kinh khủng rồi.

“Tuyệt vời quá!” Lockwood phấn khởi nói. “Đây là khách sạn của chúng ta đêm nay.” Cậu đã nói chuyện rất sôi nổi với người lái xe một lúc lâu. Như tôi quan sát thấy, cậu đã đưa cho anh chàng đó một cơ số tiền - nhiều hơn mười hai bảng rưỡi một khoản kha khá - và một chiếc phong bì nâu được xi kín. “Anh sẽ chuyển giúp chứ?” cậu nói. “Nó quan trọng lắm đấy.”

Anh chàng kia gật đầu. Chiếc xe của anh ta gầm lên, phóng vút đi, bắn tung đá sỏi, để lại đằng sau mùi xăng và mùi của sợ hãi, và bóng dáng một ông già đang bước xuống những bậc thềm của ngôi nhà.

“Tất cả những chuyện đó là thế nào vậy?” tôi chất vấn.

“Một gói nhỏ tôi cần gửi ấy mà,” Lockwood nói. “Tôi sẽ nói với cậu sau.”

“Suỵt,” George thì thầm. “Đây hẳn là 'ông già Bert Starkins'. Ông ấy già quá, phải không?”

Người quản gia quả là đã rất già, người ông ta khô quắt lại như thể hơi ẩm và sự mềm dẻo đã bị hút cạn từ lâu. Trong khi ông Fairfax vẫn toát ra đầy khí lực bất chấp tuổi tác và thể chất yếu ớt, người đàn ông này lại giống cây tần bì mọc cạnh nhà: xương xẩu và quằn quại, nhưng vẫn ngoan cố bám lại với đời. Ông ta có mái tóc muối tiêu bù xù cùng khuôn mặt hẹp mà càng tiến lại gần, khuôn mặt đó càng nát tung thành một mạng lưới những nếp nhăn ngang dọc, như một bề mặt đá vôi gồ ghề, nứt nẻ. Quần áo ông ta toát ra vẻ đứng đắn ủ rũ: một chiếc áo khoác đuôi tôm đã lỗi mốt bằng vải nhưng đen sẫm, từ trong hai ống tay áo thò ra những ngón tay xám ngoét điểm đồi mồi. Ống chiếc quần sọc ông ta mặc nhỏ tí, đôi giày dài và nhọn như mũi ông ta vậy.

Ông ta dừng lại và nhìn chúng tôi với vẻ u sầu. “Chào mừng tới Combe Carey. Ông Fairfax đang chờ các cháu, nhưng hiện tại ông ấy cảm thấy khó ở. Ông ấy sẽ đón các cháu sớm thôi. Trong khi chờ đợi, ông ấy yêu cầu tôi dẫn các cháu đi xem xung quanh khu đất và giới thiệu với các cháu về ngôi nhà.” Giọng ông ta đứt quãng và có vẻ cáu kỉnh, nghe như tiếng sột soạt của những nhành lá liễu.

“Cảm ơn ông,” Lockwood nói. “Ông là ông Starkins có phải không ạ?”

“Là tôi đây, tôi đã chăm sóc tòa nhà này năm mươi ba năm, cả một đời người rồi, bởi thế tôi biết chút ít về nơi này và tôi chẳng quan tâm người ta có biết đến chuyện đó không.”

“Cháu... cháu chắc chắn ông rất hiểu nơi này. Tốt quá rồi. Bọn cháu nên để đồ ở đâu nhỉ?”

“Cứ để ngay ở đây đi. Có ai lấy đâu chứ? Cư dân của ngôi nhà này thì chắc chắn là không rồi; họ không thức dậy trước khi mặt trời lặn đâu. Đi nào, tôi sẽ chỉ cho các cháu xem khu vườn.”

Lockwood giơ một tay lên. “Xin lỗi ông, nhưng chuyến đi hơi dài. Ông có... phòng giải quyết nào gần đây không ạ?”

Mạng lưới nếp nhăn hằn sâu hơn; bóng tối bao phủ đôi mắt ông già. “Đợi khi chúng ta vào nhà nhé, cậu nhóc. Tôi không thể dẫn cháu đi lúc này được. Ông Fairfax muốn tự mình chỉ cho các cháu xem bên trong nhà.”

“Nhưng mà hơi khẩn cấp ông ạ.”

“Chịu khó khép chân lại và nhịn đi.”

