Lão vẫn mặc chiếc áo sơ mi trắng và chiếc quần tây màu xám mà lão đã mặc từ đầu buổi tối, nhưng tất cả những thứ khác ở lão già đó đã thay đổi. Chiếc áo khoác xám đã biến mất, thay thế bằng một áo lưới thép dài, sáng bóng, ôm lấy ngực lão và buông rủ dưới bụng thành một tấm màn sáng mờ mờ. Chiếc áo thép không có ống tay áo, nhưng có những găng kim loại bảo vệ cổ tay và bàn tay lão. Cũng như lúc trước, lão chống cây gậy có tay cầm hình chó bun - chỉ có điều lúc này lớp bọc gỗ bên ngoài đã được gỡ bỏ, để lộ một thanh kiếm dài, mỏng phía bên trong. Kỳ lạ và lố bịch nhất là chiếc mũ lão đội: một chiếc mũ thép nhẵn thín ôm sát đầu với phần rìa chìa ra đằng sau gáy, và cặp kính da lồi được đai vào dưới lưỡi trai. Mắt kính sáng lên vẻ vô hồn; không thể nhìn thấy mắt lão. Về tổng thể, Fairfax có cái vẻ của một con ếch kỳ quái: vừa kinh khủng mà cũng vừa nực cười.
Lão nâng đèn lên, đứng trọn trong ánh sáng vẩn khói của nó dò xét chúng tôi. Rồi lão cười, để lộ những chiếc răng bọc bạc.
“Ồ, cậu là một khách hàng ấn tượng đấy, cậu Lockwood,” Fairfax nói. “Tôi thừa nhận như vậy. Càng lúc tôi càng thấy ấn tượng với cậu hơn. Thật tiếc là chúng ta đã không gặp nhau trong những hoàn cảnh khác. Cậu đã có thể trở thành nhân viên của tôi.”
Tôi không biết Lockwood đã làm thế nào, nhưng bất chấp khẩu súng ngắn chĩa vào ngực cậu, bất chấp chiếc áo khoác rách bươm, những vết máu, những đốm sinh chất, magiê, muối và tro bụi trên quần áo, bất chấp những dải mạng nhện trên tóc, những vết cào xước trên mặt và trên hai tay, cậu vẫn có được vẻ từ tốn bình thản.
“Ông rất tử tế,” cậu nói. “Nhưng - ông không định giới thiệu người bạn của ông đây với chúng tôi sao?” Cậu liếc nhìn kẻ mang súng. “Tôi không nghĩ chúng tôi từng có vinh dự ấy bao giờ.”
Gã này cao xấp xỉ Fairfax, người rất cơ bắp với cặp vai rộng. Gương mặt gã - theo như những gì tôi có thể nhìn thấy - còn trẻ và nhẵn nhụi. Gã cũng đội chiếc mũ đầu ếch cùng một bộ áo giáp và mang một thanh kiếm ở thắt lưng.
Fairfax cười một tiếng cộc lốc. “Percy Grebe, tài xế riêng và trợ lý của tôi. Từng là một thám tử của công ty Hambleton, trước khi nó sát nhập vào Fittes. Một anh chàng rất có năng lực, và vẫn là một tay kiếm có hạng. Thực ra, mọi người đã biết nhau từ trước rồi đấy. Percy đã ghé thăm các cô cậu đêm trước.”
“Ồ, phải rồi,” Lockwood nói. “Kẻ đột nhập bịt mặt. Tôi đã đâm anh, phải không? Bụng anh thế nào rồi?”
“Đang bình phục,” Grebe nói.
“Thêm một tổn thất nhỏ vào danh sách dài mà cậu đã gây ra cho chúng tôi, cậu Lockwood,” Fairfax nói. “Hãy nhìn bức tường này!” Lão ra hiệu về phía đống đá và cái lỗ lởm chởm mà từ đó khói magiê vẫn còn bốc lên nhè nhẹ. “Tôi kinh ngạc, thực sự đấy. Tôi đã yêu cầu không mang những thứ gây cháy nổ vào nhà tôi cơ mà.”
“Xin lỗi vì điều đó,” Lockwood nói. “Về mặt tích cực, chúng tôi đã dò tìm được và hủy diệt Nguồn của ông, bởi vậy chúng tôi mong nhận được đợt thanh toán thứ hai ngay khi ngân hàng mở cửa sáng nay.”
Lại một tiếng cười nữa. “Lạc quan đến mất trí là một phẩm chất nữa mà tôi ngưỡng mộ ở các cô cậu, cậu Lockwood ạ, nhưng tôi phải nói rằng khả năng sinh tồn của các cô cậu mới làm tôi kinh ngạc đấy. Tôi đã thực sự nghĩ rằng Nỗi Kinh hoàng ở Căn Phòng Đỏ đã có thể giết các cô cậu nhiều giờ trước. Tôi nhìn các cô cậu vào bên trong, tôi khóa cửa... Thế mà giờ đây tôi thấy các cô cậu lại trồi lên như ba con giun bẩn thỉu từ một phần hoàn toàn khác của ngôi nhà! Phi thường đấy. Rõ ràng các cô cậu đã tìm được đường ra khỏi Căn Phòng Đỏ, thế là đã rất ấn tượng rồi, nhưng khám phá ra Nguồn tối cao... Nói với tôi đi, có phải đó là Công Tước Đỏ không? Đó là giả thuyết yêu thích của tôi.”
