Đây chắc hẳn là mùi ê-te, Lã An nghĩ. Nó làm anh ngây ngây và hai mắt có cảm giác nhập nhèm, ngái ngủ. Anh ngẩng đầu nhìn sang khu đại sứ quán thứ 2. Anh đã uống quá nhiều rượu. Đây là lần đầu tiên anh uống rượu một mình nhiều đến vậy. Những tòa cao ốc san sát, đứng sừng sững bên đường cao tốc dường như đang tiến áp sát vào anh. Anh chợt cảm thấy chao đảo, hoang mang. Một cảm giác muốn đổ sụp bao trùm lên. Anh đứng bên lề đường Kinh Thành Hào nhìn về hướng những ánh đèn hoa lệ. Trong đêm đen, khu vực này như một ốc đảo, có bao nhiêu người đang vui vẻ ăn mừng trên đó! Bóng đàn ông, đàn bà mất hút trong những thương xá cao cấp và những chiếc xe hơi hàng hiệu đắt tiền. Tiếng nói, tiếng cười khả ố của họ cùng ánh đèn hoa lệ tạo cho thành phố nhà cửa san sát này một cảnh tượng vừa cuốn hút vừa chán chường. Trong khoảnh khắc ấy, Lã An bỗng thấy mình như một con chim nhỏ nhoi trong rừng rậm, một con chim kỳ lạ, có lẽ nó còn què một chân, giống như một con hạc đứng bên lề đường nhìn ra phố thị xa xa. Lã An phát hiện ra rằng mỗi khi mệt mỏi chán chường, anh đều đến đây. Đó là khu vực quốc tế hóa nhất của Bắc Kinh vào thập niên 90. Nó giống như bộ dụng cụ làm bếp bằng kim loại mới toanh được đặt trong một gian bếp cũ kỹ, nó làm anh say mê. Nhưng anh biết, anh không thể nào chen chân vào được với đám người có cuộc sống hào hoa nơi đây. Đó là một cuộc sống khác hẳn. Đêm thành thị tối đen như mực, anh cảm thấy thật cô đơn. Nỗi cô đơn như bị một loại cá biết bay từ trên không trung bay đến cắn vào cổ họng. Nó làm anh khổ sở và ngột ngạt. Nơi kia là khu đại sứ quán thứ hai sao? Nó được canh phòng cẩn mật, trông thật lạnh lẽo. Trước cửa đại sứ quán có một hàng vệ binh bồng súng đứng sát nhau. Anh vừa đi bộ qua cả khu sứ quán thứ hai. Anh liên tục bắt gặp ánh mắt của cảnh binh, chúng làm anh cảm thấy nhồn nhột, lo lắng và không vui. Chúng khiến anh thấy mình chỉ là một kẻ nhập cư. Vừa ra khỏi khu đại sứ quán thứ hai, ánh đèn đường của chốn phồn hoa đô thị hắt lên khuôn mặt làm anh cảm thấy có một chút gì đó vui vui. Nơi đây, chỗ nào cũng gặp những con người đầy đam mê. Họ có vẻ thích hợp với các loại tiết tấu xập xình, sôi nổi và điên cuồng trong các quán bar. “Fanny, anh muốn sờ mông em xem có gì không nhé?” - Anh cười điên dại – “Có thể em lại mọc thêm một cái đuôi dài thì sao”. Fanny là người bạn gái đầu tiên của anh, chính cô ấy đã làm cho anh biến thành kẻ điên loạn đến thế này. Fanny là một cô gái rất thích hư vinh. Nhưng trong thời gian học đại học, Lã An lại rất thích cô ấy. Sau khi tốt nghiệp đại học, họ rẽ sang những con đường hoàn toàn khác nhau, người Nam kẻ Bắc. Kẻ tất bật ở Bắc Kinh, kẻ bôn ba ở Thâm Quyến, cùng với đám dân tứ xứ đổ về đây để vắt kiệt máu thịt và sức lực của mình. Hai thành phố này như hai con cá mập, chúng há mõm ngốn hết tất cả các loại thịt, nuốt trôi mọi nhân tính một cách ngon lành. Ở Bắc Kinh, anh nghe nói Thâm Quyến có người bỏ ra 100.000 tệ bao Fanny ba tháng. Một năm sau, cô ấy lấy một nhà đầu tư quỹ tín dụng. Có lẽ đó chính là cuộc sống đương đại. Dường như có một bàn tay khổng lồ nào đó đã làm đảo lộn mọi thứ, vắt kiệt sức bạn. Bây giờ trước mắt anh, đám người đó chỉ là bèo bọt, giữa anh và hết thảy mọi người đều có một dòng sông ngăn cách, dòng sông này đã cuốn trôi rất nhiều thứ mà anh đã cố công gìn giữ trong mấy năm trời. Có lẽ chỉ còn sót lại một ít tình cảm ấm áp trên môi anh mà thôi, anh nghĩ.
Thật ra, Lã An đang bị thất tình lần thứ hai. Bạn gái của anh là một người mẫu tốt nghiệp học viện thời trang, cô ấy cao hơn anh một chút, vì thế anh cảm thấy được tựa đầu vào ngực cô ấy chính là lúc anh được thư giãn tốt nhất. Họ vì nghèo nên mới đến với nhau, rồi chia tay nhau cũng vì cố tìm cách để kiếm thêm chút tiền. Đương nhiên không chỉ là vấn đề tiền bạc, nhưng không biết tại sao họ cứ ngày càng xa nhau hơn. Lần chia tay này làm cho Lã An cảm nhận được nỗi đau đang thấm dần. Sau khi bạn gái anh thu dọn mọi đồ đạc và rời khỏi nhà, anh bỗng như cảm thấy bốn bức tường xung quanh đang sắp sửa đè ụp lên người mình. Anh vốn không thể chịu nổi cảm giác nằm lì ở nhà, nhất là khi phải nằm một mình lạnh lẽo trên chiếc giường đôi trống trơn. Anh trở nên hoang mang và lúng túng. Thế là anh lập tức đi siêu thị mua về một người mẫu bằng nhựa, đặt nó bên cạnh mình, như thế sẽ không còn cảm giác bốn bức tường xung quanh sắp đổ sập xuống người nữa. Ngày nào anh cũng ngủ cùng với cô người mẫu bằng nhựa ấy. Anh cảm thấy yên tâm hơn. Có lẽ một buổi sáng nào đó thức dậy, anh sẽ phát hiện mình cũng biến thành một hình nộm bằng nhựa, một tay giơ ra giữa không gian, một chân đá ra phía trước, nụ cười bị đông cứng lại trên gương mặt. Anh sẽ không nói được, cũng không cử động được. Hơn nữa, sẽ không có ai đến tìm anh nữa, bởi vì họ không có chìa khóa nhà. Cứ như thế, người mẫu bằng nhựa là anh nằm cùng một người mẫu bằng nhựa khác ở đó, một thế kỷ, rồi lại một thế kỷ nữa trôi qua...
Anh đi men theo đường cái, nhanh chân rảo bước đến khách sạn Á Thái tham dự một hoạt động mừng năm mới. Khách sạn này tọa lạc tại một tòa nhà lớn gồm khu giải trí, hộp đêm, trung tâm mua bán và các quán rượu trên con đường đầy ánh đèn neon. Trước đây không lâu, anh cùng một người khách Hàn Quốc đã từng đến một nhà hàng trong khu vực này dùng cơm một lần. Anh còn nhớ món ăn đắt nhất của nhà hàng đó là món bào ngư, món này chỉ có 6 con bào ngư mà giá hết 5.600 tệ. Hôm đó họ còn uống một bình rượu “nhân đầu mã” giá 12.000 tệ. Anh cảm thấy đầu mình hơi đau. Anh thấy mọi người xung quanh giống như những nhân vật dưới ngòi bút của một họa sỹ thuộc chủ nghĩa siêu thực. Họ như những linh hồn đang bơi lội dưới ánh trăng. Lúc đó anh chợt nhìn thấy trước mặt mình là một người đang nằm trên nắp cống phần đường dành cho người đi bộ. Chắc là một kẻ lang thang trên phố đây, anh nghĩ. Anh đi tới, lấy 10 đồng trong túi áo ra và gọi: “Này, dậy đi, tôi cho ông 10 tệ đây, tôi bảo ông tỉnh dậy đi!”. Người ấy khẽ cục cựa như một con rùa biển rồi từ từ tỉnh dậy. Đó là một phụ nữ khoảng 50 tuổi, khuôn mặt đen đúa bẩn thỉu, duy chỉ có đôi mắt trống rỗng là thứ duy nhất sáng lên trên gương mặt bà ta. Bà ta lạnh lùng nhìn anh: “Không, tôi không cần, tôi không cần” - “Bà cầm lấy đi, cầm đi mà”,Lã An đưa tiền cho bà ta, anh cảm thấy trong lòng đầy thương xót. Thoáng chốc anh thấy bà như mẹ của anh, một chút hồi ức nào đó của thời thơ ấu đột nhiên sống lại, nó khiến anh càng cố cúi xuống: “Cầm đi mà! Cầm đi mà, ngày mai cô mua cái gì đó mà ăn” - “Không, không cần, tôi không cần, tôi không cần, tôi không cần...”, Bà ta đột nhiên cứ khăng khăng từ chối, giọng nói có vẻ phẫn nộ. Lúc đó anh hiểu rằng có lẽ tự trọng là thứ còn sót lại trong lòng bà, và anh đã dùng 10 đồng phá vỡ đi cái gọi là lòng tự trọng đó. Anh nhìn ánh mắt kinh sợ của bà, bàn tay anh đã tê cứng. Người phụ nữ đó lại vùi đầu vào chiếc mũ bông, không nhúc nhích nữa. Anh đứng thẳng người lên, mùi thối từ cống xông lên làm anh muốn nôn. Anh nhìn ra phía trước, có những người đang tiêu tiền như rác, lại có những người qua đêm nhờ vào hơi nóng từ cái mùi hôi thối bốc lên từ miệng cống. Đây chính là tính đặc trưng thứ hai của khu vực này, nét đặc trưng thứ hai của toàn thành phố.
Anh rảo bước thật nhanh đến khách sạn Á Thái. Thành phố này có quá nhiều người nhập cư, anh cũng là một trong số họ. Với thành phố này, anh đúng là một kẻ không mời mà đến, anh thầm nghĩ. Tất nhiên, anh đã tự bươn chải để kiếm sống bằng chính nỗ lực của mình. Đi trong cái gió lạnh căm căm của mùa đông, anh không thể mở miệng hát được. Anh nhớ mùa hè, mùa hè là mùa kiếm tiền, nhưng tiếc là mùa hè còn lâu mới đến. Anh không có cách nào tưởng tượng ra sự náo nhiệt và mời gọi của mùa hè. Bước qua cánh cửa tự động, anh vào đến đại sảnh của khách sạn Á Thái. Hơi ấm của mùa hè lập tức phà vào mặt anh.
