“Lucy,” Lockwood nói. “Dừng lại. Cậu phải nói chuyện với tôi đã.”
“Không. Không, tôi thực sự không muốn.”
“Đừng đi nhanh thế. Tôi hiểu tại sao cậu bực mình, nhưng cậu phải hiểu rằng... tôi đã không biết ông Barnes sẽ yêu cầu cậu làm việc đó.”
“Không ư? Có lẽ cậu nên đoán được chứ. Nhờ có bài báo ngớ ngẩn của cậu sáng nay, cả thế giới này biết về mối liên hệ tâm linh của tôi với Annie Ward. Tôi đột nhiên được xem là trung tâm của vụ án!”
“Lucy, thôi nào...” Lockwood chộp lấy ống tay áo tôi, kéo tôi dừng lại ở giữa đường. Chúng tôi đang ở đâu đó giữa Mayfair, khoảng nửa đường về nhà. Những tòa dinh thự nằm yên ắng, hầu hết giấu mình sau những bức tường cao và làn sương cuộn xoáy. Lúc này vừa mới qua nửa đêm. Kể cả ma cũng chẳng thấy đâu.
“Đừng có chạm vào tôi,” tôi nói. Tôi giật ra. “Vì bài báo của cậu, tối nay tôi đã phải đối mặt với một kẻ giết người, và thật nực cười, tôi không thích thú gì cái trải nghiệm đó. Cậu không nhìn thấy cặp mắt của lão, Lockwood ạ. Nhưng tôi đã nhìn thấy - và tôi cảm giác như thể lão đã nhìn thấy tôi.”
“Không thể nào.” George đang quay mặt sang hướng khác; tay cậu đặt trên chuôi kiếm khi cậu quan sát đám sương. Chúng tôi chỉ nhìn thấy một Khách trên đường về - ở công viên Green, một hình dáng ở tít đằng xa trôi dọc một đại lộ có cây mọc thành hàng hai bên - nhưng ta luôn phải thận trọng. Ở London, ta chẳng thể nào biết trước góc ngoặt tiếp theo sẽ có gì. “Lão không thể thấy cậu được,” George nhắc lại. “Cậu ở đằng sau tấm kính đó cơ mà. Hiển nhiên lão đã biết có người ở đó, và lão chỉ muốn dọa cho họ sợ mà thôi. Tất cả chỉ có thế.”
“Cậu sai rồi,” tôi nói khẽ. “Blake biết đó là tôi. Lão đã đọc bài báo đó như những người khác. Lão biết tất cả về Lockwood & Đồng sự, và biết làm thế nào Lucy 'Carlisle' thu thập được chứng cớ quan trọng chống lại lão. Lão cũng có thể dễ dàng tìm ra nơi ở của chúng ta. Nếu lão được tự do bước ra khỏi đó, sẽ chẳng có gì ngăn lão lần theo chúng ta đâu!”
Lockwood lắc đầu. “Lucy, Blake sẽ không lần theo chúng ta.”
“Hoặc nếu lão có làm thế,” George nói, “thì đó sẽ là một ông cụ chống gậy khập khễnh vô cùng chậm rãi. Lão đã hơn bảy mươi tuổi rồi.”
“Điều tôi muốn nói, là lão sẽ không bao giờ được thả đâu,” Lockwood tiếp tục. “Lão sẽ phải ra tòa, bị kết tội và tống giam, lão đáng bị như thế. Mà chưa kể, nhỡ mắt lão có vấn đề thì sao? Mắt George cũng khá kỳ quặc, thế mà chúng ta có vấn đề gì với cậu ấy đâu.”
“Cảm ơn vì đã nói thế,” George nói. “Tôi tưởng chúng là thứ tốt nhất trên người tôi chứ.”