“Không. Đó là cây cầu thang và các vị tu sĩ. Chúng tôi đã tìm thấy cái giếng của họ.”
“Vậy sao? Một cái giếng? Qua chỗ đó ư?” Cặp mắt kính mờ đục lóe sáng lên trong ánh đèn lồng; giọng nói trở nên trầm ngâm. “Thú vị làm sao... Cậu phải chỉ cho tôi xem mới được.”
Ở bên cạnh tôi, George khó chịu cựa người. “Đúng... Không hẳn là một ý hay khi nhắc tới cái giếng đó đâu, Lockwood.”
Lockwood nhe răng cười. “Ồ, ông Fairfax là một người biết điều. Vả lại, ông ta muốn nói chuyện với chúng ta trước, phải thế không, ông Fairfax?”
Chỉ có sự im lặng dưới chiếc mũ thép, ở bên cạnh Fairfax, bóng người kia không hề nhúc nhích; khẩu súng vẫn lơ lửng trong bóng tối, chĩa vào bụng chúng tôi.
“Đúng vậy.” Giọng nói kia đột ngột trở nên đanh sắc, cương quyết. “Và chúng ta có thể làm điều đó trong không gian thoải mái hơn. Tôi đã mệt và tôi muốn ngồi xuống một lúc. Grebe, đưa những người bạn của chúng ta tới thư viện. Nếu hai cậu con trai cố làm bất cứ điều gì, cứ thoải mái bắn cô con gái nhé.”
Lockwood nói điều gì đó, nhưng tôi không nghe rõ là gì. Bên dưới sự ngạc nhiên và kinh hãi của tôi, cơn giận dữ đã trỗi dậy. Đó là giả thuyết ngay tức thì của Fairfax: rằng tôi là kẻ ít nguy hiểm nhất, mắt xích yếu nhất của cả đội. Rằng tôi có thể được sử dụng để buộc những người khác hành xử cho phải phép, và tôi chẳng được tính là mối đe dọa thực sự. Tôi khoác lên mặt vẻ điềm tĩnh, vô cảm, và nhìn thẳng phía trước khi chúng tôi vượt qua lão già đó và bước về phía cầu thang.
Trong thư viện ngọn đèn điện đã được vặn sáng rõ. Sau bao nhiêu giờ trong bóng tối, ánh sáng của nó vô cùng chói lọi; chúng tôi loạng choạng tiến về phía những chiếc ghế gần nhất với hai tay che mặt. Grebe ra hiệu cho chúng tôi ngồi xuống; còn gã tới bên những chiếc giá sách, hai tay khoanh hờ, khẩu súng gác trên bắp tay căng phồng. Chúng tôi chờ đợi.
Cuối cùng tiếng gậy gõ chậm chạp, đầy đau đớn cũng vang lên ở hành lang, và Fairfax bước vào. Ánh sáng lóe lên trên chiếc mũ kim loại; nó cũng sáng lên trên cái mũi khoằm to tướng, khiến lão có dáng vẻ của một con chim săn mồi to lớn hơn bao giờ hết. Lưỡng lự một chút, lão tiến tới chiếc ghế da bên dưới bức tường treo những tấm ảnh, và với một tiếng thở dài nhẹ nhõm, ngồi thụp xuống ghế. Khi lão ngồi xuống, vạt áo giáp của lão trùm ra xung quanh với những tiếng leng keng nhè nhẹ.
“Cuối cùng cũng đã xong,” lão nói. “Chúng tôi đã ở trong cái hầm rượu chết tiệt đó mấy tiếng đồng hồ sau khi nghe thấy tiếng nổ. Được rồi, Grebe; cậu có thể cởi nó ra rồi. Ở đây chúng ta không phải lo ma mãnh gì nữa.”
Lão cúi đầu xuống và cởi chiếc mũ ra rồi gỡ bỏ cặp kính. Nó để lại một vết hằn đỏ lựng trên lông mày lão. Cặp mắt đen tuyền nheo lại khó chịu; khuôn mặt hằn dấu ấn tuổi tác.
Trên tường, tấm ảnh thời trẻ của lão đang nhìn ra với vẻ huênh hoang, vênh váo: diễn viên Fairfax, bóng bẩy đẹp trai với đệm quần, khuyên tai và chiếc quần bó sát, trầm ngâm nhìn một cái đầu lâu thạch cao. Dưới tấm ảnh, con người thật đang cúi sụp mệt mỏi, ho rũ rượi trên ghế. Thật lạ khi thấy tháng năm đã hoàn toàn thay đổi lão như thế nào, đã chậm rãi ngốn đi sức mạnh và rút cạn sinh khí của lão.
Grebe cũng gỡ bỏ chiếc mũ của gã. Hóa ra gã có cái đầu khá nhỏ, quá nhỏ so với cơ thể đầy cơ bắp của gã. Trông gã hệt như một con ki bowling vậy. Tóc gã cắt ngắn theo kiểu quân đội, miệng gã mỏng và tàn độc.
Fairfax đặt cặp kính và chiếc mũ thép xuống chiếc bàn gần nhất, trên đỉnh chồng sách Lockwood đã đọc một vài tiếng trước. Lão liếc nhìn quanh căn phòng với một vẻ thỏa mãn. “Tôi thích thư viện này,” lão nói. “Nó là chiến tuyến của tôi. Buổi tối nó tạo thành ranh giới giữa thế giới của người sống và thế giới của người chết. Tôi thường xuyên tới đây để thử nghiệm những thiết bị mới nhất do nhà máy tôi sản xuất ra. Tất cả những thứ đồ sắt giữ cho tôi tương đối an toàn, nhưng tôi còn mang áo giáp nữa, nó cho phép tôi đi sâu vào bên trong nhà mà không sợ bị tổn thương.”