Đây là một hoạt động liên hoan mừng năm mới do bộ phận quan hệ của khách sạn Á Thái tổ chức. Bộ phận lễ tân của khách sạn này và các đơn vị truyền thông có quan hệ rất mật thiết. Vì thế cứ đến cuối mỗi năm, họ đều tổ chức một buổi chúc mừng long trọng, có tất cả ký giả của các đơn vị truyền thông ở Bắc Kinh tham dự. Lã An không thấy thoải mái cho lắm khi phải chen chúc, hòa mình vào cái đám người đó. Ba năm trước, lúc tốt nghiệp đại học, nhà trường phân công anh về làm việc tại một xưởng hóa chất ở vùng ngoại ô Bắc Kinh. Cách đây không lâu, anh được tuyển vào làm ở văn phòng tòa soạn báo “Phục Vụ Cuộc Sống”. Từ một cán bộ tuyên truyền trở thành ký giả, anh rất phấn chấn. Nhưng cuộc sống bận rộn, tốc độ khẩn trương khiến anh rất mệt mỏi. Chỉ trong khoảng thời gian mấy tháng, tất cả những cảm giác mới mẻ trong anh đã vơi sạch. Cảm giác mệt mỏi bao trùm lên anh. Anh tìm chỗ ngồi xuống, đó là một cái bàn gỗ có phủ vải carô trắng đỏ xen kẽ trong phòng ăn kiểu Philippin của khách sạn. Buổi tiệc sắp bắt đầu. Cô Lynda vừa cao vừa đẹp ở bộ phận lễ tân nhiệt tình chào hỏi anh: “Hôm nay có rút thăm trúng thưởng, hy vọng anh trúng được một giải lớn”. Anh cười với cô và bắt tay ông Burk, một người Australia, tổng giám đốc khách sạn rồi ngồi xuống. Trong số hơn 30 kí giả tham dự buổi tiệc, anh chỉ quen biết một vài người. Anh và họ khẽ đưa mắt chào nhau, lơ đãng gật đầu. Anh chán ghét loại hoạt động này và cảm thấy toàn thế giới dường như được tạo thành bởi một chuỗi dây xích thực vật, mỗi người là một mắt xích trong đó, cái này tiêu hóa cái kia. Thế giới chỉ hoàn toàn là một lũ động vật ruột khoang, con người tiêu hóa lẫn nhau, rồi lợi dụng nhiệt lượng của đối phương để sinh tồn, chết đi và phát tán nhiệt lượng. Anh kinh ngạc về sự chán chường, uể oải và sa sút của mình. Có lẽ tất cả đều do công việc đã làm anh trở nên như thế, anh nghĩ. Mỗi ngày anh đều quen biết thêm người mới, trao đổi danh thiếp, vài ngày sau trên bàn đã có một chồng lớn, nhưng anh thì không nhớ nổi một người nào, gương mặt của họ cứ lẫn lộn, chồng chéo nhau trong đầu anh. Điều đó khiến anh trầm ngâm và buồn. Tiếng cô Lynda tuyên bố buổi tiệc bắt đầu. Anh gom hết những suy nghĩ của mình để tập trung vào bàn tiệc. Anh dùng nĩa cắt một lát thịt bò nấu tiêu đen, anh rất thích ăn món này. Đúng lúc đó, anh bỗng nghe một giọng nhẹ nhàng, thánh thót của một cô gái nói với anh: “Chào anh, anh nếm thử loại bánh ngọt đó giùm em xem nó như thế nào? Em không biết có nên ăn nó hay không”.
Lã An ngẩng đầu lên. Cô ấy ngồi đối diện và đang mở to đôi mắt nhìn anh. Cô ấy rất đẹp, một vẻ đẹp hoàn mỹ. Mỗi đường nét trên gương mặt cô đều có thể làm cho Lã An phát run lên. Đó chính là một thứ phản ứng rất bản năng trước cái đẹp, Lã An có cảm giác như trúng phải tiếng sét ái tình. Anh nhìn cô và hỏi: “Em bảo anh nếm thử loại bánh nào?” - “Em không biết loại bánh nào ngon, nhưng em đang định giảm cân, em béo quá rồi”. Cô có vẻ buồn rầu.
“Ok”, Lã An tự nhiên trở nên nhiệt tình, anh lấy nĩa chọn một trong ba loại bánh trên cái dĩa bày trước mặt, đó là loại bánh có phủ một lớp bột ca cao. Anh đã nếm thử nó, dù bột ca cao khiến anh hơi bị nghẹn một tý, nhưng mùi vị rất ngon. Nó nóng ấm vừa miệng, mềm và xốp hơn bông, bỏ vào miệng là tan ra ngay. Đây có thể là loại bánh ngọt Italia ngon nhất, Lã An nghĩ. Anh tiếp tục nếm thử hai loại còn lại, phát hiện loại thứ nhất là ngon nhất. “Loại này ăn rất ngon, cô thử một miếng đi. Cô đâu có béo, quá lắm chỉ là đầy đặn thôi”. Anh nói với cô.
Nhưng không chờ anh nói hết câu, cô đã dùng nĩa lấy thêm một miếng bánh đó ăn rồi. Cô này ăn uống không được lịch thiệp cho lắm, hệt như một con quỷ đói. Chỉ loáng cái, cô ấy đã ngốn hết sáu miếng bánh ngọt trên dĩa. Lã An thật sự kinh ngạc, hầu hết khoảng thời gian còn lại, Lã An chỉ biết há hốc mồm tròn mắt ngạc nhiên. Cô ấy ăn ngon lành đến mức đáng kinh ngạc, như một cơn lốc cuốn trôi hết các loại bánh ngọt, trái cây, xà lách, thịt bò, cá xông khói, cá hồi chưng tương, bánh mì bơ, gà hấp dừa... loáng một cái, tất cả đều sạch trơn. Lã An chỉ biết ngẩn ngơ nhìn cô ăn lấy ăn để. Anh bưng luôn phần cá tai tượng nướng của mình đưa cho cô. Cô gái cảm ơn rồi vèo một cái, đánh sạch bay. Lã An vô cùng ngạc nhiên, con gái gì mà ăn thấy ớn! Anh chú ý đến nổi không hề để mắt đến người biểu diễn bài hát Philippin đi qua đi lại giữa các bàn ăn. Mãi cho đến khi cô Lynda mời mọi người qua phòng giải trí để tham gia rút thăm trúng thưởng, cô gái vẫn còn có vẻ luyến tiếc không muốn đi. Cô chậm chạp đưa khăn ăn lên lau miệng và nói: “Em vẫn chưa thấy no”. Cô tiếc nuối nhìn lại một lần nữa đống thức ăn bừa bộn trên bàn. Mọi người đều đã đứng lên. Anh thấy cô mặc một chiếc quần bò bạc màu, bên trên là chiếc áo len rất dài màu xám, một sự phối hợp thật nhẹ nhàng, khéo léo. Trong lúc cùng mọi người đi qua phòng giải trí, Lã An chìa tay ra bắt: “Tôi tên Lã An, phóng viên báo “Phục Vụ Đời Sống”. Còn cô ở báo nào? tôi chưa gặp cô bao giờ”... - “Em à? Anh đoán thử xem em làm gì?”.
“Cô là phóng viên báo “Trang sức Trung Quốc” phải không?”.
“Hey, ông anh đoán sai rồi. Em tên Dương Linh”, cô nhìn người bên cạnh, bí hiểm ghé sát tai anh nói: “Em bây giờ là một kẻ lông bông, em không có việc làm, hôm nay em đến ăn miễn phí, trước đây em là trợ lí đạo diễn của đài truyền hình, hôm rồi vừa bỏ việc xong”.
Lã An tưởng cô nói đùa, nhưng rồi anh phát hiện cô nói rất nghiêm túc, vừa bước đi, anh vừa nghiêng đầu hỏi: “Có thật là em đến để được ăn miễn phí không?”, Anh vẫn chưa hết ngạc nhiên.
“Thật mà” – cô gái trả lời - “đã hai ngày em không được ăn thịt rồi, em toàn phải ăn cơm không thôi. Hôm nay em đến đại sảnh khách sạn này chơi, bỗng nhiên nhìn thấy tấm bảng hướng dẫn viết “Phóng viên tham dự liên hoan mừng cuối năm xin mời vào trong”. Nghĩ lại, trên tay em có danh thiếp của Đoàn Cương, một người bạn làm ở báo “Thanh niên Bắc Kinh”. Thế là em trà trộn vào”. Cô ngừng lại một chút, tỏ vẻ rất đắc ý, rồi bỗng nhiên có vẻ buồn rầu: “Nhưng em ăn nhiều thế này, chắc mất phoọc đẹp quá, chắc chết em mất”. Vừa nói, cô vừa nhìn xuống đôi chân dài của mình. Lúc này Lã An thấy rất lạ, cô gái ấy đã mang lại một cái gì đó hoàn toàn mới mẻ. Đột nhiên như nghĩ ra điều gì, cô gái nói: “Anh sẽ không tố cáo em chứ? Em mạo danh mà”.
Lã An cười cười: “Không đâu, cô và tôi giống nhau, đều là đồ giả mạo”.
“Bây giờ chúng mình đi đâu?”, cô gái hơi lo lắng.
“Đi rút thăm trúng thưởng, có thể cô lại trúng được một giải nhất, giải nhất là một đêm nghỉ tại phòng tổng thống duy nhất của khách sạn này đấy” - Lã An nói. Họ đã đến phòng giải trí. Đó là một phòng khiêu vũ nhỏ, trên sân khấu đặt một máy quay số. Lynda thu tất cả danh thiếp của quan khách, Dương Linh cũng giao cho Lynda một tấm, đương nhiên lúc đó cô mang tên Đoàn Cương, đôi mắt vẫn dõi về phía Lã An. Người ta bắt đầu quay số. Anh cầm ly Cô nhắc ngồi đó xem họ quay số. Cô gái ngồi bên cạnh anh, họ đều im lặng. Tiết mục này một lần nữa khiến Lã An thấy nhạt nhẽo, họ quay số giải thưởng kỷ niệm trước. Ai cũng vui mừng hớn hở, trong số họ có người trúng được các vật phẩm của khách sạn. Cứ như thế, cuối cùng là giải nhất do Tổng giám đốc người Australia của khách sạn đích thân quay số. Ông ta lấy ra một tấm danh thiếp, đọc tên.
“Là anh đó, anh còn đang mơ màng cái gì thế! Lã An, anh đã trúng giải nhất rồi!” - Dương Linh đánh anh một cái làm Lã An bừng tỉnh. Anh đặt ly nước xuống, ngẩn ngơ đứng dậy, anh bước lên sân khấu nhận phần thưởng giải nhất buổi liên hoan: thẻ VIP, ở miễn phí một đêm phòng tổng thống. Lã An cảm thấy hơi buồn cười, sao lại là anh? Anh lập tức nghĩ đến ký giả mạo danh Dương Linh, anh đứng dưới ánh đèn sáng bừng giữa trung tâm sân khấu, nhìn Dương Linh trong bóng tối và ra hiệu bằng tay đầy ngụ ý, cô mỉm cười ngây ngất.
Anh và Dương Linh cùng bước ra ngoài. Buổi tiệc đã kết thúc, nó làm cho anh dường như trút bỏ được gánh nặng và sự mệt mỏi. Khi họ đến đại sảnh, Dương Linh đưa ra đề nghị: “Chúng ta đi uống cà phê đi?”, Lã An cảm thấy hơi đau đầu, chắc là do rượu, anh gật gật đầu nhận lời. Họ đến quán cà phê, chọn một chỗ ngồi gần cửa sổ ở khu vực không hút thuốc. Ở đó họ có thể nhìn thấy bãi cỏ xanh như ngọc dưới ánh đèn bên ngoài cửa sổ. Nơi ấy có thể là bãi cỏ mùa đông, anh nghĩ. “Nhưng mình đang ngửi thấy mùi hương mùa xuân thoang thoảng đâu đây”.
“Trông anh buồn lắm, anh có chuyện gì à?”, Dương Linh gọi hai ly cà phê đá xong thì đặt menu xuống và hỏi. “Tôi hả?” - Anh nhìn cô, có chút trầm lặng – “không có gì... tôi chỉ thất tình thôi”.
“Thất tình? Thật ra nó chỉ giống một chứng bệnh cảm mạo của người thành thị thôi, em cũng thất tình mấy lần rồi” - Cô nói - “Này, anh nói tấm thẻ ở miễn phí phòng tổng thống một đêm, anh định sử dụng nó như thế nào?”, cô ranh mãnh hỏi anh.
“Vứt thôi, tôi muốn vứt nó đi, sau đó về nhà ngủ”.
“Nếu vậy anh cho em đi. Thế giới này đúng là kẻ nghèo chết vì đói, người giàu chết vì no”. - Cô cười lên - “Thật bất công”.
“Được thôi”, Lã An không một chút do dự cầm tấm thẻ đưa ra: “Cho cô đấy”.
“Anh tặng em thật à?”. Cô mở to đôi mắt xinh đẹp nhìn anh. Có vẻ cô không tin lắm.
“Tất nhiên, nếu cô đúng là một người lang thang thì cứ xem như tôi tặng cô vậy” - Anh đứng lên, thở ra một tiếng - “Tôi về đây, sau này nếu có cơ hội sẽ gặp lại cô”. Anh đẩy ly cà phê đã hết ra định bước đi.
“Anh thất tình thật hả? Em thấy giống lắm, lúc này anh cần có một người bên cạnh, cần em ở bên trò chuyện với anh không?” – Cô nói, ánh mắt lộ một chút lo lắng.
“Không!” - Anh cười ngượng nghịu – “Tôi mua một người mẫu bằng nhựa để ngủ cùng. Nếu không, bốn bức tường sẽ ngã lên người tôi mất. Tôi không hẳn là cô đơn. Chúc cô may mắn”.