“Đúng vậy - thế mới thảm kịch chứ. Nghe này, Lucy. Tôi có thể hiểu vì sao cậu lại tức giận. Tôi cũng rất bực đây. Ông Barnes không có quyền bắt cậu làm những điều trái với ý muốn của cậu. Đó là cách hành xử kiểu DEPRAC, họ nghĩ họ là người điều khiển cuộc chơi. Nhưng họ không điều khiển được - hoặc, chí ít, họ không điều khiển được chúng ta.” Lockwood giơ hai tay lên và ra dấu về phía đám sương cuộn xoắn, về phía con đường tĩnh lặng. “Hãy nhìn xung quanh cậu lúc này. Đã quá nửa đêm. Chỉ có chúng ta trong một thành phố vắng lặng. Tất cả những người khác đã đi ngủ, cửa nhà họ đã khóa chặt và bùa chú đã được treo trên những khung cửa sổ. Ai cũng lo sợ - ngoại trừ cậu, tôi và George. Chúng ta đi bất cứ đâu chúng ta muốn, và chúng ta không bị ràng buộc bởi Barnes hay DEPRAC hay bất cứ người nào. Chúng ta hoàn toàn tự do.”
Tôi quấn chặt áo choàng xung quanh người, vẫn như mọi khi, cậu ấy nói rất có lý. Thật tốt khi lại được ra ngoài vào buổi đêm, với thanh kiếm và các bạn đồng nghiệp của tôi bên cạnh. Nỗi buồn bực về cuộc gặp gỡ ngắn ngủn của tôi ở Sở Cảnh sát Thủ đô đang dần dần tan biến. Tôi đã cảm thấy khá hơn một chút. “Tôi nghĩ cậu nói đúng...” tôi nói. “Cậu thực sự nghĩ Blake sẽ tiếp tục bị giam giữ sao?”
“Tất nhiên rồi.”
“Tiện thể, Lucy này,” George nói, “có thứ có thể làm cậu vui lên đây. Chúng tôi đã thấy Quill Kipps trong khi chờ cậu. Anh ta ở trong một nhóm Fittes làm việc cho DEPRAC tối nay. Anh ta phải làm việc đó thường xuyên - đó là một phần của thỏa thuận giữa hai tổ chức. Hừm, hãy cứ tạm nói rằng anh ta đã tuần tra các cống thoát nước tối hôm nay. Đội của anh ta rõ ràng đã đối đầu rất gần với thứ gì đó kinh khủng ở dưới đó, và tôi không có ý nói tới Khách. Eo ôi, cậu phải nhìn thấy họ cơ. Ướt như chuột lột.”
Tôi không nhịn được mà phá lên cười. “Ít nhất Kipps còn có một công việc. Cuốn sổ cái của chúng ta giờ trống trơn.”
“Thà nghèo còn hơn dính bùn nhớp nháp,” George nói.
Lockwood siết cánh tay tôi. “Thôi nào,” cậu nói. “Đừng lo lắng về ngày mai. Sẽ có thứ gì đó tươi sáng hơn. V ề nhà thôi. Tôi thèm một chiếc bánh kẹp bơ lạc.”
Tôi gật đầu. “Tôi thèm ca cao và khoai tây chiên.”
Làn sương trở nên dày hơn khi chúng tôi bước qua; nó xoắn lại quanh hàng lan can sắt, và quấn xung quanh những cây đèn ma, che mờ và vặn xoắn những chùm sáng của chúng. Giày chúng tôi gõ xuống vỉa hè trống không, vọng lại một cách kỳ lạ sang phía bên kia đường, bởi thế đôi khi cứ như thể có một nhóm ba người vô hình đang bước đi bên cạnh chúng tôi.
Cây đèn ma ở Portland Row đang gặp trục trặc; những đốm lửa xanh dương tóe ra ở đế lồng đèn, và thay vì ánh sáng chói lọi như bình thường, các thấu kính tỏa ra một thứ ánh sáng đỏ bực bội, yếu ớt. Hầu hết khung cửa sổ các nhà hàng xóm chúng tôi đã tối đèn, và tất cả đã đóng kín và buông rèm. Làn sương bám sát lấy chúng tôi khi chúng tôi leo gần tới cửa nhà.
