Cầu Thang Gào Thét

Lượt đọc: 115 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
CHƯƠNG 20

“Làm việc cần làm trước đã”, Lockwood nói. “Đợi đây nhé.”

Cậu bước ngang qua sảnh, đế giày gõ xuống những viên đá lát sàn, dưới ánh mắt các lãnh chúa và phu nhân của Combe Carey, tới một cánh cửa nhỏ bên cạnh cầu thang. Cậu mở cánh cửa và biến mất vào bên trong. Cánh cửa đóng lại. Yên lặng một lúc. George và tôi nhìn nhau. Một tiếng leng keng kỳ lạ của sứ vang lên, rồi yên lặng; rồi tiếng xả bồn cầu. Lockwood chui ra, tay lau vào áo choàng. Cậu từ tốn bước lại phía chúng tôi. “Tốt hơn rồi,” cậu nói. Cậu xách một gói gì đó loang loáng ướt.

“Cái gì vậy?” George hỏi.

Lockwood vung cái gói đó lên. “Bảy ống pháo mạnh nhất mà Satchell có thể cung cấp,” cậu nói. “Gắn chúng vào thắt lưng của các cậu như mọi ngày và lên đường thôi.” Cậu xé lớp băng dán bọc quanh chiếc túi nhựa ướt và giở nó ra. Khi cậu giở ra hết, hai cái ống màu bạc sáng lăn xuống lòng bàn tay cậu.

“Lockwood...” George bắt đầu. “Làm sao cậu...”

“Cậu đã giấu pháo trong quần áo!” tôi thốt lên. “Cậu đem giấu chúng khi chúng ta tới đây! Trong khi chúng tôi đang đợi bên ngoài với ông Starkins!”

Cậu mỉm cười; hàm răng sáng mờ trong ánh sáng nhá nhem.

“Đúng thế. Tôi gắn chúng vào lớp lót áo khoác. Ngay khi chúng ta tới đây tôi đã lẻn vào nhà vệ sinh và giấu chúng vào bồn nước nhà vệ sinh. Của cậu đây, Lucy. Chìa tay ra.”

Tôi vui vẻ nhận lấy những ống pháo và gắn chúng vào đúng chỗ trên thắt lưng của mình. Lockwood lấy ra hai ống nữa và đưa cho George.

“Tôi đã đoán trước rằng ông Fairfax thể nào cũng sẽ khám người và bộ đồ nghề của chúng ta,” cậu nói, “và tôi muốn giấu chúng khuất mắt trước khi điều đó xảy ra. Phải thừa nhận rằng tôi đã không nghĩ rằng ông ấy có thể lục lọi túi xách của chúng ta khi chúng ta không có mặt ở đó. Nhưng rồi thế đấy, ông ấy là con người như thế mà.”

“Chà, ông ấy là người thế nào cơ?” George vừa nói vừa nhìn xuống hai ống của cậu.

“Một con người đáng sợ. Chẳng phải điều đó quá hiển nhiên sao? Còn đây là hai ống cho tôi...”

Tôi lắc đầu, kinh ngạc. “Nếu ông Fairfax mà biết cậu làm việc này...”

“Ờ, nhưng ông ấy không biết đâu.” Lockwood nhe răng cười như một con sói. “Và tôi sẽ chẳng mất ngủ vì đã lừa dối ông ấy đâu. Trước giờ ông ấy là người đặt ra luật lệ. Giờ là lúc chúng ta điều chỉnh chúng theo hướng có lợi cho mình.”

“Tôi không tranh cãi đâu, Lockwood,” George nói. “Đây là một việc tuyệt vời. Nhưng cậu thừa biết rằng nếu chúng ta chỉ cần làm bắt lửa vào một chiếc chân ghế thời nữ hoàng Anne thôi, chúng ta sẽ không lấy được phần tiền còn lại. Trên thực tế, ông Fairfax có lẽ sẽ kiện chúng ta, như nhà Hope đã làm, và như thế chúng ta sẽ lại trở về với cái máng lợn thôi.”

“Ồ, ông ấy sẽ kiện chúng ta, được thôi,” Lockwood đồng tình. “Nhưng ai quan tâm chứ? Ống Lửa Hy Lạp này có thể sẽ cứu mạng chúng ta. Nhớ điều đã xảy ra với nhóm thám tử cuối cùng đã ở đây qua đêm chứ? Chúng ta sẽ không để người ta tìm thấy chúng ta chết cứng dưới sàn nhà. Và vì thế tôi đã có chuyến mua sắm nho nhỏ cuối cùng ngày hôm qua...”

