Tôi nghĩ có lẽ mình nên làm rõ rằng tôi không có sở thích giấu những vật bị ma ám trong người. Tôi chắc chắn không có những đồ tạo tác mang điềm gở khác nhồi trong tất, như George gợi ý. Sợi dây chuyền đó là vật kỳ quặc duy nhất tôi mang theo.
Tôi đã nhìn thấy nó vào buổi chiều hôm trước, khi chúng tôi chuẩn bị sẵn sàng cho nhiệm vụ chỗ cây liễu. George đã đặt nó trên giá chiến lợi phẩm cùng với những thứ kỳ quặc khác. Nó chỉ nằm đó, trong chiếc vỏ bảo vệ nhỏ bé, sáng lờ mờ đằng sau lớp thủy tinh. Và thay vì bỏ mặc nó ở đó, như bất kỳ người bình thường nào khác sẽ làm, thì tôi đã nhặt cái hộp lên, đeo nó quanh cổ và bước đi.
Lý giải tại sao tôi lại làm điều đó quả thật không hề dễ dàng, nhất là khi ở trong trạng thái như của tất cả chúng tôi sau trận chiến ấy. Bởi thế phải đến sau bữa ăn sáng rất muộn của ngày hôm sau tôi mới cố đưa ra những lý do của mình.
“Chỉ là tôi muốn giữ sợi dây chuyền trong tầm tay,” tôi nói. “Không phải tống nó lên đó cùng với những chiến lợi phẩm khác. Tôi nghĩ đó là bởi những điều đã xảy ra khi tôi chạm vào nó, khi tôi có mối liên hệ tâm linh với Annie Ward. Những cảm giác tôi đã trải qua khi đó chính là những cảm giác của cô ấy. Tôi cảm thấy điều cô ấy đã cảm thấy; tôi đã thoáng có cảm giác mình chính là cô ấy. Bởi vậy...”
“Đó là nguy cơ ở Năng lực của cậu,” Lockwood nói cộc lốc. Buổi sáng hôm đó trông cậu xanh xao và rất nghiêm nghị; cậu nheo mắt nhìn tôi. “Có thể nói cậu quá nhạy cảm. Cậu tới quá gần bọn họ.”
“Không đâu, đừng có hiểu nhầm tôi,” tôi nói. “Tôi không hề gần gũi với Annie Ward chút nào. Tôi nghĩ cô ấy chẳng phải là người đặc biệt hiền lành gì khi còn sống, và rõ ràng cô ấy là một hồn ma rất tàn độc và nguy hiểm. Nhưng nhờ Mạc lực của tôi, tôi quả thật phần nào hiểu được những điều cô phải trải qua. Tôi hiểu nỗi đau của cô ấy. Và điều đó có nghĩa tôi muốn giành lại công bằng cho cô ấy lúc này. Tôi không muốn cô ấy bị lãng quên. Cậu đã nhìn thấy cô ấy nằm trong lòng ống khói đó, Lockwood! Cậu biết điều Blake đã làm. Bởi thế khi tôi nhìn thấy sợi dây chuyền bị vứt cùng với những chiến lợi phẩm khác, việc đó dường như... với tôi việc đó dường như rất sai trái. Chừng nào gã đàn ông đó chưa bị trừng phạt, và công lý chưa được thực thi một cách đúng đắn, tôi nghĩ chúng ta chưa nên... vứt bỏ cô ấy.” Tôi rầu rĩ cười với họ. “Đừng có nói với tôi... chuyện này hơi điên khùng nhỉ?”
“Chuẩn luôn,” George nói.
“Cậu cần phải cẩn thận, Lucy,” Lockwood nói, giọng cậu đều đều và lạnh lùng. “Không xem nhẹ những hồn ma tàn ác được đâu. Và cậu lại giữ bí mật nữa rồi, bất cứ thám tử nào làm như thế đều là mối nguy hiểm tiềm ẩn đối với những người còn lại. Không được có bất cứ người nào không đáng tin tưởng trong đội hình của tôi. Cậu hiểu điều tôi nói chứ?”
Tôi hiểu. Tôi nhìn ra chỗ khác.
“Mặc dù vậy...” cậu tiếp tục, bằng một giọng nhẹ nhàng hơn đôi chút, “tình cờ chuyện này hóa ra lại rất được việc. Sợi dây chuyền này có thể đã bị lấy trộm mất, nếu như không nhờ có cậu.”
Cậu cầm nó trong lòng bàn tay trong khi nói, bề mặt bằng vàng của mặt dây chuyền lấp lánh trong ánh mặt trời. Chúng tôi đang đứng trong tầng hầm, bên cạnh cánh cửa vườn để mở.
Không khí mát mẻ ùa vào, xua tan mùi thối rữa hôi nồng còn sót lại từ các Khách được giải phóng đêm hôm qua. Sàn nhà vương vãi đầy những mảnh kính vỡ và những vệt sinh chất. George đang xử lý những giá đựng chiến lợi phẩm, soát lại những chiếc hộp. Cậu đeo một chiếc tạp dề diềm thêu ren đơn giản, ống tay áo xắn lên. “Chẳng có thứ nào khác bị ăn trộm cả,” cậu nói, “nếu như đây là một tên trộm bình thường lấy đồ bán ra chợ đen thì điều này có vẻ hơi lạ. Có những thứ rất 'ngon lành' ở đây. Chẳng hạn như bàn tay cướp biển này, hoặc cái xương mác đáng yêu này...”
Lockwood lắc đầu. “Không. Hắn ta muốn sợi dây chuyền cơ. Nếu không thì có quá nhiều điều trùng lặp tình cờ đấy. Có ai đó rất cần nó.”
“Hừm, chúng ta biết ai đó là ai mà,” tôi nói. “Hugo Blake.”