Lockwood đi đầu; cậu với tay ra để mở cửa và đột nhiên sững người lại. Cả George và tôi đều đâm sầm vào cậu.
“George,” Lockwood nói khẽ. “Cậu là người cầm sợi dây chuyền của Annie Ward cuối cùng. Cậu đã làm gì với nó?”
“Tôi đã đặt nó lên giá cùng các chiến lọi phẩm khác. Sao thế?”
“Cái hộp thủy-tinh-bạc đựng nó đã được niêm phong kín rồi chứ? Không bị lỏng hay gì chứ?”
“Tất nhiên là không rồi. Cái gì...”
“Tôi vừa mới nhìn thấy ánh sáng ở cửa sổ văn phòng chúng ta.”
Cậu chỉ xuống dưới qua lan can. Sân tầng hầm là một biển bóng tối, bị ánh sáng nhạt màu cam từ ngọn đèn đường bên ngoài số nhà 37 cắt chéo qua. Thứ ánh sáng đó chiếu sáng một phần ô cửa sổ nghi vấn. Vào ban ngày, qua khung cửa sổ đó, người ta có thể loáng thoáng thấy ghế làm việc của tôi và bình hoa ở chính giữa bàn tôi. Ngay lúc này đây nó phẳng lì như thể một hình chữ nhật màu đen đã được sơn lên bức tường gạch.
“Tôi chẳng nhìn thấy gì hết,” George thở hắt ra.
“Nó chỉ xuất hiện trong thoáng chốc thôi,” Lockwood nói. “Tôi nghĩ nó có thể là vết tích của ánh-sáng-khác, nhưng có thể... Không, nó lại xuất hiện kìa!”
Lần này tất cả chúng tôi đều nhìn thấy thứ ánh sáng lờ mờ, yếu ớt, thoáng qua và phản chiếu lấp loáng ở mặt trong của tấm kính. Cơn sốc giữ chặt lấy chúng tôi; không ai trong chúng tôi di chuyển.
“Đó là ánh đèn pin,” George nói khẽ.
Tôi gật đầu; da gà da vịt nổi lên. “Có kẻ nào đó trong nhà chúng ta.”
“Kẻ nào đó,” Lockwood nói, “không sợ đi ra ngoài vào buổi đêm. Điều đó có nghĩa bọn chúng được trang bị vũ khí. Ít nhất chúng sẽ có kiếm và pháo sáng. Được rồi, động não chút nào. Sao chúng vào nhà được?”
Tôi nheo mắt nhìn lối đi chính. “Cửa trước trông có vẻ ổn.”
“Cậu muốn tôi kiểm tra cổng hậu không?” George nói. “Có thể chúng đã đột nhập qua lối vào vườn.”
“Nhưng nếu chúng không làm thế thì cậu sẽ bị kẹt ở bên ngoài... Không, chúng ta phải cùng nhau làm việc này. Chúng ta sẽ vào cửa trước như bình thường - chỉ là một cách thật lặng lẽ thôi. Đi nào.”
Cậu tiến lên nhẹ nhàng theo lối đi, di chuyển không một tiếng động trên những viên gạch lát nền. Tới hiên nhà, cậu dừng lại, im lặng chỉ vào những mảnh gỗ vụn ở nửa chừng khung cửa. Khi cậu đẩy cánh cửa, nó chầm chậm mở bung ra.
“Bọn chúng đã dùng xà beng cậy khóa,” George rít lên.
“Nếu đó là đường vào của bọn chúng,” Lockwood nói, “thì chúng ta có thể bẫy chúng ở dưới kia.” Cậu ra hiệu cho chúng tôi lại gần và thì thầm vào tai chúng tôi. “Được rồi. Chúng ta sẽ kiểm tra tầng một, rồi xuống dưới theo cầu thang xoắn. Tôi không muốn nghe thấy một âm thanh nào đâu đấy.”