“Em thấy chúng ta cùng đến phòng tổng thống xem thử, nếu anh đồng ý, em có thể bầu bạn cùng anh một đêm. Em nghĩ anh thật sự rất cần người bên cạnh”. Ánh mắt cô sáng long lanh - “Thật mà”.
Anh nhìn cô. Ngẫm nghĩ 10 giây. “Ok”, anh gật đầu. Một anh phục vụ mặc bộ lễ phục đuôi tôm màu trắng dẫn đường, họ cùng nhau vào phòng tổng thống. Đây là phòng tổng thống duy nhất của khách sạn 5 sao, nó gần như chiếm hết cả tầng lầu. Khi tiếp tân mở cửa, mở đèn phòng khách, cả hai đều ngẩn người kinh ngạc. Phòng khách lớn đến nỗi, có thể chứa cả một dàn nhạc thính phòng đến biểu diễn. Chậu kiểng, đèn treo tường, đồ gia dụng và các loại thiết bị, tất cả đều ánh lên nét sang trọng. Dương Linh khẽ kêu lên một tiếng, cô bổ nhào ra, kéo rèm chống nắng nơi cửa sổ. Từ đó nhìn xuống cảnh đêm thành phố Bắc Kinh đẹp không tả xiết. Người phục vụ căn dặn vài điều cần chú ý, chúc họ ngủ ngon rồi xoay lưng rời khỏi phòng. “Tuyệt quá!”, Dương Linh vui mừng reo lên. Lã An kinh ngạc một lúc rồi định thần lại ngay. Anh cứ để mặc Dương Linh kéo tay đi xem hết phòng này đến phòng khác. Nào là phòng vệ sĩ, phòng thư kí, phòng đọc sách, phòng dành cho bác sĩ riêng, nhưng tất cả đều trống không. Tối nay tất cả các phòng này đều thuộc về họ. Phòng Tổng thống giống như một đội thuyền chiến, mỗi khoang một dáng vẻ khác nhau, đưa họ hết từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác. Hơn nữa, bây giờ họ giống như thuyền trưởng và thuyền phó. Dương Linh rất vui mừng, cuối cùng họ cũng tham quan xong toàn bộ căn phòng tổng thống, sau đó họ ngồi trên một bộ sô pha làm bằng da thật rất lớn trong phòng. Dương Linh than thở: “Xem ra cả đời em cũng không lấy được tổng thống rồi. Có thật là em chỉ được ở đây một đêm thôi sao? Em thất vọng quá”.
Lã An cảm thấy thật buồn cười. “Đương nhiên chỉ có một đêm thôi, chúng ta nói chuyện gì đây? Tôi vẫn muốn về, nhiều phòng như thế này làm tôi thấy cô đơn. Tôi thà ở nhà cùng với cô người nộm của tôi còn hơn”.
“Thế thì chúng ta nói về việc anh mua người nộm như thế nào đi, em thấy anh cũng khá thú vị. Em có thể gọi một chai rượu nho không? Em muốn trò chuyện với anh, anh không được về!”. Cô nhõng nhẽo.
“Tất nhiên là được, cô gọi rượu đi”, anh nói. Dương Linh lập tức điện cho quầy phục vụ. Cô còn dặn họ mang một hộp nước đá. Rượu nhanh chóng được mang tới, đó là một chai rượu đỏ của Australia. Anh nâng ly lên: “Vì cô có thể tiếp tục ăn miễn phí. Nào, cạn ly”. Anh nói và uống một hơi cạn hết ly rượu. Lòng anh nhói lên một nỗi đau, mình bị cái thành phố đáng nguyền rủa này đè ép đến nghẹt thở. “Mình nghe nhạc đi, căn phòng quá lớn nên sự im lìm càng gây khó chịu.” Dương Linh thở dài và nói.
Cô đi mở máy. Đó là một ca khúc nhạc đồng quê. Cả hai ngồi im lặng, không nói một lời nào, họ lắng nghe bài hát. Thật kỳ lạ, một bài hát đồng quê buồn như thể đã làm họ trầm ngâm. Họ cứ ngồi như thế, nghe hết bản nhạc đồng quê này đến bản nhạc khác, giây phút ấy sao mà tĩnh lặng đến thế. Một lúc sau, Lã An thấy Dương Linh nước mắt chảy dài. “Em khóc à?” - Anh có chút ngạc nhiên - “Em... sao em lại khóc?”.
“... Bởi vì em cứ sống lang bạt” - cô dường như hơi suy sụp, nhưng rồi rất nhanh, một nét rắn rỏi, kiên cường hiện ra trên gương mặt cô - “Nhưng không có gì đâu. Cảm ơn anh đã mời em đến đây. Đây có phải là đỉnh cao cuộc sống không anh?”. Nước mắt vẫn vương trên gương mặt, cô mỉm cười với anh, một nụ cười như cánh hoa lê còn vương những giọt nước mưa. Lã An như bị một nỗi xúc động xa xăm nào đó bủa vây. Cô lại rót cho anh thêm một ly, họ cởi mở hơn. Lã An càng uống nhiều, càng nói nhiều hơn. Không biết vì sao, hôm nay họ lại thân thiết với nhau thế. Anh không biết lý lịch cô ấy, không biết quá khứ của cô, thậm chí không biết cô ấy có thật là một người sống lang bạt hay không nữa. Nhưng trong ánh mắt, cả hai đều đầy vẻ cô đơn như nhau. Sau đó họ bắt đầu thay những ca khúc của Lạc Khắc Cơ. Họ theo điệu nhạc Rock & Roll vừa nhảy vừa lắc, giống hai tên lừa gạt trong truyện “Cái Áo Mới Của Hoàng Đế” đang thưởng thức niềm vui, thậm chí họ bắt đầu rượt đuổi nhau từ phòng này qua phòng khác. Dường như cả thế giới này là của họ, họ thật sự là chủ nhân của nơi này. Họ nhảy từ giường lên bàn, thậm chí Lã An còn phi qua một cái đèn bàn đặc biệt. Họ giống như hai con ma bướng bỉnh bay lượn trong căn phòng, bởi họ là thuyền trưởng và thuyền phó của phòng tổng thống mà. Sau đó họ mệt, cô kéo tay anh, thì thầm bên tai anh. Họ đã uống quá nhiều. Họ vào phòng ngủ, ở đó có một chiếc giường thật lớn. Hình như vợ chồng tổng thống rất mập, cái giường đó có thể giành cho hai cặp vợ chồng tổng thống cùng ngủ. Họ đi về phía chiếc giường...
Ánh mặt trời chói chang như kim đâm vào mắt làm Lã An tỉnh giấc. Anh thấy Dương Linh nằm giữa giường, trán cô tựa vào ngực anh, anh có thể ngửi được mùi thơm từ tóc của cô, cô vẫn đang ngủ. Họ vẫn còn nguyên quần áo, chứng tỏ tối qua họ không hề có quan hệ xác thịt. Nhưng Lã An vẫn cảm thấy hoảng hốt. Anh muốn ngồi dậy, khẽ động đậy một chút. Dương Linh tỉnh dậy ngay, cô ngáp một hơi dài, sau đó như hiểu rõ hoàn cảnh, giọng còn ngái ngủ, cô hỏi anh: “Tối qua chúng mình không vượt rào phải không? Em nhớ là chúng mình đã không làm gì cả, chúng mình chỉ vừa la vừa nhảy thôi. Em đã uống quá nhiều chăng? Em chưa bao giờ uống nhiều đến thế”.
“Đúng rồi, tôi cũng vậy” - anh cười. Đột nhiên, anh cảm thấy lòng nhẹ nhàng đi rất nhiều, có lẽ đó là kết quả của việc lần đầu tiên chung phòng với một người khác sau quá nhiều ngày cô đơn. Họ thật sự đã không làm gì cả.
“Tốt quá, em vẫn phải “giữ thân như ngọc”. - Cô ngồi dậy - “Thế bốn bức tường có đổ xuống không anh? Anh thấy thế nào?”.
“Không, cảm ơn cô đã ở bên cạnh tôi. Chúng ta đi rửa mặt súc miệng thôi, ăn sáng xong, chúng ta sẽ chia tay nhau ở đây”.
“Tiếc quá, em còn muốn ở đây nữa”. Họ chia nhau làm vệ sinh xong, sau đó ra phòng ăn điểm tâm. Một buổi sáng sớm hoàn toàn mới, nó khơi dậy trong lòng họ một tình cảm mới, dường như cả hai đã sưởi ấm cho nhau. Ăn xong điểm tâm, giám đốc phòng lễ tân Lynda nhiệt tình tiễn họ. Cả hai cùng bước ra cửa. Đứng ở đại sảnh mỹ lệ của khách sạn, anh nghĩ, mọi việc đã kết thúc, mình lại được quay về với ngôi nhà nhỏ của mình. Đây vốn không phải là thế giới của mình.
“Cô đi đâu? Tôi đưa cô về”, anh do dự một lúc rồi hỏi cô.
“Em hả? Em không có chỗ đi. Em đã nói với anh em là kẻ lang thang mà. Em muốn đến chỗ anh thử xem sao. Anh có chịu không?” - Cô nhìn anh với vẻ nài nỉ.
Họ cùng nhau đến nhà Lã An. Đó là một căn chung cư hai phòng ngủ nằm tít trên đỉnh một tòa cao ốc. Mở cửa, Dương Linh bước vào. Bên trong rất lộn xộn, có cả mùi đặc trưng của đàn ông. Đúng là có một cô người nộm rất đẹp nằm trên giường. “Vậy ra là có cái này thật sao?” cô hừm một tiếng, rồi qua phòng khác tham quan. “Em sẽ ở phòng này, phụ anh chia một phần tiền thuê nhà, mỗi tháng em đưa anh 300 tệ được không? Em còn có thể giúp anh nấu cơm, tay nghề của em khá lắm. Nhưng mà anh phải đi chợ. Anh không đuổi em đi chứ?” - Cô nhìn anh khẩn khoản - “Em thật sự không có chỗ nào để đi”.
Lại là một người nhập cư, anh nghĩ - anh nhập cư lên thành phố, cô ấy lại nhập cư vào nhà anh - “Được rồi, tùy cô thôi”. Không biết vì sao anh lại nhanh chóng đồng ý như vậy.
“Ngoài ra, chúng ta không được can thiệp vào bất kỳ mối quan hệ nào của người kia, được không? Chúng ta chỉ là bạn, là bạn tốt của nhau mà thôi”. Cô nhìn anh.
“Được, tùy cô muốn làm gì thì cứ làm. Chúng ta cứ như tối qua là được. Cô cứ ở đây”. Anh nói xong thì về phòng của mình, đau đầu quá, anh định ngủ một giấc. Vừa nằm xuống giường, máy BP (nhắn tin) của anh reo lên, anh lại phải ngồi dậy. “Tôi phải gọi điện thoại” - anh nói với Dương Linh đang bắt đầu thu dọn phòng của cô rồi mở cửa ra ngoài.
Anh đến trạm điện thoại công cộng dưới lầu gọi một cuộc điện thoại, người mà anh gọi là Hách Kiến, một anh chàng từ Tứ Xuyên đến. Thằng cha này chỉ mới 24 tuổi, nhưng lúc nào cũng mơ làm một biên kịch điện ảnh vĩ đại và giàu có. Vì thế quay phim được mấy ngày lại trốn trong phòng thuê trên sân thượng của mình viết kịch bản điện ảnh. Hắn cũng là một người nhập cư, anh nghĩ vậy. “Anh Lã An, em gặp rắc rối rồi” - Hách Kiến khóc sướt mướt trong điện thoại - “Em bị cướp, giờ thì một xu cũng không còn, em chết mất”.