George ngắt lời tôi. “Chỉ có một vấn đề. Hiện tại lão đang bị tống giam cơ mà.”
“Lão bị giam giữ,” Lockwood tán đồng, “nhưng điều đó không có ý nghĩa nhiều. Lão là người lắm tiền. Lão có thể dễ dàng thu xếp vụ đột kích. Nhưng tôi phải thú nhận tôi không hiểu rõ lắm tại sao sợi dây chuyền đó lại quan trọng với lão như vậy. Những chữ viết Latin trên đó chẳng thể chứng tỏ lão có tội, phải không nào?” Cậu lưỡng lự. “Trừ phi...”
“Trừ phi,” tôi nói, “sợi dây chuyền đó có chứa một đầu mối khác hoặc một bí mật mà Blake không muốn bị phát hiện ra.”
“Chính xác. Hãy cùng quan sát nó dưới ánh sáng ban ngày nào.”
Chúng tôi bước ra khu vườn nhỏ. Lockwood cầm sợi dây chuyền lên để chúng tôi xem xét. Nó có vẻ vẫn y nguyên như cũ: một mặt dây chuyền hình bầu dục làm bằng vàng với những vảy xà cừ, hơi bẹp và có đường xẻ dọc một bên.
Tôi chăm chú nhìn nó. Vết xẻ dọc một bên...
“Chúng ta ngớ ngẩn quá,” tôi kinh ngạc. “Nó lồ lộ ngay trước mắt chúng ta.”
Lockwood liếc nhìn tôi. “Có nghĩa là...”
“Có nghĩa là nó phải có một đường xẻ! Nó là mặt dây chuyền mở được mà. Nó mở được! Chúng ta có thể mở nó ra.”
Tôi lấy mặt dây chuyền từ tay cậu và ấn cạnh móng tay vào vết nứt hẹp đó. Tôi khẽ cậy ra. Cho dù mặt dây chuyền đã méo mó xẹo xọ, vẫn có một tiếng tách sướng tai vang lên gần như ngay lập tức; mặt dây chuyền tách làm hai nửa, xoay gọn ghẽ trên bản lề. Tôi mở hai nửa đó ra, giữ nó trong lòng bàn tay.
Tôi không biết mình đang chờ đợi điều gì, nhưng tôi tin rằng sẽ có một điều gì đó. Một túm tóc chăng? Một tấm ảnh? Người ta vẫn cất giấu đủ thứ trong mặt dây chuyền kiểu này. Nó sinh ra để làm thế mà.
Cả ba đứa cùng nhìn trân trân vào hai nửa đã mở của mặt dây chuyền.
Chẳng có bất cứ sợ i tóc nào. Hoặc một tấm ảnh, một vật lưu niệm hay một lá thư bé tí được gấp lại. Nhưng điều đó không có nghĩa bên trong mặt dây chuyền trống rỗng. Không. Có thứ gì đó ở bên trong.
Lại là một dòng chữ khác, được khắc gọn ghẽ ở bề mặt vàng nhẵn nhụi phía trong:
A (chèn kí tự đặc biệt) W
H.II.2.115
“Chính là nó đây,” Lockwood nói. “Đầu mối bí mật. Đây là thứ mà lão muốn che giấu.”
“Chữ AW này rõ ràng là Annabel Ward,” tôi nói.
“Còn chữ H là Hugo,” George thở thành tiếng. “Trong Hugo Blake ấy...”
Lockwood nhăn trán. “Như thế này tốt đấy. Nhưng hẳn còn phải có gì đó nữa. Những con số này thì sao? Đây là mã số gì đó chăng...”
“Tốt hơn chúng ta nên chuyển nó cho DEPRAC,” tôi đột ngột nói. “Chúng ta không thể giữ nó. Đây là chứng cứ quan trọng mà cảnh sát cần phải thấy. Mà Blake lại biết nó ở đây.”
“Có lẽ cậu nói đúng,” Lockwood nói. “Mặc dù tôi thực sự không muốn dính dáng tới ông Barnes. Tôi muốn tự chúng ta khám phá chuyện này hơn. Nhưng...” Chuông điện thoại vang lên lanh lảnh trong văn phòng. “Có lẽ chúng ta không có nhiều lựa chọn. Cậu trả lời điện thoại được chứ, George?”
George đi một lúc lâu. Tới khi cậu trở lại, Lockwood đã bỏ mặt dây chuyền trở lại hộp của nó và tôi đã bắt đầu quét những mảnh vụn rơi trên sàn nhà.
“Để tôi đoán,” Lockwood lên tiếng. “Lại là ông Barnes à?”
Mặt George hơi ửng hồng. “Không phải. Một khách hàng mới.”
“Chắc là một bà già với con mèo ma trên cây chứ gì?”
“Không. Còn cậu có thể để đấy đã, Lucy, và bắt đầu dọn dẹp ở trên tầng đi là vừa. Đó là ông John Fairfax, chủ tịch hội đồng quản trị của công ty Sắt Fairfax, và ông ấy đang đến đấy.”
Nhìn chung mọi người đều cho rằng Vấn đề đang bao trùm Anh quốc là một thứ không có lợi cho nền kinh tế. Những người chết quay trở lại để ám những người sống, ma hình xuất hiện sau khi trở tối - những việc như thế gây ra vô số hậu quả. Tinh thần và năng suất lao động suy giảm. Không ai muốn làm việc vào những ca muộn. Vào mùa đông, công việc kết thúc từ giữa buổi chiều. Nhưng có những công ty vẫn ăn nên làm ra, bởi vì họ đáp ứng những nhu cầu sống còn. Một trong số đó là công ty sắt Fairfax.