Cậu vỗ vỗ vào chiếc gói dốc ngược. Chiếc ống thứ 7 lăn ra, nó hơi lớn hơn một chút so với những ống khác. Giống như những ống còn lại, nó có in logo hình mặt trời mọc của công ty Sunrise trên thân, nhưng giấy gói màu đỏ sẫm thay vì màu trắng. Ở một đầu có một chiếc ngòi dài.

“Một loại pháo mới,” Lockwood nói và nhét nó vào bên cạnh hai ống khác ở thắt lưng. “Người của Satchell nói rằng các thám tử Fittes và Rotwell đã sử dụng chúng trong nhiều vụ ma cụm - nạn nhân của các vụ ném bom thời Đức Quốc xã, các khu vực bệnh dịch vân vân... Nó sẽ phát ra một luồng bạc, sắt và magiê rộng lớn. Chắc chắn chúng ta sẽ phải tránh thật xa khi nó phát nổ, bởi vì nó có sức mạnh rất ghê gớm. Tôi hy vọng thế; bởi vì giá của nó rất đắt. Giờ thì - tôi phải giấu thứ rác rưởi này vào đâu đây?” Cậu vò nhàu chiếc túi ướt, và nhét nó vào trong miệng một chiếc bình thời Hán của ông Fairfax. “Tốt,” cậu nói cụt ngủn. “Làm việc thôi.”

Chúng tôi chọn thư viện làm căn cứ địa của mình. Nó vừa gần lối thoát vừa gần cánh cửa nối sang chái nhà an toàn, và ở đó có rất nhiều những chiếc ghế bằng sắt có thể sẽ kiềm chế được hoạt động của Khách. Chúng tôi kéo túi xách vào bên trong và đặt một ngọn đèn điện lên trên một chiếc bàn. Lockwood giảm ánh sáng xuống.

“Chúng ta đã xem nhanh một vòng quanh đây rồi,” cậu nói. “Ai có ý kiến gì không?”

“Nơi này đầy những hồn ma,” tôi nói.

George gật đầu. “Cụ thể là?”

“Hành lang gần Căn Phòng Đỏ?”

“Ừ.”

“Cậu nghe thấy gì chứ, Lucy?”

“Ở hành lang đó ư? Rất nhiều tiếng thì thào. Quá khẽ để có thể nghe ra được bất cứ từ nào, nhưng những giọng nói thì... rất tàn độc, tôi nghĩ vậy. Ở những nơi khác thì chỉ là sự yên lặng. Nhưng đó là sự yên lặng tôi biết chắc sẽ bị phá vỡ ngay khi đêm xuống.” Tôi nở nụ cười ái ngại. “Xin lỗi nhé, nghe không hợp lý lắm, phải không?”

Lockwood gật đầu. “Thực ra thì rất có lý. Chuyện tương tự cũng xảy ra với tôi. Tôi có thể cảm thấy các đốm-sáng-chết khắp mọi nơi, nhưng chưa thể nhìn rõ được chúng. Còn cậu thế nào, George?”

“Tôi không được thính nhạy như hai cậu,” cậu nói, “nhưng tôi đã nhận thấy một điều.” Cậu gỡ nhiệt kế ra và chìa mặt số về phía chúng tôi. “Khi chúng ta ở trong thư viện cùng ông Fairfax, nhiệt độ lúc đó là mười sáu độ. Giờ nó đã giảm xuống mười độ. Thế là giảm khá nhanh đấy.”

“Nó sẽ còn giảm xuống nhiều hơn nữa,” Lockwood nói. “Được rồi, chúng ta sẽ làm một cách có hệ thống. Chúng ta sẽ ghi chú lại nhiệt độ và những cảm nhận của chúng ta. Đầu tiên là tầng một trước, bao gồm cả cây cầu thang đó - rồi đến hầm rượu. Rồi chúng ta sẽ nghỉ một lát. Sau đó: những tầng khác. Đêm sẽ dài, và đây là một tòa nhà lớn. Chúng ta sẽ luôn ở cạnh nhau. Không ai đi lang thang một mình. Vì bất cứ lý do gì. Nếu các cậu cần đi vệ sinh, tất cả chúng ta sẽ cùng đi. Đơn giản thế thôi.”

“Thế thì tôi không uống trà nữa vậy,” tôi nói.

Tôi đã đúng. Nơi đây đầy hồn ma. Và chẳng cần phải đợi lâu chúng mới bắt đầu lộ diện.

