1
Tất cả bọn họ đều không tìm thấy. Hoàn toàn không. Người ta thỉnh thoảng lại đưa ra những phán đoán sai lầm.
2
Bản tin dưới đây được trích từ trang nhất tờ "Derry News" ngày 21 tháng 6 năm 1958—
"Cậu bé mất tích gây ra nỗi hoảng sợ mới. Edward Corcoran, 10 tuổi, sống tại số 73 đường Charter, đã mất tích. Mẹ ruột Monica Manklin và cha dượng Richard Manklin đã báo cảnh sát. Vụ mất tích này gây ra một làn sóng hoảng loạn mới trong cư dân Derry. Theo lời bà Manklin, Edward không trở về nhà sau khi tan học vào ngày 19 tháng 6. Đó là ngày cuối cùng của học kỳ, cũng là ngày trước khi kỳ nghỉ hè bắt đầu. Khi được hỏi tại sao lại trì hoãn 24 giờ mới báo án, vợ chồng Manklin từ chối trả lời. Cảnh sát trưởng Borton cũng từ chối trả lời. Nhưng theo một nguồn tin từ sở cảnh sát, mối quan hệ giữa Edward và cha dượng không tốt, cậu bé trước đây cũng từng ngủ lại bên ngoài. Nguồn tin này còn suy đoán điểm số cuối kỳ của Edward cũng là một trong những nguyên nhân khiến cậu mất tích. Giám đốc học khu trường Derry, Harold Metcalf, từ chối bình luận về điểm số của Edward và cho rằng hồ sơ này không tiện công khai."
"'Tôi hy vọng vụ mất tích của cậu bé này không gây ra sự hoảng loạn không cần thiết,' Cảnh sát trưởng Borton nói tối qua, 'Sự bất an của công chúng là điều dễ hiểu, nhưng tôi muốn nhấn mạnh rằng mỗi năm chúng tôi đều tiếp nhận từ 30 đến 50 vụ báo án mất tích, hầu hết đều được tìm thấy an toàn trong vòng một tuần. Hy vọng lần này với Edward Corcoran cũng vậy.' Borton còn nhấn mạnh lại rằng, hàng loạt vụ án mạng xảy ra trước đó (bao gồm George Denbrough, Betty Ripsom, Cheryl Lamonica, Matthew Clements và Veronica Grogan) không phải do cùng một người gây ra. 'Mỗi vụ án đều có những điểm khác biệt rõ rệt,' Borton nói. Nhưng ông từ chối bình luận chi tiết. Ông cho biết sở cảnh sát địa phương đang tích cực triển khai điều tra và đã đạt được những kết quả đáng kể. Nhưng khi được hỏi khi nào sẽ bắt giữ hung thủ, Borton không thể tiết lộ."
Bản tin dưới đây trích từ trang nhất tờ "Derry News" ngày 22 tháng 6 năm 1958—
"Tòa án ra lệnh khai quật tử thi. Vụ mất tích của Edward Corcoran xuất hiện bước ngoặt bất ngờ. Theo yêu cầu của công tố viên quận và bác sĩ pháp y địa phương, thẩm phán tòa án Derry, Earhart Moulton, đã ra lệnh khai quật thi thể của Dorsey, em trai Edward, để tiến hành kiểm nghiệm. Dorsey Corcoran được cho là đã chết vì tai nạn vào năm 1957. Trước khi chết, cậu bé được đưa vào bệnh viện gia đình Derry trong tình trạng toàn thân có nhiều vết gãy xương, bao gồm một vết nứt hộp sọ. Cha dượng Richard Manklin khẳng định lúc đó Dorsey đang chơi trên thang gỗ trong gara thì vô ý ngã xuống. Dorsey hôn mê sau khi bị thương và qua đời 3 ngày sau đó. Edward Corcoran, 10 tuổi, mất tích vào thứ Tư. Khi được hỏi liệu vợ chồng Manklin có bị cảnh sát nghi ngờ liên quan đến vụ án của hai anh em nhà Corcoran hay không, Cảnh sát trưởng Borton từ chối bình luận."