Ở vị thế nhà sản xuất sản phẩm sắt hàng đầu từ khi cuộc khủng hoảng này chớm nổ ra, Sắt Fairfax đã ngay lập tức hăng hái bắt tay vào cung cấp ấn niêm phong, mạt sắt và dây xích cho Fittes và Rotwell. Khi Vấn đề trở nên tồi tệ hơn, và chính phủ bắt đầu sản xuất hàng loạt đèn ma, cũng chính sắt Fairfax đã cung cấp khối lượng kim loại khổng lồ cần thiết. Chỉ nguyên thương vụ này đã đảm bảo lợi nhuận cho công ty. Nhưng tất nhiên vẫn còn nhiều hơn thế nữa. Những thần lùn xấu xí bằng sắt mà người ta đặt rải rác quanh vườn nhà mình chẳng hạn? Hay những chiếc vòng cổ Protecto™ không hợp thời trang? Những chiếc vòng tay bằng nhựa với những hình mặt cười bằng sắt được đeo vào cổ tay các em bé sơ sinh trước khi chúng rời khỏi bệnh viện nữa? Tất cả đều là sản phẩm của Fairfax.
Ông chủ của công ty, John William Fairfax, nhờ đó trở thành một trong những người giàu có nhất đất nước này, ngang hàng với những nhà tư bản, những người thừa kế của Marissa Fittes và Tom Rotwell, và với cái tay sở hữu những trang trại oải hương mênh mông ở Lincolnshire Wolds. Fairfax sống đâu đó tại London, và chỉ cần ông ta búng tay một cái, bộ trưởng đang tại vị của bất cứ chính phủ nào cũng sẽ ba chân bốn cẳng chạy tới nhà ông ta.
Giờ ông ta đang đích thân tới đây.
Các bạn yên tâm đi, chúng tôi đã dọn dẹp phòng khách nhanh gấp đôi bình thường.
Vài phút sau tiếng một chiếc xe lớn đã ầm ì vang lên từ ngoài phố. Tôi nhìn ra, thấy một chiếc Rolls-Royce bóng loáng đang từ từ dừng lại. Chiếc xe dường như choán hết cả con đường. Nó có những tấm lưới kim loại tráng bạc sáng bóng bọc ở các cửa sổ, và những gân bạc chạy dọc hai bên hông xe. Trên nắp ca pô, một hình tạc nhỏ bằng bạc sáng lấp lánh dưới ánh nắng mùa đông.
Tài xế bước ra; vuốt phẳng bộ đồng phục màu xám đậm của mình rồi đi vòng quanh chiếc xe tới mở cửa sau. Tôi thụt lại vào bên trong, nơi Lockwood đang điên cuồng đập phồng những chiếc gối tựa, còn George phủi những vụn bánh bên dưới ghế xô pha. “Ông ấy đến rồi,” tôi rít lên.
Lockwood hít một hơi thật sâu. “Được rồi. Hãy cố tạo ấn tượng tốt nhé.”
Chúng tôi đứng dậy khi ông John Fairfax bước vào căn phòng dù điều đó cũng chẳng tạo ra mấy khác biệt. Ông ta là người rất cao và gầy. Ông ta cao hơn hẳn tôi, cao hơn hẳn Lockwood. George, đi ngay theo sau ông ta, hoàn toàn lọt thỏm trong cái bóng của ông ta. Cho dù ở tuổi bảy mươi hay tám mươi, hoặc bất cứ độ tuổi nào của ông ta hiện thời, thì ông ta cũng có vóc người rất ấn tượng, như thể một con tàu khổng lồ ta thường thấy ở bến cảng Southampton. Tuy vậy tay chân ông ta lại rất gầy và thừa thãi. Hai bên tay chiếc áo khoác dài bằng tơ lụa của ông ta rộng thùng thình; đôi chân của ông ta, cho dù có chiếc gậy chống đỡ cho, vẫn run lập cập khi ông ta bước đi. Ấn tượng tức thì của tôi về ông ta là một sự kết hợp kỳ dị giữa sức mạnh và sự yếu đuối. Trong một căn phòng đông nghẹt người, chắc chắn không ai có thể bỏ qua ông ta.
“Xin chào ngài,” Lockwood nói. “Đây là Lucy Carlyle, trợ lý của cháu.”
“Rất vui được gặp cô cậu.” Một giọng trầm cất lên, một cánh tay chìa ra to lớn và bao bọc. Từ trên cao, ông ta nghiêng cái đầu lớn vuông vắn, trơn nhẵn và lấm chấm đồi mồi về phía tôi. Ông ta có cái mũi khoằm, đôi mắt đen sáng rực; cặp lông mày rậm. Khi ông ta cười (nó chẳng giống một nụ cười là mấy; chỉ là vẻ mặt tỏ ý xác nhận sự tồn tại của tôi thì đúng hơn), tôi nhìn thấy những chiếc răng bọc bạc. Đó là một khuôn mặt đã quen với quyền lực và mệnh lệnh.
“Rất vui được gặp ngài,” tôi nói.
Chúng tôi ngồi xuống. Vị khách của chúng tôi choán hết cả chiếc ghế của ông ta. Gậy của ông ta làm bằng gỗ gụ với tay cầm bịt sắt hình đầu chó: có lẽ là chó ngao hoặc chó bun. Ông ta để nó dựa vào đầu gối và xòe tay ra trên thành ghế.
“Thật là vinh dự khi được đón ngài ở đây,” Lockwood nói. “Ngài muốn uống trà chứ ạ?”
Ông Fairfax gật đầu, ậm ừ tỏ ý đồng tình. “Bữa Sáng Của Pitkins, nếu cậu có loại trà đó. Bảo người phục vụ của cậu mang cả đường nữa nhé.”