“Thế còn các tầng trên thì sao?”
“Không mạo hiểm được. Hành lang cọt kẹt lắm. Thêm nữa, rõ ràng chỗ bọn họ đang lục soát là khu văn phòng. Vậy, kiếm đã sẵn sàng chưa? Nếu chúng ta tìm thấy chúng, dồn chúng vào góc, bắt chúng phải hạ vũ khí.”
“Nếu bọn chúng không hạ vũ khí thì sao?” tôi hỏi.
Răng Lockwood thoáng lóe lên. “Chúng ta sẽ làm bất cứ việc gì cần thiết.”
Hành lang tối om; chẳng có âm thanh nào vọng ra từ sâu trong nhà. Chúng tôi ngừng lại một lát, kéo cánh cửa đóng lại phía sau, để cho mắt thích ứng. Chiếc đèn sọ pha lê nhăn nhở từ trên cái bàn con; giá treo áo khoác của chúng tôi là một khối sẫm màu trên tường. Lockwood chĩa mũi kiếm vào những giá trưng bày đối diện. Mới nhìn qua có vẻ chúng vẫn như cũ; rồi tôi thấy vài chiếc mặt nạ và vài quả bầu đã hơi xê dịch, như thể có ai đó đã vội vã lùng sục quanh đó. Xa xa phía trước, tôi nhìn thấy tấm khăn suy ngẫm trắng lờ mờ đằng sau cửa bếp. Tôi lại lắng nghe nhưng chẳng thấy gì. Tôi nhận ra mình đã bất giác sử dụng tất cả các giác quan, cả bên trong lẫn bên ngoài, cứ như thể chúng tôi đang đi điều tra bên ngoài, làm những công việc của thám tử.
Nhưng đây là ngôi nhà của chúng tôi, tổ ấm của chúng tôi, và có kẻ đang xâm nhập nơi này.
Lockwood di chuyển với lưỡi kiếm hết khua sang trái rồi lại sang phải. George nhẹ nhàng lẻn vào phòng khách; tôi bước như một cái bóng vào thư viện. Tôi có thể cảm thấy ngay rằng nó trống không: chẳng có dấu hiệu gì cho thấy có ai đang ở đây. Nhưng nó đã không thoát khỏi sự chú ý từ vị khách của chúng tôi. Dưới những chiếc giá, sách và giấy tờ nằm vương vãi trên sàn nhà.
Quay trở lại hành lang, Lockwood đã đợi ở cầu thang. George cũng có kết quả tương tự như tôi. “Có kẻ nào đó đã lục soát toàn bộ căn nhà,” cậu ấy thở hổn hển. “Tìm kiếm thứ gì đó.”
Lockwood chỉ gật đầu. Chúng tôi rón rén tiến về phía bếp.
Thật khó nói liệu địch thủ của chúng tôi có lục lọi, vơ vét thứ gì ở đây hay không, bởi vì căn phòng vẫn lộn xộn như thường ngày. Chiếc bàn vương vãi đồ ăn thừa từ lúc chúng tôi ăn trước khi ra ngoài làm vụ ở khu vườn nọ, còn trên mặt bếp kín đặc đủ thứ đồ. Tôi thấy những lọ mạt sắt khuất sau hộp ngũ cốc và một đống nhỏ bom muối chồng lên nhau ở nơi George đã chuẩn bị chúng trước đó. Chẳng thứ nào trong số đó là hữu dụng với chúng tôi lúc này cả: chúng tôi đang kiếm tìm một con mồi bằng xương bằng thịt.