Bản tin dưới đây trích từ trang nhất tờ "Derry News" ngày 24 tháng 6 năm 1958—
"Đánh người đến chết, Manklin bị bắt. Hôm qua, sở cảnh sát Derry đã tổ chức họp báo, Cảnh sát trưởng Richard Borton tuyên bố Richard Manklin đã bị bắt giữ vì bị cáo buộc sát hại con riêng của vợ. Tháng 5 năm ngoái, Dorsey Corcoran đã chết tại bệnh viện gia đình Derry vì cái gọi là 'tai nạn'. 'Báo cáo khám nghiệm tử thi cho thấy đứa trẻ đó từng bị đánh đập tàn nhẫn,' Borton nói. Mặc dù Manklin khẳng định Dorsey ngã từ thang gỗ mà chết, nhưng báo cáo cho thấy Dorsey từng bị vật tày đánh đập dữ dội. Khi được hỏi là loại vật tày nào, Borton nói: 'Có thể là một chiếc búa. Kết luận của bác sĩ pháp y là Dorsey từng bị đánh nhiều lần bằng vật cứng có thể làm vỡ xương. Những vết thương đó, đặc biệt là vết thương trên hộp sọ, hoàn toàn khác với vết thương do ngã. Dorsey đã được đưa vào bệnh viện khi bị đánh đến thoi thóp.' Khi được hỏi diễn biến sự việc có ảnh hưởng gì đến vụ mất tích của anh trai Dorsey là Edward gần đây hay không, Cảnh sát trưởng Borton nói: 'Tôi nghĩ sự việc nghiêm trọng hơn nhiều so với dự đoán ban đầu của chúng ta, đúng không?'"
Bản tin dưới đây trích từ trang hai tờ "Derry News" ngày 25 tháng 6 năm 1958—
"Giáo viên nói Edward Corcoran 'thường xuyên đầy vết thương'. Henrietta Dumont, một giáo viên từng dạy lớp 5 trường tiểu học Derry, cho biết Edward Corcoran, người đã mất tích gần một tuần, thường xuyên 'đầy vết thương' khi đến trường. Bà Dumont nói, ngay trước khi Edward mất tích 3 tuần, có một ngày cậu bé đến trường với 'hai mắt sưng húp đến mức gần như không mở nổi. Khi tôi hỏi tại sao lại như vậy, cậu bé nói vì không ăn tối nên bố đã cho một trận'."
...Trong một cuộc phỏng vấn điện thoại ngắn, Monica Manklin nghiêm khắc bác bỏ cáo buộc của bà Dumont. "Richard chưa bao giờ đánh Dorsey, cũng chưa bao giờ đánh Edward," bà nói, "Tôi nói cho ông biết, ngay cả khi sau khi chết tôi đứng trước tòa án của Chúa, tôi cũng sẽ nói những điều tương tự."
Bản tin dưới đây trích từ trang hai tờ "Derry News" ngày 28 tháng 6 năm 1958—
"'Vì con hư nên bố phải dạy dỗ'. Trước khi bị đánh đến chết, đứa trẻ đã nói với cô giáo mầm non như vậy. Một giáo viên mầm non địa phương không muốn nêu tên hôm qua đã nói với phóng viên rằng, chưa đầy một tuần trước khi chết, bé Dorsey đến lớp với ngón cái và ba ngón tay phải bị trật khớp nghiêm trọng. 'Ngón tay thằng bé sưng như xúc xích, đến việc tô màu cũng rất khó khăn.' Giáo viên nói: 'Khi tôi hỏi chuyện gì đã xảy ra, thằng bé nói vì nó chạy lung tung trên sàn nhà mẹ vừa lau, cha dượng đã bẻ ngược ngón tay nó. Theo lời của chính Dorsey là "Vì con hư nên bố phải dạy dỗ". Nhìn bộ dạng đáng thương đó của thằng bé, tôi chỉ muốn khóc. Tôi đã cho nó uống vài viên aspirin... Anh trai 10 tuổi của Dorsey Corcoran là Edward vẫn chưa có tin tức. Tại nhà tù Derry, Richard Manklin vẫn phủ nhận việc mình chịu trách nhiệm cho cái chết của Dorsey và sự mất tích của Edward.'"