“Người phục vụ của cháu? À, vâng. Cậu đi đi, George. Lấy trà cho tất cả mọi người nhé.”
George, lúc nãy đã quên không cởi tạp dề ra, quay gót rời khỏi phòng, mặt không biểu lộ gì.
“Thế này nhé, Lockwood,” ông John Fairfax nói, “tôi là một người bận rộn, và vì cô cậu có thể đang băn khoăn vì sao tôi lại tới nhờ cậy cô cậu mà không báo trước vào một buổi sáng thứ Sáu như thế này, chúng ta sẽ bỏ qua màn xã giao mà đi thẳng vào công việc nhé. Tôi đang gặp rắc rối với một vụ ma ám. Nếu cô cậu giúp được, tôi sẽ tưởng thưởng xứng đáng.”
Lockwood nghiêm trang gật đầu. “Chắc chắn rồi, thưa ngài. Chúng cháu rất sẵn lòng.”
Vị khách của chúng tôi đưa mắt nhìn quanh căn phòng. “Cô cậu có ngôi nhà đẹp đấy. Bộ sưu tập đồ đuổi ma của người New Guinea tuyệt vời đấy... Công việc tốt chứ hả?”
“Cũng tương đối thôi, thưa ngài.”
“Cậu nói dối như một chính trị gia ấy, Lockwood ạ,” ông già bật lại. “Rất trơn tru và tự nhiên. Mẹ tôi, Chúa phù hộ cho linh hồn bà và cầu mong linh hồn bà ngủ yên khi đêm xuống, đã bảo tôi hãy nói chuyện thắng thẳn và trung thực với tất cả mọi người. Tôi đã nghe theo lời khuyên của bà suốt cuộc đời mình. Bởi thế, thôi nào” - ông ta dùng bàn tay to lớn của mình vỗ vỗ vào đầu gối - “chúng ta sẽ làm việc dễ dàng hơn nhiều nếu chúng ta cởi mở với nhau! Công việc của cô cậu không tốt. Tôi đã đọc báo rồi! Tôi biết cô cậu đang gặp khó khăn về tài chính... cụ thể là do vụ cô cậu đốt rụi nhà người ta.” Ông ta cười khùng khục, một tiếng dội khô khốc vọng lại. “Cô cậu phải trả một món nợ rất lớn.”
Má Lockwood giật nhẹ; ngoại trừ điểm đó ra thì cậu không biểu lộ dấu hiệu khó chịu nào. “Không sai, thưa ngài, dù cháu đã đang gom tiền rồi. Chúng cháu có nhiều vụ xuất sắc khác, mang lại cho chúng cháu thu nhập tốt.”
Ông Fairfax phẩy tay. “Lại bịa rồi, cậu Lockwood! Tôi phải nói với cậu rằng tôi có các nguồn tin ở DEPRAC và tôi đã đọc hồ sơ mới nhất của các cậu. Tôi biết quy mô và chất lượng của những vụ 'xuất sắc' đó. Sương Xám, Trinh Nữ Lạnh, Sương Liến Thoắng! Những Loại Một yếu ớt và tẻ nhạt nhất người ta có thể tưởng tưọng ra! Tôi ngạc nhiên khi thấy cậu có thể kiếm đủ tiền để trả cho cô Carlyle đây.”
Ngẫm ra thì ông ta nói có lý. Tháng này tôi chưa được trả lương.
Lockwood quắc mắt. “Nếu như vậy, thưa ngài, thì cháu có thể hỏi sao ngài lại đến với chúng cháu hôm nay chứ? Có rất nhiều công ty thám tử khác ở London mà.”
“Đúng là có rất nhiều.” Ông Fairfax nhướng cặp lông mày rậm và ghim chặt cả hai chúng tôi trong đôi mắt hạt huyền của ông ta. “Nhưng cũng tình cờ là sự nổi tiếng gần đây của cô cậu xung quanh vụ đó đã thu hút được sự ưu ái của tôi. Tôi ấn tượng bởi các cô cậu không chỉ tìm thấy xác của...” Ông ta ngập ngừng. “Tên cô gái đó là gì nhỉ?”
“Annie Ward, thưa ngài.”
“Của Annie Ward, mà còn khám phá được cả danh tính của cô ấy nữa. Tôi thích sự phô trương của cô cậu, tôi thích việc cô cậu chú ý tới từng chi tiết nhỏ. Tôi cũng thích tuổi trẻ và tư duy độc lập của cô cậu!” Người đàn ông lớn tuổi chống gậy và nghiêng người ra trước. Một biểu cảm mới mẻ trên khuôn mặt ông ta: không hẳn ấm áp, mà chính xác hơn là một thứ gì đó nhiệt thành mãnh liệt. “Tôi cũng bắt đầu với tư cách là một kẻ ngoại đạo, cậu Lockwood ạ. Khi còn trẻ tôi đã phải cố gắng vất vả để tiến bước. Tôi chiến đấu chống lại các công ty lớn, lòng biết rõ những giai đoạn khó khăn vẫn còn nằm phía trước... Tôi hiểu sự đam mê thúc đẩy cậu hằng ngày! Hơn nữa, tôi cũng không có hứng thú đổ thêm nhiều tiền cho Fittes hay Rotwell nữa. Họ đã đủ giàu có rồi. Không, tôi đề nghị cho cô cậu một cơ hội mà cô cậu chưa từng mơ đến, để xem cô cậu có thể đem Năng lực của mình để đối đầu với một vấn đề khác biệt hơn, nguy hiểm hơn hay không... À, anh bạn của cậu quay trở lại rồi đấy.”