Nhờ những đồ đạc bằng sắt, thư viện - nơi chúng tôi khởi đầu - có tương đối ít những dấu hiệu bất thường. Nhưng ngay cả khi ở đây, với ngọn đèn tạm thời tắt đi để lại chúng tôi đứng trong bóng tối, chúng tôi bắt đầu nhận thấy những đốm và vệt sáng vụt qua tầm nhìn. Chúng quá mờ và lướt quá nhanh nên rất khó để hình thành một vụ hiện hồn thực sự, nhưng chúng cũng chính là những vệt sinh chất. Theo phương pháp Fittes cổ điển, George lấy chỉ số nhiệt độ ở cả bốn góc và trung tâm của căn phòng. Cậu ghi lại những chỉ số này rất cẩn thận trên bản sơ đồ mặt bằng. Trong lúc ấy tôi cầm kiếm đứng gác; sau đó Lockwood và tôi vận dụng Năng lực của mình để cảm nhận. Chúng tôi không thu được gì nhiều. Sự yên lặng trùm lên hai tai tôi. Lockwood thông báo có vài đốm sáng yếu ớt mà cậu đoán là các đốm-sáng-chết cổ xưa. Cậu có vẻ quan tâm nhiều hơn tới những tấm ảnh rẻ tiền kịch tính trên tường.

Trong hành lang, chỉ số trung bình của George là mười một độ. Những đốm sinh chất giờ đã mạnh hơn thấy rõ, bắn tóe xung quanh chúng tôi như những con đom đóm trong bóng tối. Ở đây cũng xuất hiện bóng dáng đầu tiên của một làn sương ma màu trắng xanh, mờ ảo tới nỗi có căng mắt ra cũng rất khó thấy được. Nó nằm sát dưới sàn nhà và chầm chậm lớn dậy ở rìa phòng.

Và giờ đây các hiện tượng khác bắt đầu tăng tốc xuất hiện. Khi tôi tập trung, tôi bắt đầu nghe được một âm thanh lách tách nho nhỏ, như tiếng nhiễu trên radio, ở rìa xa của vùng cảm nhận. Nó cứ liên tục tắt đi rồi lại nổi lên, mãi đe dọa nhập lại với nhau thành những âm thanh có nghĩa, nhưng cuối cùng chuyện đó chẳng bao giờ xảy ra. Vì một lý do nào đó sự mơ hồ của nó làm tôi khó chịu. Tôi cố gắng hết sức để loại bỏ nó ra khỏi đầu.

Trong khi đó Lockwood đã phát hiện được ba đốm-sáng-chết trong sảnh, chúng đều sáng đến mức ngạc nhiên.

“Gần đây thôi, phải không?” tôi hỏi.

Cậu gỡ kính râm xuống và gài vào áo khoác. “Hoặc là dấu vết của một sự kiện đã lâu rồi nhưng vô cùng kinh hoàng. Khó mà nói được.”

Bản thân cây cầu thang khổng lồ thì bất ngờ thay lại có những chỉ số rất thấp. Nhiệt độ của nó (George đã thực hiện đo đạc ở một vài bậc thang, rồi lấy chỉ số trung bình) không khác gì so với trong sảnh. Tôi chẳng cảm nhận thấy sự thay đổi nào trong những âm thanh ẩn giấu ở đó, và chắc chắn không có tiếng gào thét nào cả. Khi tôi (hơi ngập ngừng) sờ vào mặt đá cầu thang và cố gắng cảm nhận những dấu ấn tâm linh, tôi không tìm được gì khác ngoài một cảm giác khó chịu cao độ, mà - nói thật - tôi đã cảm thấy sẵn rồi.

Trong phòng trung bày dài, bức tường phía xa đã chìm trong bóng tối và không khí đã trở nên lạnh lẽo. Ngọn lửa bùng cháy trong lò giờ đây đã ngớt lại thành một tia lửa cứng đờ duy nhất; nó rung rinh, run rẩy, nhưng vẫn chưa chịu tắt. George lại xem nhiệt kế một lần nữa. “Tám độ,” cậu nói, “và vẫn tiếp tục hạ.”

“Tôi bắt đầu cảm thấy phiền muộn rồi,” tôi nói. “Có ai cảm thấy vậy không?”

Bọn họ gật đầu. Đúng vậy, nó đang bắt đầu. Cảm giác xuống tinh thần quen thuộc, cái sức nặng như chì đang ép xuống trái tim ta một cách tàn độc, làm cho ta chỉ còn muốn cuộn người như một quả bóng và nhắm mắt lại...

Chúng tôi tiến sát vào nhau, tay đặt trên chuôi kiếm, và bước cùng nhau dọc căn phòng.

Cảm giác tuyệt vọng càng lúc càng trở nên mạnh mẽ hơn theo mỗi bước chân của chúng tôi, vượt qua chiếc bàn uống trà và lò sưởi, tiến về phía tấm thảm treo phai màu ở đầu đằng kia của phòng tranh. Nhiệt độ giảm rất nhanh. Sương ma trôi dưới mắt cá chân chúng tôi và xô vào những chiếc ghế xô pha. Và giờ đây, khi chúng tôi quay đầu nhìn lại, những ma hình thực sự đầu tiên đã xuất hiện: những hình dáng mờ mờ đang đứng ở giữa sảnh.