George cựa quậy. “Đấy mà là áo giáp: trông như ông đang mặc váy ấy.”
Fairfax nheo mắt lại. “Sỉ nhục người khác vào một lúc như thế này sao, cậu Cubbins? Như thế có khôn ngoan không?”
“Hừm, khi bị một lão già điên khùng mặc váy bằng kim loại chĩa súng vào người, thì cũng quá rơi xuống đáy vực,” George nói. “Thật không thể tệ hơn được.”
Lão già cười một cách không lấy gì làm thoải mái. “Điều đó còn phải chờ xem. Nhưng cậu đã sai khi thô lỗ như vậy. Chiếc 'váy' này được làm từ một loại thép đặc biệt - hầu hết là từ sắt, cho nó sức mạnh bảo vệ khỏi tà ma, nhưng trong thành phần lại có hợp kim nhôm, khiến nó nhẹ hơn bình thường rất nhiều. Vừa dễ di chuyển mà lại đảm bảo an toàn tuyệt đối! Chiếc mũ cũng rất hiện đại. Cậu biết rằng phần nhạy cảm nhất của mỗi thám tử là ở cổ chứ, cậu Lockwood? Viền mũ này loại bỏ mối nguy hiểm đó... Cậu không ước ao có một chiếc sao?”
Lockwood nhún vai. “Nó rõ ràng... độc nhất vô nhị.”
“Lại sai nữa rồi! Nó phức tạp, không bình thường, nhưng không phải độc nhất vô nhị. Sắt Fairfax không phải là công ty duy nhất có những cải tiến phi thường. Cặp kính này, bây giờ...” Lão trấn tĩnh trở lại. “Nhưng có lẽ chúng ta lạc đề mất rồi.”
Fairfax ngồi ngả người ra sau ghế và nhìn Lockwood một lúc mà không nói năng gì. Có vẻ lão đang cân nhắc nên nói gì. “Ở dưới hầm rượu,” lão bắt đầu một cách chậm rãi, “tôi đã lén nghe các cô cậu thảo luận về một mặt dây chuyền và bằng chứng nào đó gắn liền với nó. Và thói đời thường tò mò, tôi rất muốn biết các cậu nói 'bằng chứng' là có ý gì, nếu như thực sự các cô cậu có ý gì đó. Và sau đó” - lão cười nhạt - “có lẽ các cô cậu có thể nói với tôi mặt mặt dây chuyền đó ở đâu, và làm thế nào để tìm được nó.”
“Chúng tôi khó lòng giúp ông chuyện đó được,” George nói. “Ông sẽ đẩy chúng tôi xuống cái giếng đó thôi.” Khuôn mặt xanh xao và máu me của cậu bừng lên vẻ thách thức. Mặt tôi (tôi đoán) cũng tương tự, dù còn có thêm cảm giác vô cùng ghê tởm. Tôi không hề muốn nhìn mặt Fairfax một chút nào.
Nhưng Lockwood chẳng khác gì đang nói chuyện thời tiết với một người hàng xóm. “Không sao đâu, George,” cậu nói. “Tôi có thể đưa cho ông ta những bằng chứng đó. Quan trọng là chúng ta cho ông ta thấy tình hình của ông ta tuyệt vọng thế nào.” Cậu bắt tréo chân và ngồi ngả người ra sau với vẻ vô cùng thỏa mãn. “Hừm, ông Fairfax, như ông đoán ra rồi đấy, chúng tôi đã tìm thấy mặt dây chuyền ấy trên xác Annabel Ward. Chúng tôi ngay lập tức biết rằng kẻ sau này giết cô ấy đã tặng nó cho cô ấy.”
Fairfax giơ một tay lên. “Gượm đã! Cậu biết điều đó ư? Làm thế nào cậu lại biết được?”
“Nhờ có cảm quan tâm linh của Lucy đây,” Lockwood nói. “Khi chạm vào nó, cô ấy đã dò được những dấu vết tình cảm rất mạnh kết nối kẻ say mê không rõ tên của Annie Ward với khoảnh khắc cô ấy chết.”
Cái đầu to bự quay lại; cặp mắt đen dò xét tôi trong vài giây. “À, phải rồi, cô Carlyle nhạy cảm...” Có thứ gì đó trong cách lão nói làm tôi sởn gai ốc. “Nhưng, nói về mặt luật pháp,” Fairfax nói, “điều đó là vô giá trị. Chẳng có bằng chứng nào trong đó cả.”
“Đúng vậy,” Lockwood nói. “Chính vì thế mà tôi muốn tìm hiểu chữ viết được khắc trên mặt dây chuyền ấy. Ở phía bên ngoài, nó là Tormentum meum, laetitia mea: 'Nỗi thống khổ của tôi, niềm hạnh phúc của tôi', hoặc một câu vô nghĩa khác đại loại như thế. Điều đó không cho chúng tôi biết nhiều điều, ngoại trừ việc kẻ đã đặt làm chiếc dây chuyền đó là một tên tự mãn, chỉ biết đến bản thân mình. Nhưng rồi, không phải bao nhiêu kẻ giết người khác cũng đều như thế sao ông Fairfax? Chính vì thế chúng tôi cần biết nhiều hơn.”