George đã trở lại, cậu bưng một chiếc khay trên đó xếp một bộ đồ trà tôi chưa từng nhìn thấy trước đó. Tất cả đều là đồ sứ xương điểm những bông hoa nhỏ màu hồng, kiểu chén điệu đà mỏng manh tới nỗi người ta sợ nó sẽ vỡ vụn ngay khi đưa lên môi. Hiệu ứng trang nhã, sang trọng đó đã bị suy giảm đôi chút vì một đống lênh khênh những chiếc bánh rán nhân mứt béo ú đặt trên chiếc đĩa cạnh đó.
“Cảm ơn, George,” Lockwood nói. “Cậu đặt nó xuống đây.”
George đặt chiếc khay xuống bàn, rót trà và mời mọi người ăn bánh rán. Bởi không ai khác lấy bánh, cậu rút chiếc to nhất từ dưới đáy chồng bánh, mó tay vào hầu hết những chiếc bánh khác trong lúc rút nó ra, thả phịch nó vào một chiếc đĩa rồi ngồi xuống cạnh tôi với vẻ thỏa mãn không giấu giếm. “Dịch vào nào,” cậu nói. “Tôi có bỏ lỡ điều gì không?”
Ông già tròn mắt. “Cậu Lockwood, đây là một cuộc bàn bạc quan trọng! Người của cậu nên đợi ở bên ngoài.”
“Dạ, thực ra cậu ấy không phải người phục vụ, thưa ngài. Đây là George Cubbins. Cậu ấy làm việc cùng cháu.”
Ông Fairfax dò xét nhìn George trong khi cậu còn đang bận rộn liếm mứt trên những ngón tay. “Tôi hiểu rồi... Hừm, thế thì tôi không nên chậm trễ thêm nữa.” Ông ta thò một tay vào trong túi áo khoác và lóng ngóng lục lọi trong đó. “Hãy xem cái này.” Ông ta thảy một tấm ảnh nhàu nhĩ lên mặt bàn.
Một ngôi nhà. Không chỉ là một ngôi nhà bình thường: đó là một tòa dinh thự ở miền quê, được xây dựng trên một khoảnh đất rộng. Bức ảnh được chụp từ khoảng cách xa, ở phía bên này một bãi cỏ được cắt tỉa rất đẹp. Những rặng liễu và những luống hoa trải dài bên rìa bãi cỏ, và có lẽ còn có một cái hồ, nhưng tòa nhà ở phía xa kia án ngữ tất cả - một khối cao, sẫm màu nhiều tầng. Ta có thể nhìn thấy những hàng cột và cầu thang chính uốn lượn, và vô số những ô cửa sổ hẹp được sắp đặt chẳng theo quy tắc nào, nhưng tuổi chính xác và bản chất của tòa nhà thì rất khó đoán. Bức ảnh dường như được chụp từ lúc rất sớm hoặc vào lúc rất muộn. Mặt trời đã ở đâu đó phía sau tòa nhà, và những cái bóng dài đen đúa của rất nhiều những ống khói cổ xưa vươn ra trên bãi cỏ như những ngón tay muốn túm lấy thứ gì đó.
“Dinh thự Combe Carey,” ông Fairfax nói, uốn lưỡi phát âm từng chữ. “Ở Berkshire, ngay phía Tây London. Các cô cậu đã nghe nói về nó chưa?”
Chúng tôi lắc đầu. Chưa đứa nào trong chúng tôi từng nghe tới.
“Không, nó không hề nổi tiếng, nhưng có lẽ nó là tư dinh bị ám kinh khủng nhất nước Anh. Tôi tin rằng nó cũng có thể là dinh thự chết chóc nhất nữa. Theo hiểu biết có hạn của tôi, bốn chủ sở hữu trước đây của bất động sản này đã chết tại đó do những ma hình của nó. Cũng có rất nhiều người hầu, khách khứa và những người khác đã sợ đến chết, hoặc bị ma chạm, hoặc vì những nguyên do khác mà chết ở trong tòa nhà hoặc trên mảnh đất này...” Ông ta khẽ cười một cái khô khốc. “Hừm, danh sách thì còn dài. Trên thực tế, nơi đó đã bị đóng cửa ba mươi năm trước sau một vụ ghê gớm kiểu như thế, và đã không được mở cửa trở lại cho tới tận gần đây, khi nó trở thành sở hữu của tôi.”
“Ngài sống ở đó ạ?” tôi hỏi.
Mái đầu nghiêng nghiêng, đôi mắt sẫm lấp láy nhìn tôi. “Nó không phải tài sản duy nhất của tôi, nếu đó là điều cô muốn hỏi. Tôi thi thoảng tới thăm nơi này. Tòa dinh thự đã rất lâu đời rồi. Nguồn gốc của nó là một tu viện, được thành lập bởi một nhóm các tu sĩ ly khai khỏi một tu viện khác ở vùng đó. Những viên đá đặt ở trung tâm của Chái Tây đã có từ giai đoạn đó. Sau đó các lãnh chúa địa phương đã luân phiên sở hữu nó, xây dựng lại và sửa chữa các phế tích, trước khi nó có diện mạo như hiện tại vào khoảng thế kỷ 18. Về mặt kiến trúc nó là một mớ hỗn tạp kỳ quặc - những lối đi chẳng dẫn đi đâu cả hay lặp lại chính chúng, cách thay đổi độ cao kỳ quặc... Nhưng liên quan đến vấn đề chúng ta đang bàn, tòa dinh thự đã luôn mang tiếng xấu về điềm gở. Những câu chuyện về Khách ở đó đã xuất hiện từ nhiều thế kỷ trước rồi. Nói tóm lại, nó là một trong số những nơi mà hiện tượng ma ám đã hiện diện rất lâu trước khi Vấn đề bùng phát. Người ta nói rằng...”