Theo quy luật kỳ quặc của những Loại Một yếu, ta nhìn thấy chúng rõ nhất khi quan sát từ khóe mắt: những vết khía nhiễu loạn màu xám và đen sáng lập lòe trong chốc lát và tan biến vào hư không. Hai linh hồn cỡ trẻ con, một cỡ người lớn: ngoài điều đó ra thì ta chẳng thể nói bất cứ điều gì về chúng.

Chúng tôi cố gắng hết sức tảng lờ chúng đi và thay phiên nhau đứng gác trong khi đo đạc các chỉ số ở bức tường đằng xa nhất. Ở đây lạnh hơn thấy rõ. Lockwood nâng một góc tấm thảm treo lên và quan sát đằng sau nó.

“Tôi cũng đã băn khoăn về cái đó,” George nói. “Có gì không?”

Lockwood thả tấm thảm xuống. “Chỉ là đá thôi. Dù sao thì đây cũng một điểm lạnh.”

“Đúng vậy. Sáu độ, sắp sửa xuống năm độ rồi. Được rồi, chúng ta đã xong ở đây. Đi tiếp thôi.”

Khi chúng tôi hoàn thành tầng một và quay trở lại cầu thang thì một dải sương mù cùng âm thanh và mùi khó chịu đón chào chúng tôi, và không phải toàn bộ chúng là do George. Không nơi đâu khác lạnh lẽo hoặc có cái không khí quái gở như phòng trưng bày dài, nhưng những hiện tượng siêu nhiên đã lan ra khắp chái nhà này. Âm thanh lách tách nhiễu loạn xấu xa lúc nãy đã mạnh hơn. Chúng tôi đã ghi lại thêm vài đốm-sáng-chết nữa. Các ma hình xuất hiện khá liên tục. Chúng chẳng bao giờ tới gần chúng tôi, mà luôn luôn hình thành ở đằng phía xa kia của hành lang, ở những chỗ mà chúng tôi vừa mới ở, hoặc sắp sửa định tới. Không thể nhìn rõ chi tiết của chúng, dù một vài trong số đó rõ ràng là trẻ con. Ấn tượng chúng đem lại đều là đặc trưng của Loại Một: lãnh đạm, không hung hăng, chỉ có chút buồn buồn.

“Chúng là những thứ không đáng kể thôi,” George nói trong khi chúng tôi, với quầng sáng yếu ớt từ ngọn nến Lockwood đang cầm chìa ra đằng trước, tiến xuống cây cầu thang nhỏ hẹp của hầm rượu. “Bóng, Ma Ẩn, Sương Xám... Đó chỉ là những hồn ma bên ngoài tụ tập lại xung quanh vụ ma ám khởi thủy, gốc rễ. Tới giờ trong những thứ chúng ta đã thấy vẫn không có gì có thể là bản thân Nguồn, thậm chí còn chẳng có gì gần như thế, có chăng thì là vùng lạnh ở gần tấm thảm treo thôi. Và các cậu biết căn phòng nào nằm thẳng phía trên nó chứ?”

Tôi không trả lời. Không đứa nào trong chúng tôi nhắc đến Căn Phòng Đỏ trong vòng một tiếng đồng hồ vừa rồi, cho dù chúng tôi thấy khá rõ rằng đó có khả năng là nơi cuộc điều tra của chúng tôi hướng tới.

Hầm rượu tối đen như mực và có một cơn gió quái ác lùa qua. Ngọn nến bị thổi tắt gần như ngay lập tức và chúng tôi phải dùng đến đèn pin. Ánh đèn soi rọi một hệ thống phức tạp những lối đi dưới khung vòm, những phiến đá xám, những cột trụ cổ xưa, và sàn nhà lát đá mấp mô quẩn sương ma. Một vài hốc tường chứa đầy những chiếc thùng vỡ và những giá kệ trống không đã có thời được dùng để trữ rượu vang; những hốc còn lại chứa củi đốt lò, những thứ lặt vặt, mạng nhện và chuột. Khi chúng tôi bước vào sâu hơn, mạng nhện dày dần lên và sương ma dần sáng hơn. Nhiệt độ vẫn tiếp tục giảm xuống.

Căn phòng cuối cùng kết thúc ở một bức tường đá trống không.

“Cùng kiểu với bên trên,” George nói và ghi nguệch ngoạc lên tấm bản đồ của cậu trong khi tôi soi đèn pin. Lockwood đứng bên cạnh chúng tôi với thanh kiếm trong tay. “Chúng ta đang đứng thẳng ngay dưới vị trí cuối phòng trưng bày dài, và lại một lần nữa chúng ta gặp một điểm lạnh. Nhiệt độ ở đây cũng là năm độ: đó là nhiệt độ thấp nhất trong hầm rượu này. Nhìn những mạng nhện trên kia... Bức tường này có vẻ gì rất... Ối!”