Thư viện lặng phắt. Lão già đó ngồi bất động, đôi bàn tay xương xẩu để trên hai tay ghế tán đinh của chiếc ghế da. Đầu lão nghển ra phía trước với vẻ vô cùng chăm chú.
“Tiếp theo đó,” Lockwood nói, “chúng tôi chuyển sang dòng chữ chúng tôi tìm thấy phía trong. Đó là, nếu tôi nhớ chính xác, A (kí tự đặc biệt) W; H.II.2.115. Ba chữ cái, A, W và H, cộng với một dãy chữ số bí ẩn. Lúc ban đầu, những chữ cái đã đánh lừa chúng tôi; trên thực tế, chúng đã dẫn chúng tôi tới một sai lầm nghiêm trọng. Ngay lập tức chúng tôi đưa ra giả thuyết AW là viết tắt của Annabel Ward, và vì thế chữ H là viết tắt tên của người yêu cô ấy. Những tờ báo vào thời đó đã tập trung khai thác mối quan hệ của cô ấy với Hugo Blake, bởi thế đó dường như là một khả năng lớn. Ông ta là người cuối cùng gặp cô ấy lúc còn sống, và là nghi phạm duy nhất của vụ án. Cảnh sát ngày nay cũng nghĩ ngay tới Blake và rất mau chóng bắt ông ta.”
“Trên thực tế,” Lockwood tiếp tục, “Blake là một sự chệch hướng hoàn toàn, điều mà đáng lẽ tôi đã có thể nhận ra sau khi nghiên cứu kỹ lưỡng dòng chữ khắc đó. Chẳng phải hơi kỳ quặc một chút khi những chữ viết tắt trong tên của Annie Ward được viết đầy đủ, trong khi của kẻ say mê cô ấy lại chỉ được viết bằng một chữ cái? Và còn những con số II.2.115 nữa chứ? Có phải đó là một dạng mã số? Một ngày tháng? Rất tiếc phải nói tôi bí không luận ra được.”
Cậu liếc nhìn xuống đồng hồ một thoáng, rồi cười với tôi. “Lucy đã tạo nên tất cả sự khác biệt, ông Fairfax. Cô ấy đã tìm thấy một bức ảnh có ông đứng trong cùng một nhóm với Annie Ward. Ngay lập tức tôi biết rằng ông đã nói dối về mục đích đưa chúng tôi tới đây. Trên chuyến tàu tôi đã đọc về thời trẻ của ông ở nhà hát và tôi đã nhớ ra rằng Annie Ward cũng đã từng diễn xuất. Tôi đoán chừng đó có thể là mối liên hệ giữa hai người. Tôi cũng nhận ra rằng ông đã đi diễn dưới tên đệm của mình: Will Fairfax. Ngay lập tức tôi có một đáp án khác cho A (kí tự đặc biệt) W. Không phải Annie Ward, mà là Annie và Will.”
Lão già vẫn không hề nhúc nhích. Hoặc có lẽ đầu lão đã gục xuống một chút. Cặp mắt lão giờ đang chìm trong bóng tối và không thể nhìn thấy được.
“Tôi đã không tìm ra được ý nghĩa của những chữ số cuối cho đến tận buổi tối hôm nay,” Lockwood nói. “Lúc đó chúng tôi đang ở trên Cầu Thang Gào Thét, và kể từ đó tới giờ đã hơi bận rộn một chút, bởi thế tôi chưa có cơ hội kiểm chứng lại. Nhưng tôi nghĩ chúng tôi đã tìm ra rằng 'H.II.2.115' liên quan tới một vở kịch ông đã đóng cùng Annie Ward. Tôi cá rằng nó là một trích dẫn sướt mướt mà không biết làm sao đã gắn kết hai người với nhau, và nếu chúng tôi điều tra, nó sẽ chứng tỏ hai người biết nhau rất rõ.” Cậu liếc nhìn lên bức tranh trên tường. “Nếu phải đoán, tôi sẽ nói rằng đó là Hamlet, bởi vì đó dường như là vở kịch yêu thích của ông, nhưng ai có thể nói được ngoại trừ ông nào?” Cậu mỉm cười và chắp tay lên trên đầu gối. “Thế, ông Fairfax - ông thấy thế nào? Có lẽ giờ là lúc ông cho chúng tôi biết rồi chứ?”
Fairfax chẳng hề xáo động. Lão thực sự ngủ rồi ư? Rất có thể là thế, nhất là khi Lockwood đã nói dài tới vậy. Ở đằng giá sách, người đàn ông cầm khẩu súng cựa mình; rõ ràng ít nhất gã đã trở nên mất kiên nhẫn. “Gần bốn rưỡi rồi, thưa ngài,” gã nói.
Một giọng nói khàn khàn vang lên từ chiếc ghế, từ khuôn mặt chìm trong bóng tối. “Phải rồi, phải rồi. Chỉ một câu hỏi thôi, cậu Lockwood. Cậu đã có những chữ khắc đó. Tại sao cậu không ngay lập tức đưa cho cảnh sát xem?”
Lockwood không trả lời trong giây lát. “Bởi lòng kiêu hãnh, tôi cho là vậy. Tôi muốn tự mình giải mã. Tôi muốn Lockwood & Đồng sự có được vinh quang. Đó là một sai lầm.”