Trang nhất tờ "Derry News" ngày 6 tháng 7 năm 1958—
Borton nói Manklin sẽ bị cáo buộc tội sát hại con riêng.
Bản tin dưới đây trích từ trang nhất tờ "Derry News" ngày 24 tháng 7 năm 1958—
"Cha dượng đang khóc thừa nhận đánh chết con riêng. Trong quá trình xét xử Richard Manklin tại tòa án quận về tội sát hại con riêng Dorsey Corcoran đã xuất hiện diễn biến kịch tính. Dưới sự thẩm vấn gay gắt của công tố viên quận Bradley Whiteside, Manklin thừa nhận mình từng dùng búa đánh chết Dorsey mới 4 tuổi. Hắn đã chôn hung khí trong vườn rau của vợ. Manklin trước đây từng thừa nhận có đánh hai con riêng, nhưng chỉ là 'thỉnh thoảng, vì muốn tốt cho chúng'. Khi Manklin nức nở kể lại tội ác của mình, tòa án im lặng như tờ. 'Tôi không biết thứ gì đã kiểm soát mình. Khi nhìn thấy nó bò trên cái thang chết tiệt đó, tôi đã rút chiếc búa để trên ghế dài. Tôi không hề muốn giết nó. Chúa chứng giám, tôi không hề muốn giết nó.' 'Khi sắp chết, nó đã nói gì với ông?' Whiteside hỏi. 'Nó nói, "Đừng đánh nữa, bố. Con xin lỗi. Con yêu bố,"' Manklin nói. 'Ông có dừng tay không?' 'Cuối cùng thì cũng dừng.' Manklin nói xong liền gào khóc điên cuồng. Thẩm phán Earhart Moulton buộc phải tuyên bố hoãn phiên tòa."
Bản tin dưới đây trích từ trang 16 tờ "Derry News" ngày 18 tháng 9 năm 1958—
"Edward Corcoran đang ở đâu? Manklin, kẻ sát hại con riêng và bị kết án 10 năm tù, vẫn khẳng định mình không biết Edward đang ở đâu. Cư dân Derry vẫn có thể nghi ngờ liệu Manklin có trong sạch trong vụ mất tích của Edward hay không, nhưng hoàn toàn có thể loại trừ việc hắn là hung thủ của các vụ án mạng khác. Bởi vì khi ba vụ án mạng đầu tiên xảy ra, hắn đã bị giam giữ, còn khi bảy vụ sau xảy ra, hắn đã đang thụ án. Tất cả mười vụ án mạng vẫn đang bỏ ngỏ."
Bản tin dưới đây trích từ tờ "News Herald" ngày 19 tháng 7 năm 1967 tại Portland—
"Kẻ sát nhân tự sát tại Falmouth. Richard Manklin, kẻ phạm tội sát hại con riêng 9 năm trước, chiều qua được phát hiện đã tự sát trong căn hộ của mình. Tên tội phạm được ân xá này kể từ khi được thả khỏi nhà tù tiểu bang Shawshank năm 1964 đã luôn sống tại Falmouth. 'Mẩu giấy hắn để lại cho thấy tâm trí hắn vô cùng hỗn loạn,' trợ lý cảnh sát trưởng Falmouth, Brandon Roche nói. Ông từ chối tiết lộ nội dung mẩu giấy, nhưng theo một người trong sở cảnh sát, trên đó có hai câu: 'Tối qua tôi đã nhìn thấy Edward. Nó đã chết.' Edward trên mẩu giấy chính là anh trai của Dorsey, đứa con riêng mà hắn đã sát hại năm 1958. Cậu bé đã mất tích được 9 năm rồi."