Lockwood đẩy chúng tôi sang một bên. Cậu dùng kiếm chém điên cuồng xuống dưới. Mũi kiếm đập vào mặt đá trên bức tường cuối phòng; những đốm lửa vàng tóe lên trong bóng tối.

Cậu chửi thề. “Trượt rồi!” cậu càu nhàu. “Nó biến mất rồi.”

Tôi rút kiếm ra; George, bị mất thăng bằng do cái túi đeo sau lưng và đống xích sắt, đã ngã sấp trên nền đá. Cả hai chúng tôi đều cuống quýt nhìn xung quanh. Ánh sáng đèn pin của tôi chạy thành những vòng tròn điên cuồng. Cứ như chúng tôi bị một vòng đá xám ào tới bủa vây.

“Cái gì thế?” tôi hỏi. “Lockwood...”

Cậu gạt tóc ra khỏi mắt, thở hổn hển. “Cậu không nhìn thấy sao?”

“Không.”

“Nó ở đó. Đứng ngay bên cạnh cậu. Chúa ơi, nó nhanh thật.”

“Lockwood...”

“Một người đàn ông - bơi ra từ trong bóng tối bên cạnh bức tường. Chỉ có khuôn mặt và bàn tay. Cứ như thể lúc đó ông ta đang với tay tới để túm lấy cậu ấy, Lucy. Tôi nghĩ đó là một tu sĩ. Phần đỉnh đầu của ông ta hói trụi. Tóc ông ta đã được cắt trong một lễ cắt tóc nào đó.”

“Lễ xuống tóc,” George nằm dưới sàn nói.

“Cắt tóc, xuống tóc, thế nào mà chả được. Tôi không ưa khuôn mặt ông ta.”

Chúng tôi quay trở lên trên tầng. Vài luồng sương ma cuộn xoáy đã xâm nhập sâu hơn một chút vào trong thư viện, nhưng ngọn đèn vẫn rất sáng và chúng tôi vẫn kiểm soát được những ma hình. Lockwood vặn ngọn đèn sáng lên một chút. Chúng tôi gỡ bỏ những vòng xích sắt ra để lưng được nghỉ ngơi, bỏ đồ ăn thức uống lên mấy chiếc bàn đọc sách của ông Fairfax, và ngồi cùng nhau trong yên lặng. Lúc đó là hơn mười giờ tối.

Tôi đã nhận ra một vật lạnh ép vào ngực mình từ nãy, và tranh thủ lúc này rút chiếc hộp thủy-tinh-bạc từ trong áo ra. Một tia sáng màu xanh dương yếu ớt tỏa ra từ bên trong: lần đầu tiên tôi thấy chiếc mặt dây chuyền của cô gái ấy phát ra ánh sáng ma. Rõ ràng linh hồn cô ấy vẫn còn mạnh lắm. Có lẽ cô ấy đang phản ứng với sức mạnh của những Khách bao quanh; cũng có lẽ còn nguyên do khác nữa cho nguồn sáng đó. Khi nói về Khách, tất cả chỉ là phỏng đoán. Dù đã năm mươi năm rồi, vẫn còn rất nhiều điều chúng tôi không biết.

George trải hai tấm sơ đồ mặt bằng lên cặp đầu gối bự chẳng; cậu cáu kỉnh gõ bút chì lên răng trong khi cân nhắc những ghi chú của chúng tôi. Lockwood đã ăn xong bánh quy; đèn pin trong tay, cậu đứng dậy để kiểm tra các giá sách. Bên ngoài hành lang, một con ma đơn độc đứng khuất mình trong bóng tối, đột nhiên sáng lóe lên rồi biến mất.

“Hiểu rồi,” George nói.

Tôi nhét chiếc hộp thủy tinh đi khỏi tầm mắt. “Hiểu gì?”

“Nguồn. Tôi biết nó ở đâu.”

“Tôi nghĩ tất cả chúng ta đều có thể đoán ra điều đó,” tôi nói. “Căn Phòng Đỏ.” Đã đến lúc ai đó phải nói ra. Sau khi nghỉ ngơi chúng tôi sẽ phải lên tầng.