“Tao sẽ đến ngay” - anh nói - “mày cứ ở yên trong nhà, đừng đi đâu, gặp nhau rồi kể đâu đuôi tao nghe”. Anh gác điện thoại, trả tiền, ra cửa gọi taxi chạy thẳng đến Bắc Tứ Khâu. Anh tới trước một dãy nhà gần cung Thái Dương thì xuống xe, bước nhanh đến chỗ ở của Hách Kiến. Đây là khu ngoại ô, đâu đâu cũng là nhà trệt thấp lè tè, dân nghèo đều làm ăn và sinh sống ở đây. Họ là dân hạ đẳng của thành phố này, phần lớn là dân ngoại tỉnh kéo đến Bắc Kinh làm thuê làm mướn. Họ sống bằng nghề kéo xe, kéo than, bán rau cải, nhặt rác... Vì vậy ở đây “cá, rồng” lẫn lộn. Một đồng nghiệp của anh do lén săn tin một cuộc giao dịch đĩa VCD sex ở khu vực này chẳng may bị phát hiện, tháng trước bị đánh đến chấn thương sọ não, bây giờ vẫn còn nằm ở bệnh viện. Nhưng ai cũng có quyền được sống. Anh băng qua một con hẻm, nghe đủ các loại âm thanh hò hét của đám phu xe hai bên đường, đầu anh như muốn nổ tung ra. Không ai có quyền cướp đi quyền sinh tồn của người khác, nhưng rốt cuộc con người sống là vì cái gì? Tới bây giờ anh vẫn không thể hiểu nổi. Anh đi mãi mới đến một cái sân, ngay lúc ấy anh cảm thấy có một bầu không khí dị thường, trong sân có rất nhiều công an. “Anh làm nghề gì?” Có người nghiêm giọng hỏi anh. “Tôi là phóng viên”. Anh trả lời. “Ở đây không cho phép phỏng vấn, ở đây vừa xảy ra một vụ án hình sự, anh đi đi”. Người đó lạnh lùng nói với anh. “Không, tôi đến tìm bạn tôi, cậu ta tên là Hách Kiến, cậu ta sống ở đây”. Lúc đó Hách Kiến từ một căn phòng nhỏ phía đông bước ra “Lã An, anh lại đây...” Anh cảnh sát hình sự nhìn Hách Kiến nhưng không ngăn cản nữa. Lã An bước vào phòng Hách Kiến. Gian phòng chỉ khoảng 8 mét vuông, một bên là chiếc giường nhỏ chất đầy sách, trong phòng bừa bãi loạn cả lên, giống như cái ổ chuột vậy. Căn phòng ổ chuột của người nuôi mộng tưởng trở thành nhà viết kịch bản vĩ đại đây mà. Anh nghĩ, hằng ngày có lẽ Hách Kiến ăn trưa bằng thịt chuột. Ánh mắt của Hách Kiến có chút do dự, một lọn tóc xõa xuống mặt trông hắn càng suy sụp tinh thần. “Đã xảy ra việc gì vậy?” Lã An ngồi xuống hỏi.
“Một người chết. Chính là người ở phòng phía đông. Chuyện xảy ra tối hôm qua, tối hôm qua em sợ muốn chết, gọi anh mà anh làm gì vậy?” - Hách Kiến hỏi. Hôm qua hả? Tối qua anh đang uống rượu trong phòng tổng thống của khách sạn Á Thái, anh nghĩ. “Người ở phòng phía đông chết sao vậy? Không phải mày giết chứ?”.
“Em? Em làm gì to gan thế? Tối hôm qua khoảng 11 giờ, đột nhiên có 9 người đàn ông xông vào, tay mỗi người cầm một con dao bầu, vừa vào là họ kề dao lên cổ em đòi tiền. Bọn họ biết em là một nhà văn nghèo nhưng cũng không tha, lấy hết hơn một trăm đồng còn lại trên người em. Sau đó bọn nó xông vào phòng phía đông, sau vài phút bên đó phát ra tiếng kêu thảm khốc, em sợ phát khiếp, nhanh chân trốn sau miếng ván. Em nghe thấy một loạt tiếng bước chân loạn xạ. Một lúc sau bọn họ quay lại xông vào mở cửa tìm em. Không thấy em thì bỏ đi. Em đoán bọn họ nhất định đã giết người. Đợi đến lúc bọn họ đi rồi, em mới chạy qua phòng đối diện xem. Em thấy người ở phòng phía đông nằm dưới đất, cổ bị cắt đứt, chỉ còn dính lại một miếng da. Thật là khủng khiếp. Còn người nhà của anh ta đều bị trói cả, miệng còn bị nhét vải. Đầu em quay cuồng, gọi cho cảnh sát xong rồi gọi cho anh liền, sau đó đợi xe cảnh sát đến em mới dám đi vào sân, cùng cảnh sát cởi trói cho người phụ nữ và bọn trẻ...”, Hách Kiến nói đến đó, cửa phòng bật mở, một cảnh sát hình sự nói với Hách Kiến: “Anh ký tên vào chỗ người làm chứng. Mẹ kiếp, lại là băng cướp dùng dao bầu để gây án”.
“Bọn chúng là đám nào thế? Bao giờ các anh mới bắt được chúng?” - Hách Kiến ký tên làm chứng xong, vừa đưa biên bản cho anh cảnh sát hình sự vừa hỏi.
“Bọn chúng à? Bọn chúng có thể là những công nhân thất nghiệp ở Đông Bắc xuống phía nam gây án. Bọn chúng là “Hổ Đông Bắc”, các anh cần phải cẩn thận một chút” - nói xong, anh ta bỏ đi.
“Hổ Đông Bắc?” - Hách Kiến hỏi Lã An - “Hổ Đông Bắc là gì?”
“Là đám công nhân thất nghiệp sau khi một số xí nghiệp ở Đông Bắc phá sản” - Lã An nói - “tháng trước cảnh sát đã đấu với bọn cướp này tại Huệ Châu Quảng Đông. Tỉ lệ phá án loại án giết người này chỉ có 40%, mày đừng có mà hy vọng. Hãy nhanh chóng rời xa khu vực này, tìm chỗ nào đó an toàn thôi”.
"Nhưng em không còn một xu. Anh có thể cho em vay ít tiền không?".
“Tao có 300 tệ đây, đưa hết cho mày. Mẹ kiếp, tháng trước tao viết một bài bị phê bình, tòa soạn phạt hết 500 tệ, gần đây kinh tế khó khăn, nếu mày đồng ý có thể chuyển đến ký túc xá sinh viên của trường đại học Dầu Mỏ, mày chỉ cần đưa cho người quản lý phòng mỗi tháng 300 tệ, một phòng 10m 2 . Mày chịu đi không?”.
“Đi, tất nhiên là đi. Nếu lần sau có cái đầu nào bị chặt thì đó chính là đầu của em. Lã An, em cảm ơn anh. Hôm nào đó em sẽ giới thiệu bạn gái của em cho anh biết”.
“Hả? Mày lại lừa được một con nữa hả? Quê nó ở đâu?”.
“Cũng là người Tứ Xuyên, làm đầu bếp của một nhà hàng”.
“Kịch bản của mày viết thế nào rồi?”.
“Viết được một nửa rồi. Em nhất định viết nó thành một kịch bản “hot” nhất. Anh xem thử xem...”, Hách Kiến vụng về bới tung đống giấy trên bàn, lấy ra một xấp bản thảo đưa cho Lã An. Lã An nhận bản thảo, liếc qua thấy cái đề mục “Người nhập cư”, anh ngẩn người ra một lúc. “Mày viết cái gì thế?” - “ Một bộ phim khủng bố, còn khủng bố hơn cả phim “Bản năng gốc”... nữa - Hách Kiến cười vui - “em muốn tạo bầu không khí khủng bố, đâu đâu cũng có người nhập cư, nhưng anh lại không phát hiện ra họ. Rồi cuối cùng, những người sợ dân nhập cư lại thành dân nhập cư”.
Lã An đưa trả bản thảo cho Hách Kiến. “Dọn đi chỗ khác nhanh đi, tao liên hệ xong thì mày dọn đi”. Anh rút 300 tệ trong túi ra đưa cho Hách Kiến. Khóe mắt Hách Kiến rưng rưng. “Anh đúng là bạn tốt nhất của em, em cảm ơn anh, Lã An”.
“Chúng ta đều là dân nhập cư, dân nhập cư thành phố” - Lã An cười, một nụ cười khó hiểu. “Tao đi đây, mày tự lo cho mình nhé”.
Lã An ngồi trong xe taxi mà lòng rối bời, đầy phiền muộn. Ra khỏi chỗ Hách Kiến rồi mà anh vẫn có cảm giác mùi máu tanh tanh còn phảng phất đâu đó trên gương mặt mình. Hổ Đông Bắc can tội giết người, phá nhà cướp của của những người nhập cư. Nhưng bọn họ giết hại dân lành làm gì? Anh nghĩ không ra. Vừa lúc đó máy BP lại reo, anh xem thì ra trưởng phòng gọi, liền bảo tài xế đi về phía Nam. Chắc là lại có nhiệm vụ phỏng vấn gì đây, anh nghĩ - lần này mình sẽ không để bị phạt tiền nữa, nếu không thì ngay cả tiền thuê nhà cũng không trả nổi. Bài viết lần trước là bài viết liên quan đến bản tin trào lưu dân công. Kết quả vì “tài liệu không đúng sự thật”, anh đã bị phê bình. Không biết lần này họ giao cho mình đề tài gì đây? Anh muốn tìm cách len vào những vụ có liên quan đến chính trị và luật pháp, như thế anh mới có thể tiếp xúc được với nhiều vụ án, anh nghĩ vậy. Anh bước vào tòa soạn. Đó là tòa lầu mười lăm tầng, bên trong đều là các cơ quan thông tin đại chúng, có đài quảng cáo, đài truyền hình hữu tuyến và mấy tòa soạn báo. Tòa cao ốc này nằm ngay trên đường, sát Kiến Quốc Môn. Đây là một khu vực phồn hoa. Vừa bước vào tòa nhà, anh đã có cảm giác như mình vừa bước vào một tổ ong nhốn nháo. Những phóng viên giống như những con ruồi vô tổ chức bay loạn xạ khắp nơi. Các biên tập viên thì cầm báo chạy lung tung, ai ai cũng bận rộn. Anh bước vào phòng trưởng phòng, ông đang làm bản thảo trên máy tính, thấy anh bước vào liền nói: “Tổng biên tập quyết định điều cậu qua bộ phận đời sống xã hội, thời gian thử việc của cậu sắp hết rồi. Đừng để phạm sai lầm nữa. Tôi đưa cậu một chủ đề, cậu hãy sống cùng người nhặt phế liệu một ngày, sau đó viết một bài báo, phải viết về sự dũng cảm của một người lương thiện và không ngừng phấn đấu vì cuộc sống để đăng trên mục “Câu chuyện người dân”. Nhìn mặt cậu có vẻ mệt mỏi, tối qua không ngủ à?” - Ông trưởng phòng có gương mặt rỗ nhìn anh.
“Tôi... tối qua tôi ngủ không đủ giấc. Dạ khoảng bao giờ thì giao bài ạ?”.
“Nội trong 3 ngày. Tôi thấy tinh thần cậu không tốt, cậu về nhà ngủ đi” - Trưởng phòng vỗ vai anh một cái. Ông có khuôn mặt dữ tợn nhưng tâm lại hiền. Ông cũng có đủ thứ buồn bực mà đành bó tay. Ông muốn ly hôn với vợ, nhưng vợ ông lại không đồng ý. Thế là ông ấy phải ngủ nhờ qua đêm khắp nơi. Lã An đột nhiên nhớ đến Dương Linh, cô ấy vẫn còn ở nhà anh.
Anh đẩy cửa bước vào nhà, đúng lúc đụng phải một người từ trong nhà bước ra. Ngẩng đầu lên, anh thấy người này rất quen. Hắn đeo kính, chỉ mới chạm cái nhìn của anh, hắn đã vội tránh ánh mắt sang chỗ khác, lách mình bước qua rồi lỉnh mất. Lúc đó Lã An mới nhớ ra. Đó là một diễn viên hài, hiện là diễn viên và biên kịch cho bộ phim truyền hình có tựa đề: “Xà Phòng”. Từ trước đến giờ, Lã An chỉ nhìn thấy gương mặt xấu xí của hắn. Con người thô tục này đến chỗ anh để làm gì? Anh bước vào nhà, thấy Dương Linh đang ngồi ngẩn ra ở phòng khách. “Cô làm sao thế?” - anh hỏi - “Thằng cha đến đây để làm gì?”.
Dương Linh ngẩng đầu lên. “... em muốn xin diễn một vai nhỏ trong tiểu phẩm dạ hội mừng 8 tháng 3 của đài truyền hình mà ông ấy làm, nhưng vừa nãy ông ta bảo vai đó đã có người khác thay rồi”. Gương mặt cô ấy tỏ vẻ thất vọng. Cô nhìn anh, ánh mắt oán hận và lạnh lùng. Nhưng thoáng cái cô đã lấy lại bình tĩnh. “Hôm qua anh không ngủ đủ giấc. Trưa rồi, để em đi nấu chút gì ăn”. Cô đứng dậy, đi vào nhà bếp tìm kiếm. “Ái chà, đúng là một người chưa vợ, không biết anh làm sao để sống đây. Bánh bao và trái cây mốc hết rồi, ngày nào anh cũng ăn thức ăn mốc hả?”, cô nói. Lã An nóng mặt “Chịu, tôi đúng là không biết cách sống. Vẫn còn một ít thức ăn trong tủ lạnh đấy”.