“Hay ông chỉ đường cho cháu cũng được.”

“Không! Không được.”

“Thế thì cháu sẽ núp đằng sau một trong hai cái bình kia. Sẽ chẳng ai biết đâu.”

Ông Starkins cau có. “Bước lên mấy bậc thang kia, đi ngang qua sảnh, căn phòng nhỏ ở bên trái cầu thang.”

“Cảm ơn ông rất nhiều. Cháu sẽ quay lại sớm.” Lockwood vội vã bước đi.

“Nếu bây giờ cậu ấy không nhịn được,” ông già nói, “thì đêm nay cậu ấy sẽ ra sao, khi ánh sáng tắt dần ở phòng trưng bày dài đây?”

“Ơ, cháu chẳng biết nữa,” tôi nói. Hành vi của Lockwood cũng làm tôi cảm thấy hơi khó hiểu.

“Chúng ta không phải chờ cậu ấy làm gì,” ông Starkins tiếp tục. Ông ta chỉ vào chái phía Tây. “Phần công trình bằng đá này đánh dấu phần xưa cũ nhất của Combe Carey. Nó là lớp vỏ của tu viện ban đầu - các cháu có thể thấy một trong những cửa sổ nhà nguyện ở đó - do cái hội tai tiếng Các Tu sĩ Dị giáo của Thánh John xây dựng. Họ là một nhóm xấu xa! Người ta nói rằng họ chuyển từ thờ phụng Chúa sang thờ phụng...”

“... những thứ đen tối,” tôi lẩm bẩm.

Ông Starkins nhìn tôi ngờ vực. “Ai là người dẫn thăm quan ở đây, cháu hay tôi? Nhưng cháu nói đúng. Những nghi thức và lễ cúng tế sa đọa đó... Ồ, thật kinh khủng khi nghĩ về việc đó. Hừm, tiếng đồn cứ thế lan truyền, và cuối cùng tu viện bị các nam tước tịch thu. Bảy nhà tu tội lỗi nhất đã bị ném xuống một cái giếng. Những người còn lại bị thiêu cháy bên trong tòa nhà. Đúng vậy, tất cả đã gào thét đến chết bên trong những bức tường đó! Nhân tiện, tôi đã chuẩn bị giường cho các cháu trong các phòng khách ở tầng hai. Có cả phòng tắm trong mỗi phòng ngủ nữa. Các cháu có đầy đủ tiện nghi.”

“Cảm ơn ông,” tôi nói.

“Cái giếng đó vẫn còn dùng được chứ ạ?” George hỏi.

“Không. Hồi ta còn trẻ thì vẫn còn thấy một cái giếng bỏ hoang ở sân trong này, nhưng người ta đã dùng nắp sắt bịt lại từ nhiều năm trước và lấy cát lấp nó lại rồi.”

George và tôi nhìn quét qua tòa nhà yên tĩnh một lúc. Tôi cố xác định xem chỗ nào trong bức ảnh của ông Fairfax là chỗ cửa sổ có vẻ có bóng người đứng. Rất khó nói chính xác. Có một vài chỗ khả nghi, dường như là ở tầng hai, ba hoặc bốn.

“Ông có nghĩ các tu sĩ đó chính là Nguồn cơ bản của những vụ ma ám này không?” tôi hỏi. “Có vẻ chính là bọn họ.”

“Tôi đâu dám múa rìu qua mắt thợ,” ông Bert Starkins nói. “Có thể là các tu sĩ đó; nhưng cũng có thể là ngài Rufus Carey Điên, người đã xây dựng ngôi nhà này từ phế tích của tu viện vào năm 1328... À, anh bạn thận yếu của các cháu quay lại rồi đây. Cũng đến lúc rồi.”

Lockwood đang tiến về phía chúng tôi, bước đi rất phấn chấn. “Xin lỗi về chuyện vừa rồi,” cậu nói. “Cháu có bỏ lỡ điều gì không?”

“Bọn tôi vừa mới nghe về ngài Rufus Điên,” tôi nói.

Ông Starkins gật đầu. “Đúng vậy. Ở quanh đây người ta gọi ông ta là Công Tước Đỏ, vì mái tóc đỏ rực và vì thích đổ máu. Người ta nói rằng ông ta đưa những kẻ thù của mình vào một phòng tra tấn nằm sâu bên trong ngôi nhà, nơi...” Ông ta do dự. “Không, tôi không thể nói thêm nữa, khi có mặt một cô gái trẻ ở đây.”