3
Edward Corcoran đương nhiên đã chết.
Cậu chết vào đêm ngày 19 tháng 6, và hoàn toàn không liên quan gì đến gã cha dượng Manklin. Ngay lúc Ben Hanscom cùng mẹ ngồi nhà xem tivi; ngay lúc mẹ của Eddie Kaspbrak lo lắng sờ trán xem cậu có sốt hay không; ngay lúc cha dượng của Beverly Marsh (một người có tính khí cực kỳ giống cha dượng của Edward) đá cô bé một cái và bảo đi rửa bát; ngay lúc Mike Hanlon đang nhổ cỏ trong vườn nhà thì bị lũ trẻ lớp trên chửi bới; ngay lúc Richie Tozier đang lén xem những tấm ảnh phụ nữ bán khỏa thân lấy ra từ ngăn kéo của bố; ngay lúc Bill Denbrough hoảng loạn vứt bỏ cuốn album ảnh của George, thì Edward đã chết.
Mặc dù sau đó không một ai trong số họ nhớ được tình hình lúc bấy giờ, nhưng tất cả bọn họ vào khoảnh khắc Edward chết đều ngẩng đầu lên... như thể nghe thấy tiếng kêu vọng lại từ xa.
Bản tin của "Derry News" có một điểm hoàn toàn chính xác: Điểm số của Edward rất tệ, cậu không dám về nhà đối mặt với cha dượng, hơn nữa mẹ và cha dượng tháng này cứ mãi cãi vã, điều đó làm tình hình trở nên tồi tệ hơn. Mỗi khi cuộc cãi vã trở nên gay gắt, mẹ sẽ lớn tiếng chửi bới lảm nhảm, cha dượng ban đầu thì lầm bầm khó chịu, sau đó sẽ quát cô câm miệng, cuối cùng là chửi bới thậm tệ. Nhưng Edward chưa bao giờ thấy ông ta động tay động chân với mẹ, Edward cảm thấy ông ta không dám làm vậy. Trước đây Edward và Dorsey thường xuyên bị ông ta đánh đập dã man, giờ Dorsey đã chết, ông ta tính luôn phần của Dorsey lên đầu Edward.
Cuộc cãi vã của họ thỉnh thoảng lại xảy ra. Thường thấy nhất là vào cuối tháng, tức là khi phát lương. Có lúc họ cãi nhau ầm ĩ khiến hàng xóm báo cảnh sát, cuối cùng cảnh sát đến thì cuộc cãi vã mới tạm dừng. Mẹ luôn thách thức cảnh sát rằng ông ta không dám đụng vào bà, và cha dượng cũng chưa bao giờ dám làm vậy.
Khi không khí trong nhà căng thẳng, cậu chỉ có thể cố gắng ngoan ngoãn hơn, nếu không, cứ nhìn kết cục của Dorsey là biết. Cậu không biết, cũng không muốn biết chi tiết cụ thể, nhưng cậu biết tại sao. Cậu nghĩ Dorsey đã chạy đến một nơi sai lầm vào một thời điểm sai lầm. Họ nói Dorsey ngã từ trên thang xuống khi đang chơi trong gara mà chết. Mỗi khi cha dượng ngồi bên bàn bếp, tay cầm cốc bia, cúi đầu không nói một lời, Edward liền trốn thật xa – cẩn thận vẫn hơn.
Còn chiếc búa đó không còn ở trong gara nữa.
Nó bị sao rồi? Nó vứt ở đâu rồi?
Chiếc búa đó là vật yêu quý của Manklin, nghiêm cấm hai anh em cậu động vào. "Nếu đứa nào trong hai đứa dám động vào, tao sẽ móc hết ruột gan trong bụng tụi bay ra." Dorsey từng cẩn thận hỏi chiếc búa đó có phải rất quý giá không, Manklin nói chiếc búa đó không có độ giật, dù dùng lực lớn thế nào, nó cũng không bật ngược trở lại.