Lockwood tiến về phía cánh cửa nhỏ dẫn xuống tầng hầm. Nó đang khép hờ. Dùng mũi kiếm, cậu khều vào tay nắm cửa, nhẹ nhàng kéo nó mở ra. Bóng tối, sự yên lặng, đầu cầu thang xoắn ốc... Không khí ấm áp bốc lên từ phía dưới, nặng mùi giấy, mực và magiê. Đèn đã tắt, và chúng tôi chẳng cố bật lên làm gì. Từ đâu đó vang lên một tiếng sột soạt nho nhỏ, như thể tiếng chuột rúc mũi vào những khoảng không gian chật hẹp trong bóng tối.
Chúng tôi nhìn nhau, nắm chuôi kiếm thật chặt. Lockwood bước lên bậc thang trên cùng. Cậu mau lẹ di chuyển xuống. George và tôi theo sau, giày hầu như không chạm xuống mặt sắt. Chẳng bao lâu chúng tôi đã xuống dưới chân cầu thang.
Căn phòng trơ gạch nơi chúng tôi đang đứng là phần trống của hầm rượu, giờ nó chỉ chứa những tủ đựng mạt sắt và những bao tải đựng đồ sắt. Không có ánh sáng, căn phòng tối như hũ nút, ngoại trừ một vệt sáng xanh lục mờ mờ chiếu từ khung vòm bên phải. Từ khung vòm đối diện vọng lại tiếng sột soạt như tiếng chuột dũi. Một ánh đèn pin loáng vụt qua đầy khiêu khích rồi lại biến mất.
Lướt tới thật nhẹ nhàng như thể chính mình là Khách, chúng tôi cùng nhau kiểm tra khung vòm phía bên phải và thấy một khung cảnh tanh bành. Những cặp hồ sơ chổng ngược lên, các tủ đồ bị mở tung, một biển giấy tờ ngập ngụa dưới sàn văn phòng. Trên bàn George, vải che chiếc bình ma đã bị lật lên. Chiếc đầu lâu rọi bóng xuống nhờ chính ánh sáng từ thứ sinh chất màu xanh lục của nó. Phía trên nó, cái khuôn mặt lìa khỏi xác cứ u sầu xoay vòng quanh, vòng quanh mãi.
Phòng đựng kiếm trống không, cửa nhà kho thì vẫn khóa. Chỉ còn lại phần phía sau của tầng hầm - nơi có những chiếc giá trưng bày chiến tích. Chúng tôi nhẹ nhàng tiến lại gần đó. Đằng trước chúng tôi dường như có ai đó đã trở nên sốt ruột khi tìm kiếm. Những tiếng sột soạt nghe rõ hơn bao giờ hết.
Chúng tôi đến khung vòm cuối cùng và nhìn vào trong.
Khu trưng bày chiến tích không hoàn toàn tối đen. Trong đêm nó cũng chẳng mấy khi tối do có ánh sáng từ những chiếc hộp trên mấy cái giá đặt cạnh cửa. Một vài trong số những chiến tích của Lockwood - chẳng hạn như những khúc xương và các quân bài vấy máu - là hoàn toàn vô hại. Ta có thể đưa chúng cho em bé chơi cũng được bởi chúng không có sức mạnh siêu nhiên. Nhưng những thứ khác thì vẫn là các Nguồn đang hoạt động, với quyền năng âm hồn có thể bộc lộ ra vào ban đêm. Những ánh sáng yếu ớt lập lòe phía bên dưới lớp thủy tinh - xanh dương và vàng nhạt, tím hoa cà, xanh lục, hạt dẻ - đang dịch chuyển, thay đổi liên tục, luôn tìm cách thoát ra. Đó là một cảnh tượng đẹp - nhưng cũng kỳ quái, và tốt hơn hết là đừng nhìn chúng quá lâu.
Lúc này có ai đó đang nhìn chúng.