“Thế thì để em trổ tài”. - Dương Linh nói - “Tạp dề đâu? Em phải mang nó để làm cơm?”.
Lã An tìm được một chiếc tạp dề. “Giúp em mang nó vào với” - cô nói - “nhanh đi”. Lã An giúp cô mang tạp dề. “Này anh...” - cô bực bội liếc nhìn, vì động tác của Lã An đột nhiên trở nên quá vụng về. Có lẽ đã lâu rồi anh không tiếp xúc với phụ nữ gần như thế, điều này làm cô rất bực mình. “Anh tránh qua một bên đi, làm gì mà ngẩn ra thế”. Cô đẩy anh ra ngoài, tự mình buộc tạp dề rồi đóng cửa nhà bếp lại.
Lã An quay về phòng mình, nhìn cô hình nộm nằm trên giường, anh cảm thấy hai mắt nó giống như đôi mắt của Dương Linh. Không biết tự bao giờ người nộm nay lại biến thành người sống. Có lẽ cuối cùng nó cũng có một ngày sống lại - Lã An nghĩ. Ngừng lại một lát, anh đi tìm mấy quyển tạp chí để đọc, không bao lâu, Dương Linh đẩy cửa. “Này, cơm xong rồi, ra ăn cơm đi”.
Lã An cảm thấy rất đói, anh thấy cơm canh đã bày sẵn trên chiếc bàn trong phòng khách từ lúc nào. Các món ăn tuy đơn giản nhưng trông khá hấp dẫn. Xem ra cô ấy đã dùng hết mọi thứ có trong tủ lạnh rồi. Anh ăn thử một miếng, khá ngon. “Được đấy” - anh nói - “ngon lắm”.
“Đương nhiên rồi” - Cô đắc ý hất mặt một cái. Lúc đó anh nhìn thấy một vết sẹo trên chân mày trái của cô. “Phía trên mắt cô có một cái sẹo, sao vậy?”
“Lúc nhỏ bị cần kéo violon cắt trúng. Từ nhỏ em đã chơi violon, nhưng cũng không có kết quả gì? Sao mắt của anh tinh thế?”.
Anh lại ăn. “Vừa rồi cái ông diễn viên hài đó, sao không để cho cô diễn tiểu phẩm?”.
“Tại sao hả?” - cô đặt đũa xuống, buồn rầu - “anh thấy em rất đẹp phải không?”.
“Đúng vậy! Chẳng lẽ ông ấy không cho là vậy hả?”.
“Đương nhiên ông ấy là cũng cho như vậy. Chỉ tại ông ấy yêu cầu việc khác. Muốn cùng diễn với ông ấy, phải đáp ứng yêu cầu của ông ấy. Ông ấy đúng là không giúp ai không công. Ai lại giúp không công cho một người không có gì trong tay như em chứ?”.
“Ông ấy đưa ra điều kiện gì? Ngủ với ông ấy phải không?”. Anh nuốt thức ăn và nói.
Cô mở to mắt nhìn anh : “... Dạ!”.
“Xin lỗi” - anh cúi đầu tiếp tục ăn, một lúc sau lại đặt đũa xuống - “tiếp theo cô định làm gì? Trước kia cô làm những gì? Tôi có thể giúp được cô không?”.
“À, em đã làm qua rất nhiều việc. Em sinh ra ở Đông Bắc, tại một trấn nhỏ dưới chân núi Trường Bạch. Sau đó lớn lên em bắt đầu phiêu bạt khắp nơi và trở thành người lang thang. Em bắt đầu đi Tây An, không biết sao em đặc biệt thích Tây An. Lúc đó em mới 18 tuổi, em nghĩ em có thể thực hiện mơ ước của mình ở vùng đất có tượng binh mã này. Nhưng em không biết ước mơ cuối cùng của mình là gì, vì thế nên em đến đấy. Công ty quảng cáo, khách sạn, cửa hàng tổng hợp, đài quảng cáo, đài truyền hình em đều từng làm qua. Em còn làm nhân viên hòa âm, là DJ đó anh. Rồi làm đạo diễn một số phim truyền hình. Có lúc em đi hát, nhưng cho đến nay việc gì cũng không thành, em luôn luôn không thể thành một người tốt nhất. Em lại đến Bắc Kinh làm trợ lý đạo diễn ở một đài truyền hình hữu tuyến… Đạo diễn, như anh đã biết, đài truyền hình là nơi hấp dẫn mà người nào cũng muốn chen chân vào. Em lại không có mánh khóe, luôn bị người khác đẩy ra ngoài. Thế là em nổi giận cho ông đạo diễn một cú. Hôm đó tâm trí em rối tung cả lên, một mình em lang thang trên đường phố. Em nghĩ mình đã lăn lộn ba bốn năm trời nhưng chẳng được gì cả. Cuối cùng thì em sẽ làm được gì đây? Tâm trí rối như tơ vò, chỉ hận không thể chết đi. Nhưng đột nhiên em thấy bảng thông báo liên hoan mừng năm mới của khách sạn Á Thái. Thế là em quyết định trà trộn vào ăn một bữa miễn phí, và ở đó em đã quen biết anh. Em cảm thấy anh là một người tốt, rất thú vị, thậm chí có một chút khờ khạo”. - Dương Linh nói đến đây thì dí tay lên trán anh một cái - “tiền thuê nhà em cũng có một ít, em chỉ có thể đưa anh bấy nhiêu thôi, tiền đây”. - Cô đưa cho anh 300 tệ. Anh do dự một chút. “Thôi được!” - anh nhận tiền - “Tiền thuê nhà mỗi tháng là 1.200 đồng, tôi gánh cũng hơi nặng, có cô chia bớt cũng tốt. Tiếp theo, cô dự định thế nào?”.
“Tiếp theo? Không có tiếp theo. Cứ ăn cơm rồi nói sau. Hoặc là đến các công ty nước ngoài thử xem? Tuần sau có một hội chợ việc làm của các công ty nước ngoài ở Bắc Kinh, em muốn đi xem sao. Em từng làm nhân viên tư vấn mua sắm ở các cửa hàng, thư kí giám đốc khách sạn, gì nữa ta? Không biết nữa. Cái gì em cũng muốn thử. Nhưng mà hình như anh mệt rồi, anh đi nghỉ đi, để chén đó em rửa”. Dương Linh hát thầm một bài hát, cô im lặng một lúc rồi thu dọn chén bát.
Lã An cảm thấy trong lòng tràn ngập cảm giác ấm áp, giống như có một đốm lửa trên mặt đất lạnh lẽo, làm sống động cả một vùng. Ngôi nhà như một chiếc thuyền nhỏ nhắn xinh xắn, hôm nay trên thuyền đã có hai người, nó làm lòng anh bớt cô quạnh. Lã An nói: “Được rồi, không biết tại sao tôi lại buồn ngủ quá, tôi phải đi ngủ một giấc dài đây. Cô cũng đi nghỉ sớm đi, quên đi cái yêu cầu của lão ấy, quên lão ấy đi”.
“Em biết rồi, em không sợ gì cả” - Cô nói.
Anh vào phòng mình, kéo màn cửa sổ nhìn ra ngoài. Phố phường dưới ánh nắng ban trưa bỗng trở nên ngạo nghễ và lười biếng, nhưng nó lại to lớn, phức tạp hơn vạn phần. Tất cả từ đường sá, xe cộ, nhà cửa, như một sa bàn thu nhỏ hiện ra trước mắt anh. Nó là một rừng bê tông cốt thép, và con người đang trốn trong đó, họ đang cố tìm không gian để hít thở. Con người giống như một đàn chuột lớn đang tìm đường tháo chạy. Họ chen chúc nhau ở một nơi như trên đài cúng tế là vì cái gì nhỉ? Tại sao họ lại đến đây, cái gì đang mời gọi họ, hay là một quy tắc trò chơi nào đó quy định nhất loạt những hành động của họ? Anh nhìn thành phố loang loáng dưới ánh mặt trời, nghĩ đến những người đang sinh sống và cùng hít thở chung bầu không khí này. Trong lòng anh chất chứa bao nỗi ưu phiền. Đứng một lúc, anh quay về giường nằm. Anh cảm nhận bốn bức tường xung quanh không còn như muốn đổ sụp xuống nữa. Từ hôm nay anh đã có thêm sức sống, anh dựng người nộm lên một góc phòng, sau đó lên giường chìm vào giấc ngủ. Trong giấc mơ, anh thấy mình ngồi trên tấm thảm bay xoay tròn và bay lượn. Anh bay lượn trên không trung của thành phố, trên bầu trời đen, thành phố giống như địa phủ trắng, con người giống như người thủy tinh trong suốt, đang chuyển động và nói chuyện. Anh bay qua nhà máy hóa học nơi anh từng làm việc. Những đường ống màu bạc của nhà xưởng phát sáng trong ánh nắng mặt trời. Anh ngửi được cái mùi nồng nặc của sản phẩm tỏa ra trong không khí mà anh rất ghét. Anh tiếp tục bay, và bay rất gần thành phố. Ở đâu cũng thấy người nhập cư. Bọn họ giống như một đội quân du kích trong thành phố, len lỏi vào từng ngõ ngách của thành phố…
Tỉnh ngủ, Lã An bật dậy như phản xạ có điều kiện. Anh vội vàng thay quần áo. Hôm nay anh phải đi phỏng vấn một người nhặt phế liệu, anh phải đi theo anh ta một ngày. Nhưng sao phải chọn đề tài này chứ? Anh hơi bực dọc. Bảo tôi sống cùng người nhặt phế liệu một ngày à? Anh cuống cuồng đánh răng rửa mặt, lấy túi xách rồi đi ra ngoài. Ngang cửa phòng Dương Linh, anh thấy cửa mở, chăn gối trong phòng được gấp rất ngăn nắp, cô ấy đã đi từ sớm, cô ấy đi làm gì thế?
Anh ngồi xe bus số 9 đi đến một khu ngoại ô thành phố. Lúc đó hơn 6 giờ sáng, anh đến cái nơi có một đám ve chai. Anh nhìn thấy một khoảng đất trống, khoảng đất đó được bao quanh bởi một bức tường đắp bằng đất. Ánh mặt trời vàng chiếu sáng nơi này. Anh bước đến gần, thấy trước mặt là một bãi “biển” rộng mênh mông, một “biển người”, một “biển rác”. Dưới ánh nắng mặt trời, hàng trăm người đen như cột nhà cháy đang tập trung ở đó. Bọn họ giống như người từ địa phủ chui lên tập trung trước một đống rác. Họ đang phân loại số rác hôm trước nhặt được. Trước mặt mỗi người đặt mấy cái túi da rắn, trông người nào người nấy đều hăm hở. Đàn ông, đàn bà, kẻ già, người trẻ như cùng chung một bộ lạc. Họ đang nhặt và phân loại rác dưới ánh nắng vàng nhạt của buổi sớm mai. Sự có mặt của anh làm cho họ cảm thấy bất an. Đối với họ, Lã An lúc đó hoàn toàn là một người xa lạ, một người ngoài cuộc, có lẽ còn mang đến cho họ một mối nguy hiểm nào đó. Vì vậy, bất luận anh đến trước mặt ai, người đó cũng sẽ nhìn anh đầy hoài nghi và cảnh giác. Khi Lã An đi đến chỗ giữa bọn họ, tất cả giống như những bọt sóng đen trên biển bao vây lấy anh, anh cảm thấy hơi lo lắng. Nhưng anh nhìn thấy một ông lão tóc đã bạc một nửa đang sắp xếp một đống lọ nước hoa. Có một số lọ nước hoa vừa đẹp vừa có hình dạng kỳ lạ, những lọ nước hoa đó đại diện cho một cuộc sống khác. Lã An đến gần ông lão và ngồi xuống. “Ông ơi, mấy lọ nước hoa này bán được bao nhiêu tiền?”. Ông lão nhìn anh, nheo mắt. “Thế nào, anh cũng thích lọ nước hoa hả?” - Ông nói với giọng nói nặng âm ngữ Hà Nam. “Dạ không, cháu chỉ muốn hỏi có người mua những lọ nước hoa này không? Giống như mua giấy phế liệu, đồng thau vậy?”.