“Có thể,” George nói. “Và cũng có thể không.” Cậu gỡ cặp kính xuống để có thể dụi cặp mắt mệt mỏi của mình. Giờ cậu lại đeo kính vào. Đó là một điều lạ lùng ở George. Khi không đeo kính, cặp mắt cậu trông nhỏ bé và yếu ớt - nháy liên tục và có phần thẫn thờ, như một con cừu ngốc nghếch đi lạc đường. Nhưng khi cậu đeo kính trở lại, mắt cậu lại sắc sảo và nghiêm nghị, giống như mắt con chim đại bàng sẽ xé thịt con cừu ngốc nghếch kia làm bữa sáng hơn. Và bây giờ chúng là như thế. “Tôi vừa chợt nhận ra một điều,” cậu nói. “Suốt từ đầu đến giờ nó đã hiện diện ngay trước mặt chúng ta trong những tấm bản đồ mặt bằng này. Nhưng các chỉ số của chúng ta đã khẳng định điều đó, tôi nghĩ vậy. Nhìn đây nhé...”

Cậu đặt cả hai tấm bản vẽ mặt bằng lên bàn. “Đây là bản vẽ phác thảo cũ của phế tích tu viện,” cậu ấy nói, “được vẽ vào thời Trung cổ. Đây là phòng ăn, sau này trở thành phòng trưng bày dài. Ở trên tầng, những căn phòng ở đây là các phòng ngủ của tu sĩ. Rất nhiều trong số đó giờ đã biến mất, nhưng căn phòng này vẫn còn tồn tại - giờ người ta gọi nó là Căn Phòng Đỏ.”

“Lockwood,” tôi đột ngột nói, “cậu vẫn đang nghe đấy chứ?”

“Hừm, có...” Lockwood đang đứng cạnh bức tường treo ảnh của Fairfax. Cậu đã lấy một quyển album lớn từ trên giá và đang uể oải lật giở nó.

“Bản vẽ thời Trung cổ,” George tiếp tục, “cho thấy có những lối đi phía sau Căn Phòng Đỏ, và cả đằng sau phòng trưng bày dài nữa, và chúng đã bị đập bỏ. Chúng dẫn tới một loạt các phòng ở cả hai tầng - có lẽ là thêm nhiều phòng ngủ nữa, hoặc các phòng chứa đồ, hoặc các phòng cầu nguyện. Có lẽ cũng đã từng có phần mở rộng ở tầng hầm rưọu nữa - tôi không chắc, các bản vẽ mặt bằng không thể hiện đoạn đó. Nhưng khi nhìn vào bản vẽ mặt bằng thế kỷ 19, những phần mở rộng đó đã biến mất. Nó chỉ thể hiện chái nhà này đến điểm kết thúc hiện tại - với bức tường đá lớn nơi có những điểm lạnh.”

“Chẳng phải đó là một bức tường rất vững chắc sao?” tôi nói.

“Nó là một bức tường rất dày,” George nói. “Và vấn đề chính là ở đó. Nó dày hơn nhiều so với bức tường trong bản vẽ ban đầu. Nó mở rộng ra cả những lối đi hồi xưa.”

Một cơn rùng mình phấn khích, như thể một cú điện giật nhỏ chạy khắp lồng ngực tôi và rần rật trên những cơ bắp cánh tay tôi. “Cậu nghĩ...”

Cặp mắt kính cậu lấp loáng. “Đúng thế. Tôi nghĩ chúng ta đang nói tới những căn phòng bí mật.”

“Vậy là... khi phần còn lại bị phá hủy, họ có thể đã bịt vài lối đi lại chăng? Tôi nghĩ điều đó là có khả năng. Cậu nghĩ sao, Lockwood?”

Không có tiếng trả lời. Khi tôi quay lại, Lockwood đã lấy thêm vài quyển album nữa từ trên giá và đang đắm chìm vào đó. Cậu đứng quay lưng lại với chúng tôi, mấy bình giữ nhiệt của cậu đặt thăng bằng trên chồng sách. Trong khi tôi nhìn, cậu thảnh thơi nhấp một ngụm trà.

“Lockwood! Cậu đang làm cái quái gì thế?”

Cậu quay lại; mắt cậu vẫn có cái vẻ vô tư lự mà tôi đã nhận thấy trong mấy ngày vừa rồi. Cứ như thể cậu đang nhìn thứ gì đó ở rất xa. “Xin lỗi, Lucy. Cậu vừa nói gì à?”

“Hét lên thì đúng hơn. Cậu đang làm gì vậy? George vừa có khám phá mới đây này.”

“Vậy hả? Tuyệt vời... Tôi chỉ đang xem qua quyển album ảnh của Fairfax. Ông ấy lưu giữ lại mọi thứ về tất cả các vở kịch mà ông ấy đã tham gia hồi còn trẻ: các chương trình trình diễn, vé, những lời nhận xét... những thứ đại loại như thế. Rất hấp dẫn. Hồi xưa ông ấy diễn cũng khá đấy.”

Tôi trừng mắt nhìn cậu. “Ai quan tâm chứ? Chuyện đó thì liên quan gì? Nó ảnh hưởng gì tới việc chúng ta đi tìm Nguồn chứ?”