Một bóng hình đứng cạnh những chiếc giá, một dáng người to lớn mặc đồ màu đen. Đó là một người đàn ông vai rộng, cao hơn Lockwood chừng nửa cái đầu; hắn ta mặc áo khoác, mũ kéo lên che mặt. Một thanh kiếm đeo ở thắt lưng. Hắn đứng xoay người lại phía chúng tôi, xem xét một chiếc hộp nhỏ trên bàn tay đeo găng đen. Hắn chĩa đèn pin vào nó; ánh sáng phản xạ từ các bề mặt hộp lên trần nhà.
Cho dù hắn tìm gì thì hắn cũng đã không tìm thấy. Hắn khinh khỉnh lẳng chiếc hộp xuống sàn nhà.
“Tôi có thể mời ông uống trà trong khi ông lục lọi chỗ của chúng tôi được chứ?” Lockwood nhã nhặn nói.
Bóng người quay phắt lại. Lockwood rọi thắng đèn pin vào mặt kẻ đột nhập.
Bị bất ngờ, tôi há hốc miệng. Chiếc mũ chìa ra phía trước, cong lại như mỏ kền kền. Bên dưới cái mũ sùm sụp, khuôn mặt được giấu kín sau một tấm mặt nạ vải trắng. Hai hốc mắt là hai lỗ màu đen được rạch ra. Một vết rạch khác, lởm chởm và lệch tâm, tạo thành cái miệng. Chẳng thể thấy thứ gì của người đàn ông bên dưới lớp mặt nạ đó.
Kẻ đột nhập rõ ràng bị ánh đèn pin làm lóa mắt. Hắn giơ một tay lên để che sáng.
“Đúng rồi. Giơ hai tay lên,” Lockwood nói.
Cánh tay đó hạ xuống. Nó với tới thanh kiếm treo ở thắt lưng.
“Là một đấu ba đấy,” Lockwood chỉ cho hắn thấy.
Một tiếng soạt của kim loại: thanh kiếm đã được rút ra.
“Thích thì chiều thôi.” Lockwood giơ thanh kiếm của cậu lên, chầm chậm tiến về phía trước.
Phương án C dường như là phương án tấn công hiển nhiên trong những tình huống như thế này. Chúng tôi thường sử dụng nó để đối phó với những Loại Hai có quyền năng mạnh, tất nhiên rồi, nhưng nó cũng hữu dụng với cả những kẻ thù còn sống nữa. Tôi dạt sang trái, George lao sang phải. Lockwood chiếm vị trí ở giữa. Ba lưỡi kiếm của chúng tôi giương cao sẵn sàng. Chúng tôi điềm tĩnh tiến vào, quây kẻ đột nhập vào trong.
Hoặc chúng tôi tưởng vậy. Hình dáng đeo mặt nạ trắng dường như chẳng hề bận tâm. Hắn giơ tay trái lên trên giá chộp lấy một chiếc hộp phát ra thứ ánh sáng xanh dưong mờ mờ. Quay người lại, hắn ném nó thật mạnh xuống sàn nhà cạnh chân George. Bản lề bật tung, chiếc hộp vỡ toác; một đoạn xương ngón tay văng ra. Ngay lập tức thứ ánh sáng đó chảy tràn ra ngoài như một đám mây nhỏ. Một ma hình màu xanh dương nhạt trồi lên từ những miếng ván sàn. Nó có hình dạng của một sinh vật méo mó, giận dữ, khoác giẻ rách trên người. Nó quay tròn cái đầu, hất tay về phía sau và uốn mình nhào sang bên, thẳng vào George.
Tôi chẳng quan sát thêm được nữa, bởi kẻ xâm nhập đã lấy hai chiếc hộp khác ném vào Lockwood và tôi. Hộp của Lockwood nẩy lên, nhưng không mở ra. Hộp của tôi vỡ tung, bật ra một chiếc kẹp tóc phụ nữ, sáu luồng sinh chất màu vàng và một tiếng kêu than dữ dội. Những luồng sinh chất cuộn tròn lại và đổ sụp xuống sàn nhà, rồi vươn lên như những con rắn hổ mang trong thế tấn công và quăng mình về phía tôi. Với những cú bổ và lia kiếm trong hoảng loạn tôi cắt chúng thành những dải nhỏ. Một số ngay lập tức tan ra và biến mất; số khác hợp vào với nhau và trở lại tấn công.