Bây giờ nó biến mất rồi.
Kể từ sau khi mẹ tái hôn, vì bỏ lỡ nhiều buổi học, kết quả học tập của Edward không tốt lắm, nhưng cậu tuyệt đối không phải là một đứa trẻ ngốc. Cậu nghĩ mình biết chuyện về chiếc búa đó.
Cậu nghĩ có thể Manklin đã dùng chiếc búa đó lên người Dorsey, sau đó chôn nó trong vườn hoặc vứt xuống kênh. Trong những câu chuyện kinh dị mà cậu từng đọc, những việc như vậy thường xuyên xảy ra.
Cậu đi đến gần con kênh. Nước kênh gợn sóng, mịn màng như lụa. Ánh trăng rơi trên mặt nước, lấp lánh như vảy cá. Cậu vứt mũ sang một bên, ngồi xuống bờ bê tông.
Nước sông chảy chậm rãi, đi qua nơi Edward đang ngồi, chảy về phía công viên Bassey và cây cầu gỗ của trường trung học Derry. Hai bên cây cầu đó đầy rẫy những lời chửi bới đủ loại. Có một lần Edward từng nhìn thấy trên đó viết: "Cứu người Do Thái ở Nga! Thu thập huy chương quý giá!"
Đó rốt cuộc có ý nghĩa gì?
Đêm nay Edward không đến cầu Vui Vẻ; ban đầu cậu định nằm lại một đêm dưới sân khấu âm nhạc ngoài trời trong công viên, nhưng giờ cậu quyết định ngồi ngay tại đây. Công viên là một nơi yên tĩnh, nhưng cậu nghĩ nơi tốt nhất trong công viên chính là nơi cậu đang ngồi. Cậu thích đến đây vào mùa hè, vì vào mùa hè mực nước rất thấp, dòng chảy chỉ cọ xát vào những tảng đá thấp ở hai bên bờ, phát ra âm thanh êm tai. Cậu cũng thích đến đây vào khoảng cuối tháng 3 đầu tháng 4. Mỗi khi băng tuyết tan, con kênh trở nên hung dữ, cuốn theo một lượng lớn cành cây và rác thải chảy xiết qua. Không dưới một lần cậu từng tưởng tượng mình đứng bên kênh cùng cha dượng, rồi bất ngờ đẩy gã khốn kiếp đó xuống. Gã khốn đó sẽ hét lên, hai tay quờ quạng rơi xuống nước, rồi Edward sẽ đứng bên lan can bê tông, nhìn gã bị dòng nước hung dữ cuốn đi. Đúng vậy, Edward sẽ đứng đó, lớn tiếng chửi bới: "Đây là vì Dorsey, đồ khốn! Xuống địa ngục mà chịu khổ đi!" Tất nhiên điều này là không thể, nhưng nghĩ đến thôi cũng khiến cậu thấy sảng khoái – một bàn tay nắm chặt lấy chân Edward.
Cậu cứ nhìn về phía trường học, trên mặt lộ ra nụ cười ngọt ngào, tưởng tượng gã cha dượng khốn kiếp đó bị nước sông cuốn trôi như thế nào. Nhưng, lực kéo ở chân khiến cậu giật mình, mất thăng bằng, suýt chút nữa ngã nhào xuống kênh.
Chắc là mấy gã đồng tính mà bọn trẻ lớn thường nói. Cậu nghĩ vậy, rồi cúi đầu nhìn xuống. Cậu sợ đến mức chết lặng, đái cả ra quần. Không phải là gã đồng tính nào cả.
Mà là Dorsey!
Chính là em trai Dorsey! Thằng bé vẫn mặc chiếc áo khoác thể thao màu xanh và quần đùi màu xám, chỉ là áo khoác dính đầy bùn đất, còn quần đùi bị nước thấm ướt, dính chặt vào chân. Cái hộp sọ bị lõm ở giữa của nó vẫn đang cười với Edward!