“Tôi hiểu.” Fairfax ngẩng đầu lên, và nếu lúc trước trông lão đã già rồi, thì giờ trông lão như đã chết vậy, cặp mắt lão sáng và nhuốm vẻ kinh hoàng, làn da xám xịt dính sát vào xương. “Lòng kiêu hãnh gây hại cho con người ta. Trong trường hợp của cậu, đó sẽ là cái chết dành cho cậu và những đồng sự của cậu. Trong trường hợp của tôi, nó đã đẩy tôi vào nỗi ân hận suốt cả cuộc đời.” Lão thở dài. “Chà, bằng chứng của cậu tốt đấy, và trực giác của cậu còn tốt hơn nữa. Mấy chữ số ở cuối đó chính là trích dẫn trong vở Hamlet mà Annie và tôi đã đóng hồi xưa. Chúng tôi đã gặp gỡ nhau như thế. Tôi là hoàng tử Hamlet, còn cô ấy đóng Ophelia, vợ chưa cưới của Hamlet. Mặt dây chuyền đó nhắc tới màn II, cảnh 2, dòng 115 tới 118, như thế này:
“Cứ hồ nghi những vì sao là lửa,
Và mặt trời trên cao mãi xoay vần,
Cứ hồ nghi sự thực là dối trá,
Nhưng xin đừng nghi hoặc tôi yêu em.”
Lão già dừng lại; lão nhìn chằm chằm vào bóng tối. “Đó là lời Hamlet nói với Ophelia,” cuối cùng lão nói. “Chàng đã nói rằng tình yêu của chàng dành cho nàng tuyệt đối chân thực, chân thực hơn bất cứ thứ gì khác trong vũ trụ này. Tất nhiên, trong vở kịch nàng đã trầm mình tự tử, còn chàng đã uống thuốc độc, nhưng nguyên tắc đó vẫn đúng. Nó nói về niềm say mê giữa họ... và niềm say mê là những gì mà Annie và tôi đã chia sẻ.”
“Nhưng vẫn không ngăn ông giết cô ấy,” tôi nói. Đó là lần đầu tiên tôi cất tiếng.
Fairfax liếc nhìn về phía tôi, cặp mắt đen u ám như đá. “Cô vẫn còn là trẻ con, cô Carlyle. Cô chẳng biết gì về những chuyện như thế.”
“Sai rồi.” Tôi lộ rõ vẻ khinh miệt. “Tôi biết chính xác những gì Annie Ward đã trải qua. Khi tôi chạm vào mặt dây chuyền đó, tôi đã cảm thấy tất cả.”
“Tốt quá còn gì,” Fairfax nói. “Cô biết không, tôi luôn nghĩ rằng kiểu Năng lực như thế ắt hẳn đem lại nhiều rắc rối hơn là lợi ích. Cảm nhận được cái chết của một người khác ư? Tôi chẳng bao giờ mong muốn những chuyện như thế cả.”
“Tôi không chỉ cảm thấy cái chết của cô ấy,” tôi khẽ đáp. “Tôi cảm thấy tất cả những tình cảm mà cô ấy đã trải qua khi cô ấy đeo sợi dây chuyền đó. Tôi biết tất cả những gì cô ấy đã trải qua với ông.” Và những ký ức đó cũng chẳng hề nhạt nhòa đi là mấy. Tôi vẫn có thể cảm thấy sự cuồng loạn của cô gái, những cơn ghen hoang dại cùng nỗi buồn khổ và tức giận của cô ấy; và, cuối cùng, ngay khi mọi chuyện sắp sửa kết thúc...
“Cô có kỹ năng kỳ lạ thật đấy,” Fairfax nói. “Thật là vô nghĩa và gây mất tập trung. Dẫu vậy, cô vẫn sẽ không biết lúc đó Annie Ward là người đen tối và khó chịu như thế nào đâu. Cô ta có tính cách đồng bóng và tính khí độc địa, nhưng cô ta cũng rất xinh đẹp. Chúng tôi cùng đóng trong một số vở diễn nghiệp dư, và điều đó đã cho chúng tôi lý do để ở cùng nhau, bởi mối quan hệ giữa chúng tôi phải được giữ bí mật. Annie không môn đăng hộ đối, cô biết đấy - bố cô ta là một thợ may, hoặc đại loại như thế - và bố mẹ tôi sẽ cắt quyền thừa kế của tôi nếu họ biết về cô ta. Hừm, cuối cùng Annie đòi công khai chuyện của chúng tôi. Tất nhiên là tôi từ chối - chuyện đó là không thể được - bởi thế cô ta rời bỏ tôi.” Môi lão nhếch lên, hàm răng lóe sáng. “Có một thời gian cô ta qua lại với Hugo Blake: một công tử bột, vô giá trị. Hắn ta chẳng tài cán gì, và cô ta biết điều đó. Chẳng bao lâu sau cô ta quay lại với tôi.”
Lão lắc đầu; giọng lão càng lúc càng lớn. “Thật tiếc khi phải nói rằng Annie rất ngang bướng. Cô ta giao du với những người tôi không đồng ý, bao gồm cả Blake, dù rằng tôi đã cấm cô ta gặp hắn ta. Chúng tôi thường xuyên cãi nhau; những cuộc cãi vã của chúng tôi ngày càng tệ hơn. Một đêm nọ tôi bí mật tới nhà cô ta và tự vào bên trong. Cô ta không ở đó. Tôi chờ cô ta. Hãy hình dung cơn thịnh nộ của tôi khi tôi thấy chính tên Hugo Blake kém cỏi đó, chứ không phải ai khác đưa cô ta về nhà. Ngay khi cô ta bước vào, tôi đã chất vấn cô ta. Chúng tôi đã cãi nhau kịch liệt, và cuối cùng tôi đã mất kiểm soát. Tôi đánh cô ta. Cô ta nằm bất động trên sàn nhà. Tôi đã làm gãy cổ cô ta chỉ với một cú đấm duy nhất.”