“Không có gì... Tôi chỉ đang cố tìm nguồn cơn của một việc. Gần được rồi, nhưng nó cứ tuột ra khỏi tầm với...” Cậu đột ngột thay đổi; mặt cậu giãn ra. “Và cậu nói đúng - đó không phải ưu tiên của chúng ta lúc này.” Cậu nhào tới ngồi cạnh chúng tôi, thân mật vỗ một cái vào lưng George. “Cậu vừa nói gì, George? Những căn phòng bí mật đằng sau bức tường phía cuối ư?”

“Những căn phòng hoặc những lối đi, đúng vậy.” George chỉnh lại cặp kính; cậu nói nhanh. “Cậu nhớ câu chuyện của ông Fairfax về đội thám tử điều tra của Fittes bỏ mạng nhiều năm trước đây chứ? Điều đó đã cho tôi một hướng giải thích. Xác hai thám tử được tìm thấy ở Căn Phòng Đỏ. Người thứ ba - cậu con trai - biến mất. Theo những gì chúng ta biết, ma không ăn thịt nạn nhân của chúng. Vậy thì cậu ấy ở đâu?” Cậu trỏ một ngón tay búp chuối xuống bản vẽ mặt bằng. “Ở đây. Đâu đó trong bức tường dày một cách bất thường ở cuối phòng này. Cậu ấy đã tìm thấy lối vào và bước vào bên trong. Một Khách - có lẽ chính là Khách trung tâm của mọi chuyện - đã tóm được cậu ấy. Cậu ấy không bao giờ quay trở ra nữa. Cậu ấy vẫn còn ở trong đó, và tôi cá ba chiếc bánh rán sô cô la hảo hạng của Arif rằng Nguồn cũng ở đó.”

Chúng tôi ngồi yên nhìn vào tấm bản vẽ trong vũng ánh sáng nhỏ xíu của ngọn đèn, biển sương ma dập dìu vỗ vào rìa của nó. Lockwood cúi đầu, tay siết chặt vào nhau. Cậu ấy đắm chìm trong suy nghĩ.

“OK,” cuối cùng cậu nói, “tôi có điều này quan trọng cần nói.”

“Không phải lại là về quyển album ảnh của Fairfax nữa đấy chứ?” tôi nói.

“Không. Nghe này. George, như mọi khi, đã nói đúng. Nguồn ở Combe Carey có lẽ được giấu trong bức tường đó. Để tìm ra nó chúng ta phải tìm ra lối vào, và nó gần như chắc chắn ở trong Căn Phòng Đỏ. Một vài câu chuyện về tòa dinh thự này có thể chỉ là tầm bậy - chẳng hạn tôi không nghĩ có điều gì thật trong câu chuyện về cây Cầu Thang Gào Thét đó - nhưng Căn Phòng Đỏ rõ ràng lại khác. Tất cả chúng ta đều đã cảm thấy không khí bên ngoài cánh cửa. Vào bên trong đó sẽ không phải chuyện nhỏ đâu.” Cậu nhìn lên, chăm chú quan sát từng đứa chúng tôi. “Nhưng chúng ta không nhất thiết phải đi vào. Chính Fairfax đã nói thế. Chúng ta không phải vào bên trong căn phòng đó. Chỉ cần ở đây đêm nay thôi, chúng ta đã kiếm được đủ số tiền để bồi thường cho những hư hại do vụ hỏa hoạn ở đường Sheen gây ra. Fairfax đã trả tiền rồi - tôi đã kiểm tra lại với bên ngân hàng khi chúng ta tới đây. Hiển nhiên là chúng ta có thể kiếm được nhiều hơn nếu tìm ra được Nguồn, nhưng điều đó không quan trọng. Công ty sẽ tồn tại được mà không cần đến việc đó.”

“Liệu có được không?” George nói. “Chính xác thì cậu nghĩ chúng ta sẽ kiếm thêm được bao nhiêu vụ nữa đây, Lockwood? Ngoại trừ đề nghị bất ngờ của ông Fairfax, danh tiếng của chúng ta đã bị thiêu rụi rồi.”