"Ed—ward." Dorsey đã chết đó gọi, giọng khàn đặc, không khác gì tiếng thây ma trong phim kinh dị. Dorsey nhe răng cười, lộ ra hàm răng vàng ố lấp lánh.
"Ed—ward... anh đến thăm em đây..."
Edward muốn gào lên. Nhưng nỗi kinh hoàng vô hạn kiểm soát cậu, khiến cậu không thể thốt nên lời.
Hai chân của Dorsey vậy mà lại dính chặt vào bức tường bê tông của con kênh, mà một trong hai gót chân cũng không biết bị thứ gì cắn mất rồi.
"Xuống đây, Ed—ward..." Sức lực trên tay Dorsey vô cùng lớn, đang kéo Edward về phía mép kênh. Edward phát ra một tiếng kêu thảm thiết nhỏ, một tay chộp lấy lan can bê tông, liều mạng thoát khỏi bàn tay đó, rồi lăn lộn bò chạy về phía trước, trong lòng nghĩ: "Nó tuyệt đối không phải là Dorsey!" Edward cuối cùng cũng hét lên. Tiếng kêu sắc nhọn xé toạc màn đêm. Cậu vừa chạy vừa quay đầu nhìn xem Dorsey ở đâu, kết quả đâm sầm vào một cây du.
Trước mắt cậu hoa lên, ngã xuống dưới gốc cây. Nhưng cậu vẫn cố gắng đứng dậy, dùng tay lau vết máu chảy ra trên đầu.
Cậu nhìn xung quanh, đâu đâu cũng là sự im lặng đáng sợ.
Ngay khi cậu tưởng mình đã thoát nạn, phía sau lại truyền đến tiếng gọi u u: "Ed—ward, chẳng lẽ anh không muốn gặp em sao?"
Edward lại lao mạnh về phía trước. Mắt cậu chằm chằm nhìn vào cột đèn đường phía trước, đó là cổng chính của công viên. Cậu nghĩ trong lòng, chạy ra khỏi cánh rừng này, đến chỗ đèn đường là an toàn rồi.
Thứ gì đó đã đuổi kịp, hơn nữa ngày càng gần.
Đèn! Chạy đến đó là tốt rồi. Đừng quay đầu lại! Đừng! Gần đến rồi – mùi tanh hôi phía sau bao vây lấy cậu, khiến cậu buộc phải quay đầu lại.
Thứ đuổi theo cậu không phải là Dorsey nữa, mà là một thứ giống như quái vật trong phim "Black Lagoon": cái mũi dài đầy nếp nhăn lật lên lật xuống; chất lỏng màu xanh không ngừng chảy ra từ cái khe đen ngòm có lẽ là miệng; đôi mắt trắng trong suốt lộ ra vẻ hung ác; vô số ngón tay có móng vuốt sắc nhọn như một tấm lưới lớn đang bao trùm lấy cậu. Nhìn thấy Edward nhìn nó, quái vật nhe răng cười.
Chính là con quái vật thở như bò này đang đuổi theo cậu! Edward lập tức hiểu ra. Nó muốn kéo cậu xuống kênh, đưa đến một nơi đen tối vô cùng, rồi ăn thịt cậu.
Edward tăng tốc mạnh mẽ. Đèn đường ngày càng gần. Cậu có thể nhìn thấy những con bướm đêm và côn trùng bay lượn xung quanh đèn đường rồi. Một chiếc xe tải phóng vụt qua phía trước, chạy về hướng đường số 2. Tài xế hoàn toàn không chú ý rằng chỉ cách chưa đầy 200 thước, một cậu bé sắp chết trong 20 giây nữa.
Edward một trận tuyệt vọng. Mùi tanh hôi phía sau cũng ngày càng gần. Cuối cùng đã bao vây lấy cậu.
"Bộp". Edward đâm sầm vào một chiếc ghế dài bên đường. Trong bóng tối, ghế dài rất khó nhìn rõ. Cậu ngã nhào xuống, chân đau nhói.