“Không có người mua thứ này” - Ông lão lại nheo mắt - “Tôi chỉ nhặt nó chơi thôi, tôi sưu tập nó. Thôi tôi phải đi đây”. Ông lão lấy chiếc túi da rắn, bỏ tất cả những thứ bán được vào một túi lớn, sau đó đứng dậy. “Để cháu giúp ông” - Lã An nói xong liền giúp ông lão đem tất cả những thứ có thể bán được ra ngoài cổng bãi rác, ở đó có 2 chiếc xe lớn đang thu mua. Ông lão bán tất cả được 23 tệ, khi nhận tiền ông vô cùng vui mừng. Ông đứng bên cạnh Lã An cười cười, gánh một cây gậy gỗ, trên đó treo mấy cái túi trống không và bảo “đi thôi nào”.
“Ông ơi, cháu muốn đi nhặt rác cùng ông, cháu muốn trò chuyện với ông”.
“Anh ấy à?” - Ông lão rất kinh ngạc - “nhặt rác cùng với tôi?” - Ông nghi ngờ.
“Cháu... là sinh viên sắp tốt nghiệp, nhà trường muốn chúng cháu hiểu rõ xã hội, cho nên cháu muốn hiểu rõ đời sống của những người nhặt phế liệu trong thành phố như thế nào, chỉ để tìm hiểu một chút thôi ông ạ”.
“Ha ha” - ông lão cười - “còn có việc này nữa à, thôi được, anh đi với tôi”. Thế là Lã An đi cùng ông ta. “Bây giờ chúng ta đi đâu?”.
“Đi đến nơi tôi vẫn thường đi. Nhặt phế liệu cũng phân chia khu vực, tôi không thể chiếm khu vực của người khác. Nghề nhặt phế liệu cũng phân thành bang phái đồng hương, tôi chỉ nhặt rác ở khu Lưu Trang. Ở đó người ta sống rất đông”. - Ông lão nheo mắt lại vì ánh nắng làm ông thấy chói mắt. Lã An phát hiện họ đã rời khỏi đám đông đang phân loại và nhặt rác dưới ánh nắng buổi sớm mênh mông. Họ tiến về phía một khu vực nhỏ hơn để khai thác. Khu Lưu Trang là một khu vực tương đối lớn, nó có một quần thể kiến trúc dị thường cao ngút, đông đúc và hùng vĩ. Lã An nhớ đến câu nói đầy vẻ kinh ngạc của một chàng trai trẻ người Mỹ. Lưu Trang giống như một tiểu khu nào đó của New York, Mỹ. Nhưng Lã An cảm thấy cái tên “Lưu Trang” làm cho tất cả sự phồn hoa trở nên quê mùa, vì vậy Lưu Trang có thể được xem là thôn trang bị phóng đại lên. “Ông ơi, ông là người ở đâu? Đến Bắc Kinh bao lâu rồi?” - Lã An hỏi ông lão.
“Tôi là người Diên Tân, tỉnh Hà Nam, đến Bắc Kinh được hai năm rồi”.
“Hai năm ông đều nhặt rác à?”.
“Không, lúc đầu tôi kéo xe, nhưng vì sức khỏe không cho phép, tôi đã hơn 60 tuổi rồi, sau đó tôi bắt đầu đi nhặt rác”.
“Ở quê nhà không tốt hơn sao? Lại đến đây nhặt rác?”.
“Tại anh không biết đó thôi, quê tôi Hà Nam nghèo lắm, tôi ở Bắc Kinh ngày ngày nhặt rác, kiếm được nhiều tiền hơn so với ở quê. Anh sinh viên, anh tìm hiểu xã hội làm gì? Sắp tốt nghiệp chưa?”.
Lã An thấy hơi buồn cười. “Vâng, cháu làm một số công tác để chuẩn bị tốt nghiệp”.
Ông lại nói tiếp: “Công việc tốt, cũng kiếm được tiền. Tôi có bốn đứa con, ba đứa con gái đã lập gia đình, một đứa con trai tốt nghiệp đại học sư phạm, cũng lập gia đình rồi. Nhưng bà nhà tôi mấy năm nay bị liệt nửa người, nằm liệt trên giường không cử động được, tôi đành phải ra ngoài kiếm ít tiền”.
“Những người nhặt phế liệu lúc nãy chủ yếu là người ở đâu hả ông?”
“Ở đâu cũng có, Tứ Xuyên, Hồ Nam, Giang Tây, Hà Nam. Họ vốn là người từ những nơi nghèo khổ đến đây. Ngoài ra, tuổi tác họ cũng không còn trẻ nữa, ở quê không làm nổi việc nặng. Nhưng mà có một số em bé cũng đi nhặt rác cùng người lớn, cả nhà đều nhặt rác, trẻ con không được đi học, tội lắm”.
“Bãi rác này có bao nhiêu người hả ông?”.
“Có ba bốn trăm người gì đó. Mỗi ngày họ đều ở đó phân loại rồi bán phế liệu. Họ đều sống ở gần đây. Thuê nhà để ở. Có khi cả gia đình đều ở đó, đông đúc lắm”.
“Ông thấy có bao nhiêu người nhặt rác như thế này ở Bắc Kinh?”
Ông lão chớp mắt suy nghĩ một lúc lâu. “Tổng cộng chắc phải mấy ngàn người. Cái này tôi cũng không rõ lắm. Anh xem, chúng ta sắp đến rồi, ngày nào tôi cũng lang thang ở đây”.
Lã An ngẩng đầu nhìn phía trước, khu nhà cao tầng của cư dân khu Lưu Trang hiện ra trước mắt. Đây hoàn toàn là kiệt tác của loài người, là thành quả được tạo nên bởi sức tưởng tượng và khả năng thực hiện của con người. Một tòa nhà tổ ong cực lớn đứng sừng sững, chiếm hết cả một khu. Nó được thiết kế theo một trình tự nhất định, trải dài ra, tạo thành một thành phố mới, một thành phố trên mặt đất. Trong mỗi khu nhỏ được tạo thành từ cốt thép và bê tông ấy, có gần 200.000 con người sinh sống ở đó, 200 ngàn con người đấy! Mỗi ngày họ thải ra bao nhiêu rác? Lã An nghĩ. Họ đi vào trong. “Đến rồi!” - Ông lão mừng rỡ như sắp được mùa. Họ chọn một tòa lầu 20 tầng trước, bắt đầu tìm từng cái thùng rác ở cửa ra vào đường hầm. Vì không có nhà xe nên giữa các tầng lầu là nơi đậu một số xe ô tô cá nhân. Lã An nhớ đến việc Bắc Kinh vừa tuyên bố quy định hạn chế lượng khí thải ra từ những chiếc xe dưới 1.6, đồng thời quy định phân bổ xe chạy theo số chẵn và số lẻ. Lã An cảm thấy đó thuần túy chỉ vì giấc mơ muốn có xe ô tô mini của người dân. Ở nước ngoài, sự phát triển công nghiệp xe hơi và số lượng xe ô tô mini gia đình ở nhiều quốc gia gắn bó mật thiết với nhau. “Có người quản lý… không ông?” - Lã An hỏi ông lão.
“Có, nhân viên quản lý khu thường la tôi làm rơi vãi rác ra đường. Anh ta đã la oan tôi bao nhiêu lần rồi” - Ông lão mở nắp một thùng rác ở cửa ra vào, bắt đầu cầm một cái móc gắp rác. Hôm nay thứ bảy là ngày nghỉ, vì vậy trong khu vực im ắng đến phát sợ. Lã An nghĩ mình giúp được ông già cái gì nhỉ? Anh đứng một bên nhìn ông lão. Ông lão mở một cái túi da rắn, bỏ tất cả những thứ cho là bán được vào túi. Các loại bình, vải rách, quần áo cũ, các lon coca, tất cả những thứ lộn xộn lung tung đều bị ông lão bỏ vào túi. Lã An muốn giúp ông nhưng lại sợ dơ, bèn không động tay đến. Một phụ nữ đi ngang qua nhìn Lã An một cách khó hiểu, chắc hẳn chị ta lấy làm lạ vì sao một thanh niên thành phố như Lã An lại đi cùng một ông lão nhặt rác. Lã An nhìn chăm chăm đôi tay linh họat của ông, đó là đôi tay gân guốc, có một số nốt lấm chấm đỏ. Lúc ấy Lã An chợt nhớ về những ngày anh làm việc tại nhà máy hóa chất ở ngoại ô. Do không khí nhà máy bị ô nhiễm, toàn thân anh bị mẫn cảm, nổi rất nhiều nốt đỏ. Nhưng bây giờ anh đã thoát ra khỏi nơi ấy rồi, thân thể anh không còn những nốt ấy nữa. Nhưng anh lại sắp đối mặt với vấn đề mới, phải thanh toán tiền thuê nhà cao ngất ngưởng. Ngày nào anh cũng bận túi bụi như con quay, phải cố gắng hết sức mình để kiếm ít tiền. Ngoài ra các thủ tục giấy tờ, quan hệ nhân sự trước lúc đến tòa soạn làm anh phải tốn hết 7.000 tệ, những 7.000 tệ cơ đấy! Anh có thể tìm được số tiền lớn như thế ở đâu chứ? Khép lại dòng hồi ức, lúc này anh thấy ông lão đã nhặt xong rác rồi. “Đi thôi, chúng ta đi qua đó” - Ông lão bảo.
“Có được nhiều không ông?” Lã An hỏi ông lão.
“Không nhiều!” - Ông lão hơi thất vọng - “chỉ có một ít lon và một số quần áo rách thôi”.
“Cháu có thể biết họ của ông được không?”
“Tôi họ Lưu, nhà tôi ở Lưu Trang huyện Diên Tân tỉnh Hà Nam. Thế nên tôi cũng thích đến Lưu Trang này lắm. Lưu Trang ở đây tốt hơn ở quê tôi nhiều”.
“Thường nhặt được thứ gì thì bán được nhiều tiền nhất?”
“Một số đồ điện máy, vật dụng hằng ngày, bao tay cũ, dụng cụ bếp cũ. Nhưng mà tôi nhặt nhiều nhất là giày da rách và lon thiếc, có giấy sách cũ nữa. Những đôi giày cũ nhưng không hẳn là cũ lắm, đem về đánh xi thì thành mới cả, tôi sửa sang lại rồi đem bán cho những người muốn mua giày cũ kiếm cũng khá tiền”.
Họ cứ thế vừa nói chuyện, vừa đi qua từng tòa nhà một. Đến trưa, một chiếc túi của ông lão đã đầy. Lã An giúp ông lão mang hai cái túi trống khác. “Ông ơi, chúng ta đi ăn cơm thôi, cháu mời ông. Ông muốn ăn gì?”
“Anh mời tôi ăn cơm hả? Cậu sinh viên à, anh đã cùng tôi trò chuyện cả buổi sáng còn mời tôi ăn cơm sao? Không không, như vậy không được”. Nhưng họ đều đói cả rồi, họ tìm một quán “Mì gọt Sơn Tây” bên lề đường, ăn một tô mì lớn. Người ăn loại mì này đều là dân làm công, Lã An cảm thấy mình hòa lẫn với họ rất vui vẻ. Có lẽ những người này bị người ta gọi là dân làm công? Bọn họ đen như cột nhà cháy, suốt ngày bán mặt cho đất bán lưng cho trời. Họ bỏ sức lao động để tồn tại, họ không có tên tuổi, già trước tuổi vì mưa gió. Họ ăn mì xong lại tiếp tục đi về phía tòa nhà ấy. Với họ, “vàng” có ở trong từng cái thùng rác, từng thứ phế liệu như những giọt hy vọng mà một ông lão đang mong chờ. Hơn nữa, giữa không gian của những tòa nhà nơi thành thị rộng lớn này có rất nhiều người như thế. Họ cũng là người nhập cư, nhưng họ giống như đám chuột chui nhủi trong thành phố hơn, họ thường tập trung nơi khuất ánh mặt trời để sinh sống. Lòng Lã An dâng tràn một cảm giác vô cùng phức tạp, anh cảm thấy mình không làm được gì cho người già. Anh chỉ có thể viết một bài báo cho họ, đăng một số hình ảnh lên báo. Liệu như thế có thể cải thiện được phần nào cuộc sống của người già không? Tất cả đều trở nên bất lực. Trong gió lạnh, Lã An cố ghì chặt chiếc áo khoác ngoài cho đỡ lạnh. Mây đen cuối đông cuộn tròn trên bầu trời. Mọi thứ trên mặt đất lại đang biến đổi sâu sắc ở khắp mọi nơi. Họ cúi người liêu xiêu bước lên phía trước trong cơn gió lạnh.