Lockwood không cố chối bỏ điều đó. “Như tôi đã nói đấy,” cậu nói khẽ, “chúng ta cần một thành công lớn để đảo ngược tình thế. Hóa giải được vụ giết Annie Ward có thể sẽ làm được điều đó, tất nhiên rồi, và chúng ta đã sắp làm được điều đó, nhờ có Lucy. Nhưng... chưa có gì đảm bảo điều đó.” Cậu thở dài. “Tôi chưa tìm được mối liên hệ cuối cùng. Còn đối với việc tìm Nguồn ở đây - hừm, đó hiển nhiên là một lựa chọn khác. Nhưng là một lựa chọn rất mạo hiểm. Bất cứ thứ gì ẩn mình ở nơi này đều mạnh khủng khiếp.” Cậu ngồi tựa lưng vào ghế và cười - và lần này nó không phải là nụ cười rạng rỡ, thu hút, nụ cười sẽ khiến ta bất giác tuân theo; chỉ là một nụ cười thân thiện, ấm áp. “Các cậu biết tôi rồi đấy,” cậu nói. “Tôi nghĩ chúng ta có thể đối phó được với Nguồn ở đây. Nhưng tôi sẽ không áp đặt niềm tin của mình lên các cậu. Nếu các cậu muốn đổi hướng, cũng ổn thôi. Tôi để các cậu quyết định.”

George và tôi nhìn nhau. Tôi chờ cậu nói; cậu chờ tôi. Và trong đầu tôi tiếng lách tách ma quái kia cũng ngưng bặt, như thể cái thứ điều khiển ngôi nhà này cũng chờ đợi quyết định của tôi.

Nếu là trước đó có thể tôi đã bàn lùi. Tôi đã đưa ra quá nhiều quyết định sai lầm trong những tình huống cấp bách nên giờ khó có thể hoàn toàn tin tưởng vào trực giác của mình. Nhưng kể từ khi bước qua cánh cửa đó, và nhất là kể từ khi chúng tôi bắt đầu khảo sát nơi này, sự tự tin của tôi đã dần tăng lên. Chúng tôi làm việc cùng nhau rất tốt; tốt hơn nhiều so với trước kia. Chúng tôi đã trở nên cẩn thận, nghiêm khắc, thậm chí là xuất sắc... Nó cho tôi thấy Lockwood & Đồng sự sau này có thể trở thành một công ty như thế nào. Đây không phải thứ gì đó mà tôi muốn từ bỏ một cách dễ dàng. Tôi hít một hơi thật sâu.

“Theo ý tôi chúng ta sẽ xem xét thật nhanh,” tôi nói, “miễn là chúng ta giữ một lối rút lui thật thoáng đãng. Nếu tình hình xấu đi, chúng ta sẽ rời đi và thoát ra khỏi tòa nhà này nhanh nhất có thể.”

Lockwood gật đầu. “Nghe hợp lý đấy. Còn George?”

George phùng cặp má bự. “Ngạc nhiên chưa, Lucy cũng có lúc nói có lý đấy. Tôi cũng cảm thấy y như vậy. Miễn là” - cậu vỗ vào những chiếc ống ở thắt lưng mình - “chúng ta được phép dùng tất cả vũ khí của mình khi bắt buộc.”

“Vậy thì thống nhất thế đi,” Lockwood khẽ nói. “Xách túi lên và đi thôi.”

Giờ chúng tôi đã đưa ra quyết định, chúng tôi không còn lừng khừng nữa - nhưng chúng tôi cũng không liều lĩnh. Chúng tôi cẩn trọng bước lên cầu thang, luôn quan sát và lắng nghe phía trước. Cũng như trước đó, những bóng ma giữ khoảng cách, nhưng sương ma cuộn lên quanh mắt cá chân chúng tôi. Lockwood đã nhìn thấy những đốm-sáng-chết trên hành lang và phía sau những cánh cửa phòng ngủ. Về phần tôi, cái yên lặng cao ngất đã trở lại: nó ép chặt vào hai thái dương tôi. Không khí đặc quánh và quyện lại như si rô. Cái mùi ngòn ngọt giả tạo và bệnh hoạn đi theo chúng tôi từ chiếu nghỉ.

Bên ngoài cánh cửa xấu xí tiếng thì thầm đã tắt hẳn. Khi tôi nhìn lại dọc theo lối đi, tôi có thể cảm thấy những ma hình đang tụ lại bên ngoài rìa luồng sáng đèn pin.

“Cứ như thể chúng đang chờ đợi,” tôi lẩm bẩm. “Như thể chúng đang chờ đợi chúng ta bước vào.”

“Có ai có kẹo bạc hà không?” George hỏi. “Tôi biết rằng chúng ta sẽ cần tới kẹo bạc hà ở đó.”

Lockwood lấy chìa khóa ra từ trong túi áo và tra vào ổ khóa. “Xoay rất dễ dàng,” cậu nói. Có một tiếng cạch chắc gọn. “Được rồi. Chúng ta vào thôi. Như Lucy đã nói lúc nãy, chúng ta sẽ xem xét thật nhanh, và thế là xong.”

George gật đầu. Tôi cố hết mức để mỉm cười.

“Đừng lo,” Lockwood nói. “Sẽ ổn thôi.”

Rồi cậu cầm lấy tay nắm cửa đẩy vào, và nỗi kinh hoàng của đêm ấy bắt đầu.

« Lùi
Tiến »