Có tiếng những lưỡi kiếm va vào nhau. Lockwood đã nhảy tới áp sát kẻ địch. Kiếm của họ giao nhau hết lần này đến lần khác. Phía xa hơn, George đang né người tránh những cú quật ra đòn của con Hồn Sống. Cậu đẩy lùi nó, vạch những hoa văn sắt vào không trung.
Khách mà tôi phải đối mặt yếu và không dứt khoát. Đã đến lúc loại bỏ nó. Tôi quờ tìm nơi thắt lưng, lấy ra một túi mạt sắt. Sau khi xé rách túi, tôi quẳng mạt sắt xuống. Một thứ ánh sáng lấp lánh thoát ra. Luồng sinh chất đang vặn xoắn co lại, trở thành một vũng khói nhỏ ở trên sàn nhà.
Bên cạnh tôi, những lưỡi kiếm sắt vẫn đang đập vào nhau; Lockwood và kẻ xâm nhập cứ tiến lên lùi lại ở chính giữa căn phòng, trao nhau những cú ra đòn rất mau lẹ. Người đàn ông đeo mặt nạ rất nhanh nhẹn, những cú ra đòn của hắn ta chính xác và đầy uy lực, nhưng Lockwood vẫn đối phó dễ dàng. Cậu di chuyển như thể đang khiêu vũ với những bước nhảy khoa trương, lả lướt. Giày cậu hầu như không chạm đất. Tay cầm kiếm của cậu khẽ hất qua lại, mũi kiếm thay đổi vị trí như một con chuồn chuồn lanh lẹ.
George đã trở nên hết kiên nhẫn với trận đấu của mình; cậu lùi lại một chút rồi lấy một quả bom muối từ thắt lưng và thổi tung con Hồn Sống ngoặt ngoẹo của mình thành những hạt bụi nhỏ nhấp nháy thứ ánh sáng màu xanh ngọc bích. Âm thanh khiến Lockwood phân tâm và liếc sang nhìn. Ngay lập tức kẻ địch đeo mặt nạ kia vung thanh kiếm chém vào mặt Lockwood. Đó có thể sẽ là một vết thương chí mạng nếu nó giáng trúng. Lockwood nghiêng người; lưỡi kiếm sượt qua má cậu. Khi địch thủ đang mất cân bằng, Lockwood bước sang một bên, xỉa kiếm về phía trước. Bóng người kia kêu lên một tiếng rồi ôm lấy ngang bụng. Với những đường tấn công tuyệt vọng, hắn đẩy lùi Lockwood và lao người qua cậu, băng ngang căn phòng. George với tay ra chặn hắn lại. Một bàn tay đi găng vung cú đấm, trúng ngay má George, xô cậu vào tường cùng một tiếng rên.
Kẻ đột nhập chạy ngang phòng về phía chiếc cầu thang xoắn, Lockwood đuổi theo phía sau. Tôi nhảy qua những dải sinh chất vàng đang tan biến và áp sát hắn ta, vừa chạy vừa chém bừa vào bóng tối. Gã đàn ông kia chạy vượt cầu thang và xuyên qua khung vòm vào văn phòng phía trước. Trong thoáng chốc dáng hình của hắn in bóng giữa luồng sáng yếu ớt lọt vào qua cửa sổ, và tôi biết hắn đang định làm gì.
“Nhanh!” tôi hét lên. “Hắn ta định...”
Lockwood đã biết về mối nguy đó rồi; thậm chí ngay lúc đang chạy, cậu ấy đã với xuống thắt lưng, rút ra một ống Lửa Hy Lạp.