Tôi rùng mình. Ngay vào lúc cuối: cơn đau đớn và nỗi kinh hãi cuối cùng. Đúng, tôi cũng đã cảm thấy điều đó.
“Hãy đặt bản thân vào vị trí của tôi, cậu Lockwood,” Fairfax tiếp tục. “Lúc đó tôi, người kế thừa cơ đồ lớn nhất nước Anh, quỳ gối bên xác cô gái tôi đã giết. Tôi có thể làm gì? Nếu tôi gọi cảnh sát, tôi sẽ mất hết - bị tống vào tù, chắc chắn rồi, và có lẽ còn bị treo cổ nữa. Hai cuộc đời có thể sẽ bị hủy hoại bởi một phút điên cuồng! Mặt khác, nếu tôi cứ để cô ta nằm đó, thì vẫn không có gì đảm bảo tôi sẽ thoát tội. Ngộ nhỡ ai đó đã nhìn thấy tôi vào nhà? Tôi chẳng thể chắc chắn được. Bởi vậy tôi viện tới giải pháp thứ ba. Tôi sẽ giấu xác chết và che giấu tội ác đó. Tôi đã mất gần hai mươi bốn tiếng, cậu Lockwood ạ, để làm cho Annie yêu dấu của tôi một ngôi mộ không định trước, hai mươi bốn tiếng đó đã theo tôi suốt năm mươi năm. Tôi đã phải tìm chỗ để giấu, đục tường ra, mang vật liệu vào trong nhà để che giấu cái lỗ đó - và làm tất cả những điều đó mà không bị ai nhìn thấy. Mỗi một khoảnh khắc tôi đều sợ bị phát hiện, mỗi một khoảnh khắc tôi đều phải làm việc với cái xác bên cạnh mình...” Người đàn ông già nua nhắm mắt lại; lão hít một hơi đứt quãng. “Hừm, tôi làm xong việc, và tôi đã sống với ký ức ấy kể từ khi đó. Nhưng cố gắng đến vậy mà - và điều này thật trớ trêu, cay đắng - tôi quên mất chiếc mặt dây chuyền! Tôi đã không nghĩ tới nó; tôi đã quên mất nó. Phải vài tuần sau tôi mới nhớ ra sự tồn tại của nó, và nhận ra rằng có thể một ngày nào đó nó sẽ... gây rắc rối. Và đúng là như thế. Ngay khi tôi đọc bài báo của các cô cậu, tôi đã đoán chừng các cô cậu đã tìm ra nó và đang đi tìm lời giải. Vài câu hỏi vu vơ cho thấy cảnh sát đã không tìm được gì. Điều đó đã cho tôi hy vọng; tôi hướng sự chú ý của mình tới các cô cậu. Đầu tiên tôi cố đánh cắp nó. Khi Grebe thất bại, tôi buộc phải sử dụng những biện pháp mạnh mẽ hơn để đảm bảo các cô cậu sẽ im lặng.” Lão thở dài; không khí xì qua kẽ những chiếc răng bạc. “Giờ đây những hồn ma của Combe Carey cũng đã phụ lòng tôi, và tôi sẽ phải tự tay kết thúc công việc này. Dẫu vậy, trước khi tôi làm điều đó - vẫn còn lại một câu hỏi đơn giản. Các cô cậu đã làm gì với mặt dây chuyền của tôi?”
Không ai nói gì. Khi tôi lắng nghe bằng Thính lực của mình, căn nhà sạch bóng. Khách đã đi hết cả. Chúng tôi bị bỏ lại với những kẻ tử thù của mình - một tên sát nhân, đệ tử của lão, và một khẩu súng.
“Tôi đang đợi đây,” Fairfax nói. Lão hoàn toàn bình tĩnh.
Cái viễn cảnh ra tay giết chúng tôi có vẻ không làm lão mảy may bận lòng chút nào.
Lockwood, tuy vậy, có vẻ cũng thoải mái y như thế, nếu không muốn nói là còn hơn thế. “Cảm ơn ông vì câu chuyện,” cậu nói. “Nó đã làm sáng tỏ nhiều điều - và rất hữu dụng, vì nó giúp chúng ta tiêu tốn thêm được chút thời gian. Ông thấy đấy, lúc trước tôi đã quên không nhắc đến rằng chúng ta sẽ không còn ở riêng với nhau lâu nữa đâu. Ngay sau khi chúng tôi đến đây, tôi đã gửi lời nhắn qua người tài xế tới thanh tra Barnes của DEPRAC. Tôi đã cho ông ấy biết thông tin về ông đủ để kích thích niềm hứng thú nơi ông ấy, và đề nghị ông ấy tới gặp chúng tôi ở đây vào lúc bình minh.”
George và tôi nhìn cậu. Tôi vẫn nhớ cái gói đó, nhớ người tài xế taxi, và những bàn tay trao nhận tiền...