“Có phải có người đang nhìn từ trong ra không ạ?” George đột ngột hỏi. Cậu đã nghiên cứu kỹ càng bức ảnh trong khi ông già nói chuyện, đăm chiêu săm soi nó qua cặp mắt kính dày cộp tròn xoe. Giờ cậu nhặt nó lên, và dùng một ngón tay mập mạp, chỉ vào một chấm trên bức tường chính của ngôi nhà. Lockwood và tôi cúi sát người lại, nhăn trán. Cao cao phía bên trái của cổng vào, một vết khía hình tam giác cho thấy sự hiện diện của một ô cửa sổ hẹp. Có một vết mờ màu xám nhạt bên trong vết khía đó, mờ đến mức gần như không thể nhìn thấy.
“À, cậu cũng nhận thấy cái đó hả?” ông Fairfax nói. “Đúng vậy, trông giống một bóng người, phải không? Đứng ngay ở bên trong. Điều gây tò mò là, bức ảnh này được chụp vài tháng trước khi tôi tiếp quản bất động sản này. Ngôi nhà đã bị đóng cửa. Không có ai sống ở đó cả.”
Ông ta nhấp một ngụm trà, đôi mắt đen hấp háy. Một lần nữa, tôi nghĩ tôi đã dò thấy nét hài hước trong tính cách của ông ta, như thể ông ta thấy một niềm vui thú nào đó từ vết mờ kia và những ẩn ý của nó.
“Bức ảnh này được chụp vào lúc nào ạ?” tôi hỏi.
“Lúc sắp hoàng hôn. Mặt trời đang lặn, như các cô cậu có thể thấy đấy.”
Nãy giờ mặt Lockwood luôn ánh lên niềm phấn khích bị đè nén hiếm thấy. Cậu khom người chúi về phía trước, hai khuỷu tay xương xẩu chống lên trên hai đầu gối, hai tay chắp vào nhau, từng thớ thịt đều căng lên niềm thích thú. “Ngài hãy nói với chúng cháu về hiện tượng ở đó đi,” cậu nói. “Ý cháu là chúng đã hiện hồn như thế nào.”
Ông Fairfax đặc cốc của mình xuống bàn và ngồi ngả ra sau thở dài, một bàn tay to lớn nắm lấy chiếc gậy chống đầu bịt sắt; tay kia phe phẩy khi ông ta nói. “Tôi là một lão già. Tôi chẳng thể tự mình nhìn thấy các ma hình nữa, và theo quy luật chung, tôi cũng chẳng cảm thấy được chúng. Nhưng cái vẻ độc địa của ngôi nhà này thì rất hiển hiện kể cả với tôi. Tôi cảm thấy nó ngay khi tôi bước qua cửa, tôi nếm thấy nó trong miệng mình. Đó là một thứ không khí bệnh hoạn, cậu Lockwood ạ, nó làm cho linh hồn ta cạn kiệt. Nói cụ thể...” Ông ta dựa người một chút vào cây gậy, khẽ điều chỉnh tư thế như thể xương khớp đau nhức. “Hừm, có rất nhiều câu chuyện. Chúng ta có thể hỏi quản gia Bert Starkins; ông ấy dường như biết tất cả những câu chuyện đó. Nhưng hiển nhiên hai câu chuyện nổi tiếng khắp vùng - những vụ ma ám chủ chốt, các cô cậu biết đấy - có liên quan tới Căn Phòng Đỏ và Cầu Thang Gào Thét.”
Không gian lặng phắt, chỉ đột ngột bị phá vỡ bởi tiếng ùng ục lớn phát ra từ bụng George. Nó không đủ để làm vữa từ trần nhà rơi xuống, nhưng cũng gần như thế.
“Cháu xin lỗi,” cậu vui vẻ nói. “Đói quá. Cháu nghĩ cháu sẽ ăn thêm một chiếc bánh rán nữa, mọi người không phiền chứ. Có ai lấy thêm không nào?” Chẳng ai buồn để ý tới cậu. Cậu với ra chiếc đĩa.
“Căn Phòng Đỏ ư?” tôi hỏi.
“Cầu Thang Gào Thét ư?” Lockwood dịch ra phía trước trên ghế của mình. “Ngài Fairfax, xin hãy kể thêm cho chúng cháu đi.”
“Tôi rất vui khi thấy các cô cậu hứng thú đến vậy,” ông già nói. “Tôi có thể thấy việc tôi đánh giá cao các cô cậu là đúng đắn. Hừm, Căn Phòng Đỏ là một phòng ngủ trên tầng hai ở Chái Tây của tòa nhà. Ít nhất nó đã từng được dùng làm phòng ngủ. Bây giờ thì không. Bây giờ nó hoàn toàn trống không. Đó là một trong những nơi mà sự hiện diện của thế lực siêu nhiên mạnh mẽ tới độ gieo thảm họa cho tất cả những người tới thăm nó. Không ai có thể ở đó qua đêm mà còn sống sót - hoặc ít nhất người ta đồn như vậy.”
“Ngài đã từng đến đó chưa ạ?” Lockwood hỏi.
“Tôi đã từng nhìn vào đó. Ban ngày, tất nhiên rồi.”
“Và không khí ở đó...?”