“Ồ, ông cứ tiếp tục đi mà,” George nói. “Lucy không phải dạng vừa đâu. Nhìn cô ấy mà xem. Cô ấy đã thấy qua đủ thứ rồi.”

“Cháu đã nhìn thấy nhiều rồi,” tôi ngọt ngào nói.

Ông lão làu bàu. “Hãy cứ nói là họ thỏa mãn thú vui ban đêm của ông ta đi. Mỗi khi ông ta kết liễu một người, ông ta đặt thủ cấp của họ trên cầu thang chính với những cây nến cháy trong hốc mắt.” Chỉ nghĩ đến đó thôi mà đôi mắt già nua, ghèn gỉ của ông Starkins đã sợ hãi trợn trừng lên. “Chuyện cứ tiếp diễn suốt nhiều năm, cho tới một đêm dông gió nọ, một nạn nhân đã thoát được và cắt cổ ngài Rufus bằng chiếc cùm tay gỉ sét. Từ đó tới nay, cứ khi nào hồn ma của Công Tước Đỏ đi qua hành lang, thì ta có thể nghe thấy tiếng linh hồn các nạn nhân của ông ta gào rú. Người ta nói nghe cứ như thể chính chiếc cầu thang đang gào thét vậy.”

Lockwood, George và tôi liếc nhìn nhau. “Vậy ra đó là nguồn gốc của cầu Thang Gào Thét ạ?” Lockwood hỏi.

Ông Starkins nhún vai. “Có thể.”

“Ông đã bao giờ nghe thấy nó gào thét chưa?” tôi hỏi.

“Chưa bao giờ! Tôi chẳng bao giờ vào ngôi nhà này vào ban đêm cả.”

“Thế còn những người khác mà ông biết ạ? Họ có từng nghe thấy không? Bất cứ người bạn nào của ông?”

“Bạn ư?” Trán người coi nhà nhăn lên vì bối rối trước khái niệm đó. “Đây không phải chỗ để tôi có bạn. Tôi là người phục vụ trong căn nhà này. Thôi, hãy tiếp tục thăm quan thôi.”

Ông lão Starkins đưa chúng tôi ngao du một vòng xung quanh ngôi nhà, chỉ trỏ những đặc điểm bên ngoài, và hướng dẫn chúng tôi một cách ngắn gọn. Chẳng bao lâu mọi thứ trở nên rõ ràng, ít nhất là theo quan điểm của ông già, rằng mỗi hòn đá, mỗi cái cây đều có những mối liên hệ đáng sợ. Ngài Rufus và những tu sĩ nọ đã hình thành một cái dớp. Tất cả những người chủ sau của ngôi nhà đều hoặc điên, hoặc không ra gì, hoặc là kết hợp hỗn độn của cả hai thứ. Trong suốt những năm họ tra tấn kẻ khác, vô số những vụ giết chóc đã xảy ra. về lý thuyết, bất cứ ai trong số những nạn nhân đều có thể đã góp phần vào bầu không khí tồi tệ trong căn nhà này, nhưng số lượng giai thoại vô cùng lớn này lại tẻ nhạt và quá khó tin. Tôi có thể thấy Lockwood đang cố nén nụ cười hoài nghi, còn George lần lữa đi thụt lại sau, vừa ngáp vừa đảo mắt. Về phần tôi, chẳng bao lâu tôi đã từ bỏ nỗ lực ghi nhớ tất cả những câu chuyện đó, và dành thời gian để nghiên cứu ngôi nhà. Tôi nhận ra rằng ngoài cổng chính, chẳng có đường thoát nào từ tầng một ra ngoài, ngoại trừ ở Chái Đông, nơi ông Fairfax sử dụng. Chiếc Rolls-Royce của ông ta đang đỗ bên ngoài cánh cửa hông; người tài xế, mặc áo sơ mi bất chấp thời tiết giá lạnh, đang đứng đánh bóng nắp ca pô.

Khoảnh đất phía bên kia Chái Đông vươn ra một hồ chèo thuyền buồn tẻ hình bầu dục. Gần bên cạnh là những vườn hoa hồng và một tháp tròn cao với những bức tường đổ nát có khe châu mai.

Ông Bert Starkins chỉ. “Các cháu hãy nhìn một công trình vô dụng của ngài Lionel.”