Suốt buổi chiều Lã An vẫn nói chuyện cùng ông lão. Họ nói rất nhiều, ông lão xem ra cũng bắt đầu thích chàng trai hay bắt chuyện ấy. Trời dần dần ngả sang màu xám, sắp tối rồi. Lã An giúp ông lão mang chiếc túi rác về, đến khúc rẽ ở cửa ra vào khu Lưu Trang, chỗ rẽ của ô tô, ông lão mang trên vai hai chiếc túi da rắn to đang băng qua đường, đột nhiên một chiếc xe sang trọng từ trong con đường nhỏ lao thẳng tới, nó giống như một con cá hung hãn lao qua phía sau ông lão đánh vèo một cái, nhưng đuôi xe lại vướng phải hai chiếc túi da rắn mà ông lão mang trên lưng. Lã An chỉ nghe được một tiếng “rầm”. Anh nhìn thấy ông lão như một con diều bị trúng đạn ngã dài trên mặt đường. Chiếc xe sang trọng bóng loáng màu trắng đó chạy được một đoạn khoảng 20m thì dừng lại, Lã An nhanh chân bước lên trước đỡ ông lão đang ngã trên mặt đất. Lúc đó người tài xế có dáng người cao ráo từ trên xe bước xuống. Hắn ta săm soi thật kỹ phía sau đuôi xe, sau đó giận dữ đi đến chỗ họ. “Ông già kia! Ông làm xe tôi xước hết rồi! Đền tiền cho tôi đi! Túi xách của ông làm xe tôi xước một đường trầy hết sơn rồi! Ông mau bồi thường cho tôi! Bộ ông bị mù hả? Ông có bị điếc không vậy?”. Gã tài xế mặc chiếc áo lông màu đen hùng hổ gầm lên giận dữ. Lã An cảm thấy phẫn nộ vô cùng. Anh đứng dậy, bước nhanh đến phía sau đuôi xe ô tô, quan sát một lúc, đuôi xe quả nhiên bị một vết xước khoảng mười mấy cm. Nhưng Lã An nhớ lại hoàn cảnh lúc nãy, đó hoàn toàn là trách nhiệm của gã tài xế, bởi vì anh ta lái xe quá nhanh, chút nữa thì đâm sầm vào ông lão. Lã An xoay người đi về phía ông lão, vừa lúc đó anh nhìn thấy gã tài xế đang gầm lên: “Chỉ có 50 đồng thôi sao? Không đưa đủ 200 đồng tao đánh mày chết! Lão già chết tiệt, đưa tiền đây!”. Một tay gã phe phẩy tờ giấy 50 đồng, tay kia túm chặt ông lão định moi thêm ít tiền. Điều đó khiến Lã An đột ngột nổi giận, anh xông lên phía trước, nắm chặt lấy gã tài xế, anh cảm thấy thân hình của gã rất nặng. Chính lúc đó, hồi ức trong anh đột nhiên trỗi dậy, anh thấy mình vừa trải qua những ngày tháng làm công việc lắp ráp đường ống to lớn trong nhà máy hóa chất. Hình như gò má bên trái của anh vừa bị một cú trời giáng, gã tài xế vừa đấm vào mặt anh một cái, trước mắt Lã An, trời đất quay cuồng. Anh nổi trận lôi đình, lập tức dùng đầu gối cho một cú ngay chính giữa bụng dưới hắn ta. Sau đó dùng khủy tay đánh ngang cổ gã, cả hai cú đánh như điện chớp nẩy lửa, gã tài xế ngã bệt xuống đất. Lã An lại đấm một cú thật mạnh vào phía sau khiến gã nằm sóng soài trên mặt đất. Lã An phủi tay, thấy trong người thật sảng khoái, anh rút tờ 50 đồng trên tay gã, cười nhạt rồi kéo ông lão đi: “Đi thôi ông, xem hắn còn có thể bò dậy được nữa không”. Anh đưa tiền lại cho ông lão. Trong mắt ông vẫn còn hiện lên vẻ sợ hãi. "Anh ta có chết không?" - Ông hỏi. Lã An lắc lắc đầu, lạnh lùng nói: “Nó là đồ chó, chúng ta đi thôi.”Anh giúp ông lão mang đồ đạc, lúc đó hoàng hôn đã xuống, gã tài xế rên rỉ bò dậy, nhưng cũng không dám tìm họ gây chuyện. Lã An đứng dưới lầu nơi có ghi dòng chữ: “Trung Tâm Kim Nguyên khu Lưu Trang” nhìn gã tài xế ôm bụng bỏ đi. Lúc đó anh nhận thấy mình đã thắng, thắng vì anh đã tranh đấu thay cho người yếu đuối. “Đồ chó, tao cần phải cho mày ăn nắm đấm”, anh nghĩ. Sắc mặt ông lão đã hồng hào trở lại, ông ấy dường như cũng hơi cảm kích, nhưng không nói gì cả, hai người nhanh chóng hòa lẫn vào bầu trời của buổi hoàng hôn mênh mông.
Trong đêm đen tĩnh mịch, Lã An cùng ông cụ họ Lưu về nơi ông trú ngụ. Đó là một khu nhà ổ chuột nằm men theo đường cống nước kéo dài và hôi thối của thành phố. Dân ngoại tỉnh kéo về đây xây những ngôi nhà thô sơ trên mảnh đất gồ ghề. Ánh đèn leo lét, vàng vọt hắt ra từ cửa sổ và cửa ra vào, mọi thứ trông thật tồi tàn, tăm tối. Họ đều là dân nhập cư, Lã An nghĩ họ là những người đã dắt díu vợ con hoặc rời bỏ vợ con để đến đây. Họ trở thành “ký sinh trùng” trong bãi rác của đô thị đồ sộ này. Mà cuộc sống, với những viễn cảnh tương lai cũng đem đến cho họ một chút hy vọng le lói, leo lét như ánh đèn ảm đạm hắt ra từ những ngôi nhà kia. Vừa trông thấy những ngôi nhà này, ông lão như được sống lại. Ông gọi Lã An đi nhanh về phía trước, lũ chó hoang đuổi họ chạy qua hết mấy con đường. Ông lão mở cửa một gian phòng. “Đến nhà rồi!” lão Lưu vui mừng reo lên. Ông mở đèn để Lã An bước vào. Đó là một gian phòng chỉ rộng 10m vuông, nhưng rất sạch sẽ, có một chiếc giường, và một số vật dụng hằng ngày, ngoài ra không có thứ gì khác. Lã An ngồi xuống. Bài báo cáo anh cần viết hôm nay xem như đã có kết quả. Lão Lưu rót cho anh một ly trà. “Vừa rồi tôi sợ phát khiếp, tôi sợ anh đánh chết người”. Lã An nghĩ đến nỗi dằn vặt cuộc sống đã qua của ông lão, ông ấy đúng là lớp dân đen. Cả cuộc đời ông chỉ biết an phận với kiếp nghèo của mình. Ông thích đàm luận, không thích gây ra nhiều phiền toái. Lã An bỗng cảm động làm sao. Thành phố này đã cho anh thấy sự đối lập quá lớn. Từ căn phòng tổng thống ở khách sạn năm sao đến ranh giới khu dân cư nghèo của một thành phố khang trang, hoa lệ. Sự khác biệt giữa hai thế giới này chỉ cần qua một ngày một đêm là anh đều đã thấu hiểu. Mùi tanh hôi của nước cống bên ngoài căn phòng ập vào qua cửa sổ làm Lã An muốn nôn, nhưng anh đã kịp kìm lại. “Thật ra cháu là phóng viên, cháu muốn viết về ông”. Anh nói.
“Phóng viên? Ái chà, không được đâu, đăng chuyện của tôi lên báo hả? Mất mặt lắm” - Mặt ông lão đỏ lên - “Tôi chỉ là một người nhặt rác, có gì hay ho đâu mà viết, để người ta nhìn thấy thì cười chết”.
“Không, ông là một người biết tự lực cánh sinh”, Lã An cảm thấy cổ họng mình dường như tắc nghẹn. Anh thấy khó giải thích quá, vì ông lão có vẻ rất lo lắng, anh không biết phải nói thế nào với ông. Không khí như trầm hẳn xuống. Lão Lưu không ngừng khoát tay: “Đừng viết về tôi, đừng viết về tôi, tôi sẽ rất mất mặt đấy…”. Dường như chợt nghĩ ra điều gì đó, ông lão đi đến bức tường trước mặt. Thoáng một cái, ông mở tấm vải trắng trên tường ra. “Chàng trai trẻ, cậu xem tôi cất giữ cái gì này!”. Đôi mắt ông như sáng lên.
Lã An chỉ cảm thấy một luồng ánh sáng loé lên trước mắt anh. Đó là một giá gỗ đặt âm trong tường, nó giống như một cái tủ sách được phân ra rất nhiều ngăn. Cả khoảng cách từ mặt đất đến gần trần nhà, bày đầy trong mỗi ngăn gỗ là những lọ nhỏ nước hoa! Đủ các loại lọ to lọ nhỏ, hình dạng, kiểu dáng kì lạ đặc biệt… tạo nên một thế giới kì ảo lạ thường. Lã An tiến gần đến nó, anh gửi thấy một mùi hương trộn lẫn từ hàng ngàn, hàng vạn loại nước hoa với nhau. Đó là một mùi hương vô cùng tinh tế, nồng đến nổi anh phải hắt hơi một cái. Anh cảm thấy những lọ nước hoa thật là đẹp. Dưới ánh đèn, nó phát ra thứ ánh sáng lung linh đến mê người. Đó là một thế giới đầy hương hoa, một quốc gia trong suốt được tạo nên từ thủy tinh và mùi hương, đó là một giấc mơ đầy thư thái, giấc mơ thủy tinh, giấc mơ do ông lão nhặt rác dựng nên. Niềm vui mừng cùng ánh lên trong mắt anh và ông lão, anh reo lên một tiếng, "Đẹp quá, đẹp thật!"
Lã An về đến nhà thì đã khuya lắm rồi. Anh trò chuyện với ông lão rất lâu, nhưng không phải một buổi phỏng vấn mà là lắng nghe. Lắng nghe một người dù bị cuộc sống vùi dập nhưng vẫn lạc quan. Anh cảm thấy lòng mình ấm lên, sự cô đơn giữa phố thị đã biến mất. Thật vậy, lòng tin vào cuộc sống chính là phải biết tiến lên phía trước. Có ngại gì mỗi ngày phải ngửi cái mùi nước cống hôi thối ấy. Nhưng suy cho cùng, cuộc sống luôn còn có cái gì đó để có thể sáng tạo và mong đợi. Anh bước vào nhà, thấy đèn trong nhà đều bật sáng, anh nghiêng đầu nhìn vào phòng Dương Linh, cô đang ngủ trên giường. Trên bàn phòng khách đặt một nồi lẩu điện đang sôi. Bấy giờ Lã An mới cảm thấy cơn đói cồn cào. Anh ngồi vào bàn, lấy một cái bát gấp thức ăn trong nồi lẩu ra. Cửa phòng có tiếng động, Dương Linh với đôi mắt nhập nhèm ngái ngủ đang dựa cửa nhìn anh. “Mới về hả? Anh bận đến thế à! Người ta làm mì cho anh đó, đợi hai tiếng đồng hồ cũng không thấy anh về. Không biết chết ở đâu rồi nữa!”.
Lã An cười biết lỗi, “Hôm nay anh đi phỏng vấn và sống cùng một ông lão nhặt rác suốt cả ngày trời...”
“Hèn gì người hôi đến vậy, ngày mai anh có phải đi nhặt rác nữa không?” - Cô giận dữ nhìn anh, bước đến giật lấy cái bát không trên tay anh, giúp anh gắp một bát đầy thịt, cà chua, trứng gà, tiêu, lại thêm mì, sau đó đặt trước mặt anh - “Ăn đi, đồ quỷ đói”.
“Em ăn chưa?”, Lã An hỏi, anh thấy dáng đi uể oải của cô thật cuốn hút, cổ áo tuột một góc, để hở một phần ngực. Anh đưa tay sửa áo cô lại. Mặt cô đỏ lên.