“Nặng nề, cậu Lockwood ạ. Nặng một vẻ tà ác.” Ông lão ngật đầu ra sau, đoạn nhìn xuống chúng tôi qua chiếc mũi khoằm to tướng. “Và tôi có lý do hợp lý để tin vào năng lượng của căn phòng này, lát nữa tôi sẽ nói với các cô cậu sau. Và rồi có vụ Cầu Thang Gào Thét. Đối với tôi, đây còn là câu chuyện bí ẩn hơn. Đoạn cầu thang ấy dẫn từ phòng trưng bày dài, ở tầng một, lên tới chiếu nghỉ. Nó được làm bằng đá và đã rất lâu đời rồi. Bản thân tôi chưa từng trải qua bất cứ cảm giác xấu nào trên những bậc thang đó, và tôi không thấy có bất cứ ai từng cảm thấy thế. Nhưng chuyện kể rằng rất lâu trước đây người ta đã chứng kiến những nỗi kinh sợ khủng khiếp, và rằng linh hồn của những người có liên quan đã bị nhốt ở trong đó. Vào những lúc nhất định, có lẽ khi năng lượng của những Khách đó đạt đỉnh điểm, có lẽ khi chúng cảm thấy sự hiện diện của một nạn nhân mới, ta có thể nghe thấy tiếng hú hét điên cuồng của chúng. Nó phát ra từ chính những bậc thang.
Lockwood nói khẽ. “Chính chiếc cầu thang gào thét sao?”
“Có vẻ thế. Tôi thì chưa từng nghe thấy.”
“Về Căn Phòng Đỏ...” George đang ăn nốt chiếc bánh rán của mình; cậu dừng lại và nuốt. “Ngài nói nó ở tầng hai sao? Có phải nó cùng tầng với khung cửa sổ trong bức ảnh không ạ?”
“Đúng vậy... Tôi nghĩ nó ở khoảng chừng đó. Phiền cậu không làm đường vương ra bức ảnh được chứ? Tôi không có bức khác đâu.”
“Cháu xin lỗi.”
“Chuyện này thật thú vị,” Lockwood nói. “Từ những điều ngài nói, có nhiều hơn một Khách trong tòa nhà này. Nhiều hơn một Nguồn. Nói cách khác là cả một cụm ma. Ngài tin điều đó là thực chứ?”
“Chắc chắn rồi,” ông Fairfax nói. “Tôi có thể cảm thấy chúng.”
“Vâng, nhưng chuyện bắt đầu như thế nào? Hẳn phải có một sự kiện mấu chốt nào đó, một tấn thảm kịch chủ chốt nào đó đã khởi nguồn cho tất cả... Nó đặt ra câu hỏi - Khách nào là đầu tiên?” Lockwood gõ những đầu ngón tay vào nhau. “Bây giờ ngôi nhà trống không chứ ạ?”
“Khu Chái Tây thì chắc chắn là trống không, vì đó là nơi tập trung các mối nguy hiểm. Người của tôi, ông Starkins, đã coi sóc ngôi nhà trong nhiều năm. Ông ấy sống ở một ngôi nhà gần đó.”
“Còn ngài thì ở đâu khi ngài tới thăm nơi đó?”
“Tôi có một khu ở Chái Đông, nơi đó khá hiện đại. Nó có cổng vào riêng, và cách biệt với khu vực chính của tòa nhà bằng những cánh cửa sắt ở tất cả các tầng. Tôi đã tự mình lắp đặt chúng, cùng với tất cả những thứ phòng vệ tốt nhất có thể, và giấc ngủ của tôi chưa từng bị quấy rầy.” Tói lượt ông già nhìn tất cả chúng tôi chằm chằm. “Tôi không phải kẻ nhát gan, nhưng tôi sẽ không vì bất cứ duyên cớ nào mà ngủ đêm một mình ở chái nhà cũ của dinh thự Combe Carey. Tuy vậy,” - ông ta âu yếm lần ngón tay trên con chó bun bằng sắt - “đó chính là điều tôi muốn các cô cậu làm.”
Tim tôi giật thót. Tôi chỉnh trang một chút chiếc váy của mình, nhưng ngoài ra thì vẫn ngồi bất động. Mắt Lockwood sáng rực lên. George, vẫn như mọi khi, không biểu lộ cảm xúc gì ra mặt; cậu chầm chậm tháo kính và lau mặt kính lên vạt áo trước. Chúng tôi chờ đợi.
“Các cô cậu không phải những người đầu tiên thử sức đâu,” ông Fairfax tiếp tục. “Những câu hỏi mà cậu Lockwood vừa mới đặt ra cũng đã nảy ra trong trí óc của người chủ trước. Ba mươi năm trước ông ta đã quyết định điều tra, và thuê một đội nhỏ từ công ty thám tử Fittes - một cậu thiếu niên, một cô gái và một giám sát viên trưởng thành của họ - để tiến hành khảo sát sơ bộ. Họ đồng ý ở qua đêm trong ngôi nhà, tập trung sự chú ý vào nơi được gọi là Căn Phòng Đỏ. Hừm, họ đã tuân theo những quy trình chuẩn. Cánh cửa chính của ngôi nhà được để mở không khóa để họ có lối thoát dễ dàng. Họ lắp một đường điện thoại nội bộ ở chính Căn Phòng Đỏ; nó được kết nối với điện thoại ở nhà Bert Starkins, để kêu gọi sự giúp đỡ khi cần thiết. Tất cả bọn họ đều là những thám tử có nhiều kinh nghiệm. Người chủ nhà đã để họ ở lại đó lúc hoàng hôn. Một vài giờ sau, khi đi ngủ, ông Starkins nhìn thấy ánh đèn pin điềm tĩnh rọi vào các cửa sổ các tầng trên. Quãng nửa đêm điện thoại của ông quản gia bắt đầu đổ chuông. Ông ấy bốc điện thoại: đó là người giám sát. Ông ta nói rằng đã bắt đầu có một vài hiện tượng lạ, và rằng ông ta muốn kiểm tra xem kết nối điện thoại có hoạt động tốt không. Ngoài ra tất cả mọi thứ đều ổn. Ông ta khá bình tĩnh. Ông ta gác máy, và ông Starkins lên giường đi ngủ. Điện thoại không đổ chuông trong đêm đó nữa. Vào buổi sáng, khi Starkins và người chủ nhà gặp nhau ở bậc thềm trước, đội của Fittes đã không xuất hiện. Lúc bảy rưỡi họ bước vào trong nhà. Ở đó im lặng như tờ; khi họ gọi không có ai đáp lại. Tất nhiên họ biết mình phải đi đến đâu; khi họ mở cánh cửa vào Căn Phòng Đỏ, họ tìm thấy người giám sát nằm úp mặt xuống đất bên cạnh điện thoại. Ông ta bị ma chạm và đã chết rồi. Cô con gái thì ở phía đằng kia căn phòng, cuộn người cạnh một cửa sổ. Tôi nói cuộn người: cô ấy bị cuộn chặt tới nỗi họ không thể gỡ cô ấy ra để nhìn mặt hoặc kiểm tra mạch của cô ấy. Chuyện đó cũng chẳng quan trọng gì lắm. Tất nhiên là cô ấy cũng đã chết cứng rồi. Tôi rất tiếc khi nói rằng người ta đã không biết được điều gì xảy ra với cậu con trai.”