“Một cái tháp khác thường,” Lockwood góp lời.

“Cứ chờ đã,” George thì thào.

Ông lão gật đầu. “Đúng vậy, từ trên đỉnh tháp đó cô Caroline Throckmorton đã gieo mình xuống vào năm 1863. Đó là một buổi tối mùa hè đẹp trời. Cô ấy đứng trên khe châu mai, váy phần phật, bóng in lên bầu trời màu máu, trong khi những người hầu cố gắng dụ cô ấy quay vào trong bằng trà và bánh hạt. Tất nhiên là không có tác dụng. Họ nói rằng cô ấy bước vào không trung cứ bình thường như thể cô ấy đang bước xuống khỏi một chiếc xe buýt hai tầng vậy.”

“Ít ra thì đó là một kết cục thanh thản,” tôi nói.

“Cháu nghĩ vậy sao? Cô ấy đã gào thét và đập tay loạn xạ khi rơi xuống đấy.”

Một khoảng lặng ngắn. Làn nước lạnh trong hồ gọn lăn tăn trong gió. George hắng giọng. “Chà... vườn hồng đó đẹp quá.”

“Đúng vậy... Chính ngay chỗ cô ấy rơi xuống.”

“Một cái hồ êm đềm...”

“Nơi ngài John Carey đã bỏ mạng. Một đêm nọ ông ấy đi bơi. Người ta nói ông ấy bơi ra giữa hồ, rồi chìm nghỉm như một hòn đá dưới sức nặng của những ký ức tội lỗi.”

Lockwood hấp tấp chỉ vào căn nhà gỗ nhỏ nằm giữa những bụi cây rậm và bờ giậu. “Thế còn về ngôi nhà kia...”

“Họ chưa bao giờ tìm thấy xác của ông ấy.”

“Thế ạ? Thật đáng xấu hổ. Còn căn nhà kia...”

“Xác ông ấy vẫn nằm dưới đó, được bao bọc trong bùn đá và đám lá rụng chìm sâu... Tôi xin lỗi, cậu nói gì nhỉ?”

“Căn nhà nhỏ đằng kia. Có câu chuyện kinh khủng gì về nó không?”

Ông lão trầm ngâm mím môi. “Chẳng có gì.”

“Không có gì sao?”

“Không.”

“Ông chắc chứ ạ? Không có các vụ tự tử hay phạm tội vì tình gì sao? Ít ra cũng phải có một vụ đâm dao hay gì đó chứ.”

Người quản gia nhìn Lockwood vẻ nghĩ ngợi. “Có lẽ, thưa cậu, cậu đang sáng tạo ra một câu chuyện cười thông thái kiểu sinh viên về tôi chăng?”

“Cháu không dám nghĩ đến điều đó đâu.” Lockwood nói. “Và thực ra cháu chưa từng vào trường đại học.”

“Có lẽ cháu không tin những câu chuyện tôi đã kể,” ông già nói. Như những bánh xe trượt trong bùn sâu, đôi mắt ghèn gỉ xoáy vào George và tôi. “Có lẽ không ai trong các cháu tin.”

“Không, không. Chúng cháu tin mà,” tôi nói. “Chúng cháu tin từng từ một. Phải không, George?”

“Hầu hết tất cả mọi câu chuyện.”

Ông Bert Starkins cau mặt. “Rồi các cháu sẽ sớm biết rằng những điều tôi nói có phải là thật hay không. Trong bất cứ trường hợp nào, thì cũng không có ma trong ngôi nhà gỗ nhỏ kia, bởi vì đó là nơi tôi ở. Tôi giữ không cho Khách vào đó.” Kể cả từ rất xa người ta đã có thể nhìn thấy những đồ bảo vệ bằng sắt treo lủng lẳng từ mái ngói. Ông lão không nói gì thêm nữa. Ông ta bước lên phía trước, vòng qua góc ngoặt cuối cùng và dẫn chúng tôi quay trở về mặt trước ngôi nhà, nơi chúng tôi phát hiện ra những chiếc túi vải len thô của chúng tôi đã được chuyển lên bậc thang trên cùng dẫn lên lối vào, và thấy một bóng người cao ráo, hốc hác đứng giữa hai cánh cửa mở toang, tay vẫy chiếc gậy đầu bịt sắt chào đón.

« Lùi
Tiến »