“Ông ấy sẽ tới đây nhanh thôi,” Lockwood thản nhiên tiếp tục. Cậu ấy ngả người vào ghế và vươn tay ra sau đầu. “Nói cách khác, mọi chuyện đã kết thúc rồi, ông Fairfax. Đằng nào cũng thế, chúng ta cứ thoải mái thôi. Sao không sai Grebe đi pha cho mỗi người một cốc trà nhỉ?”
Gương mặt lão già trông thật ghê sợ: những cơn sóng căm thù, sợ hãi và kinh ngạc cứ trào lên khuôn mặt đó hết đợt này đến đợt khác, và trong một khoảnh khắc lão đờ người ra. Rồi cái biểu hiện ấy tan biến đi. “Cậu đang lừa tôi,” lão nói. “Và kể cả nếu không phải vậy đi nữa thì ai thèm quan tâm chứ? Tới lúc bất kỳ ai đến được đây, các người đã gặp phải kết cục không may trong khi chiến đấu với Khách ở cái giếng bị ma ám rồi. Người này tiếp sau người kia, tất cả đều bị ngã xuống giếng. Tôi sẽ hết sức đau buồn. Barnes sẽ chẳng thể chứng minh được điều gì. Bởi thế, tôi hỏi lần cuối: Mặt dây chuyền đâu?”
Chẳng ai nói gì.
“Percy,” Fairfax nói. “Bắn đứa con gái đi.”
“Đợi đã!” Lockwood và George nhảy bật dậy khỏi ghế.
“Được rồi!” tôi hét lên. “Được rồi, đừng làm thế! Tôi sẽ cho ông biết.”
Tất cả mọi con mắt quay ra nhìn khi tôi đứng lên. Fairfax nhoài ra phía trước. “Tốt lắm. Tôi cũng đã nghĩ cô sẽ là người đầu hàng mà. Thế... cô đã giấu nó ở đâu, cô gái? Phòng nào?”
“Lucy...” Lockwood lên tiếng.
“Ồ, nó có ở Portland Row đâu,” tôi nói. “Tôi mang nó theo đây.”
Tôi vừa nói vừa quan sát khuôn mặt lão già đó; tôi thấy mắt lão nheo lại đầy thỏa mãn như thế nào, thấy miệng lão thích thú cong lên thành một nụ cười mỉm thầm kín thế nào. Và có cái gì đó trong biểu hiện ấy, dù lướt qua rất nhanh, đã mở ra một vết nứt và một cánh cửa sổ bẩn thỉu để tôi bước vào những gì bản chất nhất, sâu kín nhất của lão. Đó là thứ mà thường ngày lão che giấu dưới vẻ ngoài khoa trương lừa phỉnh của một nhân vật đầu ngành; nó thậm chí còn ẩn giấu dưới sự hối hận vô cảm trong lời thú tội dài dòng của lão. Tôi đã nhìn thấy rất nhiều thứ vào đêm đó ở dinh thự Combe Carey, nhưng nụ cười hân hoan thoáng qua trên cặp môi rộng, già nua ấy? Đúng vậy, đó là tình yêu bản thân của kẻ giết người, và chắc chắn đó là thứ đáng kinh tởm hơn tất cả. Tôi tự hỏi không biết đã có bao nhiêu người khác đắc tội với lão trong những năm qua, và lão đã rũ bỏ bọn họ như thế nào.
“Thế thì đưa nó ra đây,” lão nói.
“Có ngay.” Qua khóe mắt tôi có thể thấy Lockwood đang nhìn tôi chằm chằm, cố gắng một cách tuyệt vọng để thu hút sự chú ý của tôi. Tôi không nhìn lại. Chẳng để làm gì. Tôi đã có lựa chọn riêng. Tôi biết mình đang làm gì.
Tôi vòng tay ra sau gáy và gỡ móc cài. Khi tôi kéo chiếc hộp ra, tôi nghĩ mình đã nhìn thấy một ánh lửa xanh nhạt ở dưới lớp thủy tinh, nhưng lúc đó ánh đèn điện trong thư viện rất sáng nên có thể tôi đã nhầm. Một tay tôi cầm chiếc hộp, tay kia đẩy cái chốt nhỏ sang một bên.
“Này, đó là hộp thủy-tinh-bạc...” Grebe đột nhiên nói. “Sao mặt dây chuyền lại ở trong đó vậy?”
Tôi mở bung nắp ra và đổ sợi dây chuyền xuống lòng bàn tay. Khi làm thế, tôi nghe thấy tiếng George khẽ thở dốc. Fairfax cũng nói gì đó, nhưng tôi chẳng để tâm tới lão. Tôi đang lắng nghe một âm thanh khác - xa xăm, nhưng đang tiến lại rất nhanh.
Mặt dây chuyền lạnh buốt; lạnh tới nỗi làm bỏng da tôi. “Của cô đây,” tôi nói. “Tùy cô định đoạt.”
Nói xong tôi chìa tay ra, và quay mặt sang một bên.
Trên tường, Fairfax trẻ tuổi trong bức ảnh oai vệ đứng nhìn cái đầu lâu cũ nát. Còn ở đây trong thư viện này, Fairfax già yếu, hom hem đang nhìn trừng trừng khiếp đảm vào sợi dây chuyền trên tay tôi.