“Ý ông là họ không thể biết được cậu ấy chết như thế nào ư?” George hỏi.
“Ý tôi là họ không tìm được cậu ấy.”
“Xin lỗi ngài,” Lockwood nói, “nhưng khi người đàn ông đó gọi điện vào lúc nửa đêm, ông ta có nói hiện tượng mà họ đang trải qua là gì không?”
“Không. Ông ta không nói.” Ông Fairfax lấy một chiếc đồng hồ quả quýt từ trong túi áo choàng và xem giờ rất nhanh. “Thời gian trôi nhanh quá. Mười lăm phút nữa tôi phải đến Pimlico! Tốt lắm, vào thẳng vấn đề nhé. Như tôi đã nói đấy, công ty thám tử của các cô cậu đã thu hút được sự chú ý của tôi; tôi rất ngạc nhiên và hứng thú trước khả năng của các cô cậu. Bởi thế: đây là lời đề nghị của tôi cho các cô cậu. Tôi sẽ chuẩn bị trả khoản phí tổn trong vụ đường Sheen cho các cô cậu. Như thế những hậu quả do vụ cháy gây ra sẽ được khắc phục, và DEPRAC sẽ im miệng. Để giành được 60.000 bảng, các cô cậu chỉ cần dồn hết sức cho vụ điều tra này. Thực ra tôi sẽ chuyển tiền vào tài khoản của các cô cậu ngay khi các cô cậu đặt chân tới tòa dinh thự. Thêm vào đó, nếu các cô cậu làm sáng tỏ được những bí ẩn của nó, và xác định được Nguồn trong đó, tôi sẽ trả thêm cho các cô cậu một khoản hậu hĩnh. Giá tính tiền chuẩn của các cô cậu là bao nhiêu?”
Lockwood đưa ra một con số.
“Tôi sẽ trả gấp đôi thế. Combe Carey, tôi có thể đảm bảo với các cô cậu, là không thể xem nhẹ được đâu.” Ông Fairfax nắm lấy chiếc đầu chó và lê chân lên trước, chuẩn bị đứng dậy. “Còn một điều nữa: khi tôi cần điều gì, tôi hành động rất mau chóng. Tôi muốn hai ngày nữa các cô cậu đến đó.”
“Hai ngày ư?” George nói. “Nhưng chúng cháu cần thời gian để...”
“Để tôi nói luôn với các cô cậu thế này,” ông Fairfax nói, “đề nghị đó của tôi không phải để thương lượng. Các cô cậu không ở vị trí có thể đặt điều kiện. Ồ, tôi còn có một quy định nữa. Không được mang pháo hay thiết bị nổ vào tòa nhà đó, vì ở đó có chứa rất nhiều cổ vật và đồ đạc có giá trị. Không phải tôi không tin các cô cậu, nhưng thứ lỗi cho tôi” - những chiếc răng bọc bạc sáng lấp lánh - “tôi không muốn gia sản của tôi bị thiêu rụi.” Tiếng kẽo kẹt vang lên từ chiếc ghế; ông ta đứng dậy, cao lừng lững bên cạnh chúng tôi trên đôi chân gầy guộc như thể một con côn trùng khổng lồ. “Tốt lắm. Tất nhiên tôi không yêu cầu các cô cậu phải đưa ra quyết định ngay lúc này. Hãy cho tôi biết vào cuối ngày. Có số điện thoại thư ký của tôi trên danh thiếp này.”
Tôi ngồi trở lại vào ghế xô pha, thở dốc. Chắc chắn ông ta sẽ không có được câu trả lời ngay lập tức rồi. Thám tử của Fittes là những người giỏi nhất, tất cả chúng tôi đều biết điều đó. Và ba người của họ đã chết ở dinh thự Combe Carey! Theo họ vào đó mà không có thời gian chuẩn bị thỏa đáng thì cũng gần như mất trí vậy. Căn Phòng Đỏ ư? Cầu Thang Gào Thét ư? Đúng, số tiền mà ông Fairfax đề nghị có thể cứu được công ty của chúng tôi, nhưng có ích gì nếu chúng tôi mất mạng? Không nghi ngờ gì nữa: chúng tôi cần thảo luận chuyện này một cách vô cùng kỹ càng.
“Cảm ơn ngài rất nhiều,” Lockwood nói, “nhưng cháu có thể trả lời ngài luôn. Chắc chắn chúng cháu sẽ nhận vụ này.” Cậu đứng dậy và chìa tay ra. “Chúng cháu sẽ sắp xếp để đến đó ngay khi có thể. Chiều Chủ nhật có được không ạ?”