Kẻ xâm nhập tăng tốc, tiến tới gần bàn tôi. Hắn nhảy lên trên đó, đoạn giơ hai tay lên che mặt. Lao vào cửa sổ trong tư thế khom người, hắn xô vỡ lớp kính thành một cơn mưa mảnh vụn cuộn xoáy.
Lockwood chửi thề; từ phía đằng xa của văn phòng cậu ném ống pháo. Nó xuyên thẳng qua khung cửa sổ vỡ và rơi xuống sân. Chúng tôi nghe thấy tiếng chiếc ống vỡ ra trên nền đá. Ánh lửa màu trắng bạc bùng lên trong bóng đêm, hất những mảnh vụn của khung cửa sổ vỡ vào trong phòng. Chúng bắn lên bàn, va mạnh vào chiếc bình ma, làm cái đầu bên trong co rúm lại và giương mắt nhìn. Những mảnh kính vỡ như những viên nước đá văng khắp sàn nhà.
Lockwood nhảy bật lên bàn, kiếm cầm trong tay; tôi dừng khựng lại phía sau cậu. Chúng tôi không đi xa hơn nữa. Chúng tôi biết rằng mình đã quá trễ. Bên ngoài tầng hầm, những đốm lửa nhỏ màu trắng cháy bập bùng giữa những chậu hoa bị vỡ, nhảy múa rồi tắt dần như những ngọn đèn Giáng sinh trên đám dây thường xuân. Khói bốc lên về phía đường phố; đâu đó phía trên chúng tôi, rất nhiều tiếng còi xe hú lên đều đặn. Nhưng chẳng ích gì nữa. Kẻ đột nhập đã chạy thoát. Ở trên đầu cầu bậc thang, cánh cổng trước nhè nhẹ đung đưa. Dần dần nó dừng lại.
Lockwood nhảy trở lại xuống sàn nhà. Đằng sau chúng tôi, một hình dáng xuất hiện: George, vừa đau đớn lê chân vừa ôm lấy một bên hàm, máu chảy từ một vết rách ở môi dưới. Tôi nở một nụ cười mệt mỏi đầy cảm thông với cậu trong khi Lockwood vỗ vỗ vào cánh tay cậu.
“Thú vị thật,” George mệt nhọc nói. “Chúng ta cần có khách ghé thăm thường xuyên hơn.”
Đột nhiên tôi cảm thấy đầu óc quay cuồng. Hai chân tôi bủn rủn; tôi dựa người vào bàn. Lần đầu tiên kể từ lúc trận chiến bắt đầu, tôi mới nhớ ra những cơn đau và cảm giác mệt mỏi còn sót lại từ cú ngã ở đường Sheen. Lockwood hẳn cũng có cảm giác suy sụp tương tự như thế. Phải mất hai, ba lần cậu mới đút được kiếm trở lại thắt lưng.
“George,” cậu nói. “Sợi dây chuyền của Annabel Ward. Cậu nói cậu đã đặt nó cùng với các chiến lợi phẩm. Cậu đi xem xem nó còn đó không nhé?”
George đưa cổ tay áo chấm lên môi. “Không cần đâu. Tôi đã nghĩ tới điều đó rồi. Tôi vừa mới xem xong. Nó mất rồi.”
“Cậu có chắc cậu đã đặt nó lên giá không?”
“Mới sáng nay mà. Giờ chắc chắn nó không còn ở đó nữa.”
Một khoảng yên lặng. “Cậu nghĩ hắn ta đến là vì nó hả?” tôi hỏi.
Lockwood thở dài. “Khả năng thế. Dù gì thì chắc chắn lúc này hắn ta đã có được nó.”
“Không,” tôi nói. “Hắn ta không có đâu.” Cùng lúc đó tôi kéo cổ áo sang bên, để lộ chiếc hộp thủy-tinh-bạc với mặt dây chuyền trong đó, an toàn treo trên dây đeo của nó quanh cổ tôi.