Gió tạt vào một bên mặt tôi. Tóc tôi tung ra đằng sau; đám chân ghế cào xuống thảm, những chiếc bàn dịch chuyển. Tôi nghe thấy một tiếng rầm rất mạnh khi tất cả những cuốn sách trong căn phòng đập vào thành phía sau các giá sách. Percy Grebe, kẻ đang làm gì đó với khẩu súng của mình, bị hất ngã ngửa ra; gã đập mạnh vào một kệ sách và đổ sụp xuống sàn. Ghế của Lockwood quay tít, đập vào ghế của George. Cả hai đều bị ép ngửa ra ghế của mình bởi năng lượng phát ra từ tay tôi.
Mọi bóng đèn trong thư viện đều phát nố.
Nhưng căn phòng không tối đi; với tôi nó còn trở nên sáng hơn, bởi vì cô gái ấy đang ở đây. Cô ấy mặc bộ váy mùa hè đẹp đẽ với những bông hoa màu cam. Cô ấy đứng giữa tôi và Fairfax, và lúc này ánh-sáng-khác tuôn ra từ người cô ấy như nước chảy: nó đổ xuống thành dòng, chảy xối xả qua đống ghế và tấm thảm, tràn ra xung quanh những chiếc bàn đọc sách trong cơn thủy triều sáng rỡ và lạnh cóng.
“Tôi lạnh,” một giọng nói cất lên. “Vô cùng lạnh.”
Trong đầu tôi vọng lên tiếng gõ âm âm nho nhỏ mà tôi đã nghe thấy ở đường Sheen vào đêm mọi chuyện bắt đầu, giống như tiếng móng tay trên thạch cao hay tiếng đinh bị đóng vào gỗ. Giờ đây âm thanh đó trở nên có nhịp điệu, như tiếng đập của một trái tim. Ngoài ra thì hoàn toàn yên lặng. Trong một khoảnh khắc cặp mắt của cô gái ma nhìn vào mắt tôi; rồi cô ấy quay mặt sang lão già đang ngồi trên ghế.
Fairfax đã cảm thấy nhưng không thể nhìn thấy cô ấy. Lão đang cuống cuồng nhìn xung quanh. Đột nhiên những ngón tay lão quờ quạng trên bàn. Lão tìm thấy cặp kính, ấn nó vào mắt mình. Lão quan sát và nhíu mày: ngay lập tức mặt lão thất sắc, cơ thể lão bất động.
Cô gái ma trôi về phía lão, ánh sáng tuôn ra từ tóc cô ấy.
Cặp kính tuột khỏi tay Fairfax, treo chéo qua mũi lão. Rồi chúng rơi xuống. Cặp mắt lão ngập nỗi kinh ngạc và một nỗi sợ hãi khủng khiếp. Như một quý ông thường làm khi một quý cô bước vào căn phòng, lão chậm rãi, run rẩy đứng lên. Lão đứng đó, chờ đợi.
Cô gái dang rộng hai cánh tay.
Có lẽ Fairfax đã cố di chuyển. Có lẽ lão đã cố tự vệ. Nhưng cơn ma-khóa đã tóm chặt lấy lão. Cánh tay cầm kiếm của lão khẽ giật, bàn tay lão tuyệt vọng giơ trên thắt lưng.
Dạt sang một bên, Lockwood cố gắng thoát ra được khỏi vùng ảnh hưởng xấu; cậu kéo tay George, lôi cậu ấy ra đằng sau mấy chiếc ghế và an toàn thoát khỏi hiểm nguy.
Những cuộn ánh-sáng-khác, giống như những ngón tay khổng lồ, khép lại quanh Fairfax từ mọi phía. Và lúc này đây cô gái đã với tới lão. Luồng sinh chất đã chạm vào lớp áo giáp; nó xì xì và sủi bọt. Hình bóng cô gái dao động, nhưng vẫn không di chuyển. Cô nhìn vào đôi mắt lão già. Lão mở miệng; dường như lão đang chuẩn bị nói... Cô gái siết chặt lão vào lòng, nhấn chìm lão trong cái ôm lạnh lẽo.
Fairfax yếu ớt kêu lên một tiếng duy nhất.
Và ánh-sáng-khác tắt ngúm.
Căn phòng tối đen. Tôi nghiêng bàn tay; mặt dây chuyền rơi xuống và vỡ vụn trên sàn.
“Nhanh lên! George - tóm lấy Grebe!” Đó là tiếng Lockwood đang hét. Bóng gã tài xế chỉ loáng thoáng ẩn thiện, gã loạng choạng băng qua căn phòng, va vấp vào đồ đạc, tìm đường chạy ra hành lang. Lockwood chộp lấy một que còi từ lò sưởi và đuổi theo. George cũng vừa lao theo chân Lockwood vừa lia một cái nệm ghế vụt qua đầu Grebe. Grebe cúi xuống; hình bóng của gã mờ tỏ giữa khung vòm hành lang. Gã quay lại: một ánh chớp, một tiếng nổ giòn, một viên đạn vụt qua giữa chúng tôi bay vào bóng tối.
Lockwood và George đã tới khung vòm ấy, họ ngừng lại một thoáng, và lao qua nó. Sau đó ngay lập tức có một tiếng la và tiếng đổ vỡ, rồi những giọng nói vang lên, và bất chấp cơn đau nơi bàn tay bị thương, tôi cũng loạng choạng đi ra hành lang - ở đó, tôi kinh ngạc thấy gã tài xế đang nằm dài trên mặt đất với que còi lò của Lockwood chĩa vào cổ gã, cửa chính đã mở tung, và thanh tra Barnes cùng một hội thám tử mặt mũi nghiêm trọng đang tiến vào nhà.