“Ăn lâu rồi”. - Cô bực bội đáp, rồi đột nhiên cô vui mừng hẳn lên - “À, nói cho anh biết nha, em lại có việc làm rồi, em đăng kí xin việc ở hội chợ việc làm tổ chức ở trung tâm triển lãm quốc gia. Kết quả là em đã tìm được việc làm, ngày mai em có thể đến Công ty thông tin vệ tinh vô tuyến Nokia làm việc, tiền lương không dưới 3.000 tệ 1 tháng, em vui quá!”.
Lã An cười. “Tốt quá rồi. Anh biết công ty đó. Họ là công ty chuyên phát triển mạng lưới điện thoại di động vô tuyến và các thiết bị thông tin khác. Không chừng anh mua một cái chỗ em có khi lại rẻ hơn”. Có việc làm tất nhiên là vui rồi, bỗng nhiên Dương Linh nhớ ra việc gì. “Này, đồ ngốc, anh không thấy trong nhà có gì khác hả?”.
Lúc đó Lã An mới nhìn một vòng quanh nhà, hình như nhà cửa sáng sủa hẳn lên, chắc là cô ấy dọn dẹp rồi. Tất cả đồ đạc trong nhà đều được chùi sạch bóng, thì ra ngôi nhà này cũng có thể tinh tươm như thế! Lã An suýt chút nữa không tin vào mắt mình. Anh còn phát hiện trên chiếc tủ lạnh cũ thường có một bình hoa để không, nhưng hôm nay bình hoa đã được cắm đầy hoa mai đỏ và trắng! “Hoa ư, hoa mai. Em lấy ở đâu ra thế?”.
“Bẻ trộm” - cô đắc ý trả lời - “lúc chiều, em chạy ra bộ phận hoa tươi của một nhà hàng, nhân lúc mấy cô kia không để ý, em bẻ trộm vài cành. Rất đẹp phải không anh? Ở đâu có em thì ở đó có hoa tươi, không cần biết là hoa trộm hay mua.” Cô lại đứng dậy - “Anh ăn cơm mau đi, ăn xong em lại nói chuyện tiếp với anh”.
Lã An cảm thấy ấm áp trong lòng, anh thấy từ hôm qua tới giờ, cuộc sống của anh hình như đã được điểm thêm những gam màu tươi tắn hơn. Những sắc màu này vốn tồn tại trong cuộc sống, chỉ cần biết đón nhận, và phải đón nhận bằng chính con tim mình. Anh cảm thấy mì rất ngon. Anh ăn hết mì rồi đi súc miệng. Anh cảm thấy tất cả mọi thứ trong ngôi nhà thật sảng khoái, có lẽ tất cả là do Dương Linh đã mang lại. Ở đâu có phụ nữ thì không khí ở đó sẽ thay đổi, nhưng mình và cô ấy chỉ là bạn đồng minh, cùng nhau đối mặt với cổ máy mài mòn cuộc sống nơi đô thị này mà thôi.
“Ăn xong rồi hả? Mau đi rửa chén đi!”, Dương Linh từ phòng mình bước ra, trên trán quấn một cái khăn bóng chày. Lã An cười, nghe lời vào bếp rửa mấy cái chén đũa, đây là quy định của họ từ trước. “Anh này, anh cần có một người chăm sóc. Anh nên tìm một người vợ đi. Nhưng đừng bao giờ là người giống như em, một người bất cẩn. Vì sao anh không cưới vợ, một cô gái có thể chăm sóc cho anh đấy?”.
Lã An cười cười, “Con gái bây giờ rất thực tế, người như anh không có nhà, không có tiền, lại là dân tỉnh lẻ, có cô gái nào chịu lấy anh chứ? Họ chọn người có xe hơi, có nhà tây. Em cũng mau mau đi tìm cho mình một đại gia đi?”.
Câu nói của anh dường như đã làm tổn thương cô. Trên gương mặt cô hiện rõ vẻ giận dữ - “Anh lại nói nhăng nói cuội rồi. Em sẽ lấy một người nghèo, trí thức như anh em cũng không lấy. Hứ, nếu cần đại gia em đã lấy chồng từ lâu rồi” - Cô than thở - “Nhưng không biết em còn có thể kéo dài bao lâu nữa. Người như em thì có gì đáng giá để mà gửi gắm cho người ta cơ chứ”.
Lã An ngước mắt lên, anh thấy cô đượm buồn. “Đừng lo, tất cả rồi sẽ tốt thôi mà. Chẳng có việc gì là cứ trục trặc mãi đâu em ạ. Sáng mai em còn phải đi làm, đi nghỉ sớm đi”.
“Em thấy số anh và em đều khổ. Hay là để em chăm sóc anh”. Cô đột nhiên nói một cách chân thành với anh như thế, nhưng mặt lại đỏ bừng lên - “Chúc anh ngủ ngon”. Nói xong cô xoay lưng đi nhanh vào phòng.
Lã An ngẩn ngơ, anh chưa hiểu rõ cô ấy nói gì. “Chúc em ngủ ngon”. Anh lau tay và nói.
Sáng sớm anh vội vàng đến tòa soạn báo giao bản ghi chép mà anh đã viết tỉ mỉ, ghi lại một ngày sống và làm việc của lão Lưu nhặt rác suốt đêm hôm qua. Chủ nhiệm biểu dương anh: “Rất tốt! Cứ như thế này chúng ta sẽ nhanh chóng xoay chuyển tất cả những mối quan hệ của anh. Có thể thương lượng giảm một ít tiền với tên quản lý xưởng hóa chất đáng chết đó để lão cho cậu chuyển đi được không? 7.000 tệ để “chuộc” được thân thì hơi đắt đấy. 3.000 tệ thì sao, tòa soạn sẽ trả cho anh”. Chủ nhiệm là một người nóng tính, ông cũng lo lắng cho hoàn cảnh của Lã An. “Nhưng mà cứ cho là chuyển qua đây được thì đã sao? Chẳng phải vẫn cái cảnh nhà không có, tiền cũng không. Là phóng viên hả? Toàn là đồ chết tiệt, chung quy cũng chỉ vì chén cơm manh áo mà thôi. Cậu có biết một câu ngạn ngữ xưa không? Câu ấy là: “Phòng hỏa, phòng cướp, phòng ký giả”. Trời đất, nó coi phóng viên tụi mình với bọn trộm cướp là như nhau. Tất nhiên công việc này cũng không tốt cho lắm. Không có tiền, lấy gì tuyên truyền cho các công ty xí nghiệp? Bản thân sách báo vốn là một sản phẩm. Này, tòa soạn sẽ quyết định nhận bao thầu trang báo nhanh thôi. Bộ phận của chúng ta mỗi năm phải giao nộp 80 vạn, muốn làm gì thì làm, vậy càng tốt. Như thế tôi có thể phát lương cho các cậu nhiều một chút. Cậu xem, có đến mấy người lính dưới tay tôi, dễ gì mà xin thêm một người!”. Trưởng phòng tự nói với mình, nhưng giống như là đang nói với anh. Bỗng nhiên Lã An nhìn thấy một người đang thập thò ngoài cửa sổ, anh nhận ra đó là Hách Kiến. Cậu ta đến tìm mình làm gì nhỉ? Lã An bước ra, nhìn thấy Hách Kiến mặc một bộ đồ Tây láng mướt, bên cạnh còn có một cô gái rất xinh đẹp. Cô gái hơi gầy một chút, nhưng thân hình cũng khá thanh mảnh. “Anh Lã An, đây là bạn gái của em, Lý Mai. Đây là anh Lã An, anh ấy làm việc ở báo “Phục vụ đời sống”, anh vẫn hay kể với em đấy. Anh ấy là bạn tốt nhất của anh đấy”. Lã An bắt tay Lý Mai và mời họ vào phòng khách. “Hách Kiến, hôm nay trông cậu vui vẻ nhỉ, phát tài rồi hả?” Lã An hỏi anh ta. “Đương nhiên rồi, em viết hai câu quảng cáo cho công ty đồ lót nữ Autifan, thế là em kiếm được 3.000 tệ. Hôm nay em đến trả tiền cho anh, 300 đồng của anh đây”. Lã An cầm tiền. “Chỗ ở thế nào rồi?” Hách Kiến tỏ vẻ bí mật, “Em đã”… cậu ta kề sát tai Lã An thì thầm “Em đã ở cùng nhà với Lý Mai rồi. Bọn em ở gần khu Dương Kiều. Lý Mai, em hãy nói cho anh Lã An biết dự định của tụi mình đi”. Lý Mai không nói gì. “Cô ấy là một đầu bếp rất giỏi, anh không biết đâu, món ăn cô ấy nấu rất tuyệt, cô ấy vừa nhận thầu một quán ăn, chỗ đó nằm bên cạnh chợ Dương Kiều, có rảnh anh đến đó chơi nhé” Lã An gật gật đầu. “Anh sẽ đến mà, cuốn kịch bản điện ảnh của cậu sao rồi? Nó có tựa đề là “Người Nhập Cư” hả?” - “Em viết nó thành một quyển tiểu thuyết, hôm nay em có mang đến cho anh, nhưng chỉ là bản thảo thôi. Anh xem thử xem sao, liệu có thể tìm đạo diễn nào đó giới thiệu dùm em được không? Chẳng phải anh đã từng phỏng vấn đạo diễn Châu Hiểu Văn, Phúc Cương và Điền Trang rồi sao? Giới thiệu giúp em với, tất cả trông nhờ vào anh đấy”. Lã An nhận bản thảo. “Được thôi, anh sẽ giới thiệu giúp cậu, nhưng hiện nay ngành điện ảnh cũng không khởi sắc cho lắm. Đấy là ngành được ăn cả, ngã về không, là một ngành nghệ thuật công nghiệp. Viết kịch bản thì cũng bằng không, không như viết cho quảng cáo kiếm được nhiều tiền”. Lã An nói câu đó có ý trách Hách Kiến. Cậu ta suy nghĩ một lúc rồi nói: “Thôi em và Lý Mai đi trước đây. Có rảnh anh đến chỗ chúng em chơi nhé”. Họ đứng dậy, Lã An cũng không muốn giữ lại nên đưa họ ra đến cửa thang máy. Anh thì thầm vào tai Hách Kiến: “Lý Mai xinh đấy, cậu đúng là người nhiều mánh khóe. Thôi đi nhé”.
Lã An quay lại văn phòng, ngồi vào máy tính xem lại bản thảo của mình. Anh từ từ nhập tâm vào công việc. Anh chỉ lờ mờ thấy xung quanh mình là một thế giới mà người ta cứ đi qua đi lại hỗn loạn. Tòa nhà này đúng là một tổ ong, mọi người đều bận rộn vì các ước mơ, mưu đồ và mục đích. Họ giống như những sinh vật có cánh, đang bay trong một tòa nhà sang trọng. Bức tường thủy tinh giống như một tấm gương dùng để soi chốn thành thị này. Nó dường như có thể soi rõ nội tạng của phố thị. Người thành thị là những sinh vật có đôi cánh trong suốt, họ thích sống trong những tòa nhà tổ ong được xây dựng bằng xi măng cốt thép, trong men mật và bài tiết. Lã An vừa đánh chữ vừa nghĩ đến tòa nhà mình đang ngồi. Nó đúng là một tổ ong đang bị treo lơ lửng trên cao. Anh hơi bị chóng mặt, sốt ruột và không yên tâm. Có lẽ bọn họ đều biết anh đang nấp kín ở giữa những sinh vật có cánh. Anh càng thấy cô đơn hơn những con chim đã bị biến mất trong thành phố này. Thành thị, một kiệt tác do con người làm ra, đó là một không gian gồm nhiều đường ống ngầm chằng chịt, chẳng hạn như: hệ thống nước thải, hệ thống cung cấp hơi gas, đường rầy cùng với tất cả những tòa cao ốc trên mặt đất hợp thành. Đó chính là không gian đương đại của cuộc sống nhân loại, một thế giới hỗn độn và chết vì cô đơn. Một quần thể thân thiện mà cô độc. Một cấu tạo đa thể nhưng rời rạc. Những sinh vật có cánh trong thành phố cứ bay lượn, bận rộn, sinh sản, bài tiết và chết đi. Lã An cảm thấy đầu óc mình rất mệt, anh cho rằng mình nên thư giãn một lúc. Anh ngừng làm việc, cầm bản thảo truyện “Người Nhập Cư”, trốn trong nhà vệ sinh và ngồi trên bồn cầu để đọc nó.