Cậu vội vàng nhìn về phía sau – quái vật đã áp sát cậu! Đôi mắt to như cái chuông bạc đó lóe lên ánh lạnh lẽo.
"Á!" Đó là âm thanh duy nhất cậu có thể phát ra. "Á! Á! Á!"
Cậu liều mạng muốn bò về phía trước, nhưng bàn tay tỏa ra mùi tanh của cá của quái vật đã nắm chặt cổ họng cậu. Ngay khoảnh khắc đó, một ý nghĩ dễ chịu lóe lên trong đầu Edward: Đây chỉ là mơ; không có quái vật thực sự, cho dù có thì cũng ở một nơi nào đó khác. Đây chỉ là mơ, ngày mai mình sẽ tỉnh dậy trên giường, hoặc có thể là dưới sân khấu âm nhạc ngoài trời, rồi mình – ngón tay của quái vật càng siết chặt, cậu gần như không thở nổi.
"Mày... không phải... là thật..." Edward thều thào nói. Nhưng trước mắt cậu một trận tối sầm. Cậu lờ mờ nhận ra tất cả những điều này là thật, chính con quái vật này muốn giết cậu.
Nhưng có phải là quái vật không? Hai tay Edward vậy mà lại đang mò mẫm trên lưng quái vật, muốn tìm khóa kéo – cho đến khi quái vật xé nát đầu cậu khỏi vai, tay cậu mới buông thõng xuống.
4
Bị ác mộng hành hạ, cả đêm không ngủ được, một cậu bé tên Mike Hanlon đã dậy rất sớm vào ngày đầu tiên của kỳ nghỉ hè. Thực ra trời chỉ mới tờ mờ sáng – tia sáng đầu tiên của màn sương mù bao phủ đã mở ra một ngày hoàn hảo của kỳ nghỉ hè.
Nhưng đã quá muộn. Bây giờ cả thế giới đều tràn ngập màu xám, tĩnh lặng như một chú mèo con đi ngang qua tấm thảm.
Mike mặc quần nhung, áo phông, giày du lịch màu đen, ăn một bát mì gói, rồi xuống lầu. Cậu đạp xe, men theo vỉa hè chạy về phía thành phố. Sương mù vẫn còn rất dày – nó thay đổi tất cả mọi thứ, khiến những thứ phổ biến nhất cũng trở nên bí ẩn và có chút tà ác. Bạn có thể nghe thấy xe cộ đang chạy, nhưng bạn lại không nhìn thấy; bạn không biết chúng ở gần hay xa, cho đến khi bạn nhìn thấy chúng hiện ra từ trong sương mù như những bóng ma.
Trên đường Jackson, cậu rẽ phải, đi qua trung tâm thị trấn, rồi men theo con hẻm Palmer băng qua đường Main, đạp xe dọc theo con hẻm này.
Trên đường Main, cậu rẽ phải, rồi đạp thẳng về phía công viên Bassey. Sắp đến cổng công viên, cậu xuống xe, dựng xe cẩn thận, rồi đi về phía con kênh. Cậu hoàn toàn bị một sức mạnh vô hình thúc đẩy, hoàn toàn không nghĩ đến hành động hiện tại của mình có liên quan đến giấc mơ ngày hôm qua. Cậu thậm chí không nhớ nổi mình đã mơ giấc mơ gì, chỉ nhớ lúc 5 giờ sáng, mình tỉnh dậy trong tình trạng đẫm mồ hôi, nghĩ rằng mình nên ăn sáng thật nhanh, đạp xe đến thành phố.
Trong công viên có một mùi vị mà cậu không thích, đó là mùi tanh của nước biển, trước đây cậu cũng từng ngửi thấy. Mặc dù bờ biển cách đây 40 dặm, bạn vẫn có thể ngửi thấy mùi của nước biển. Nhưng mùi tanh trong màn sương mù sáng nay dường như càng nồng nặc hơn, gần như có chút nguy hiểm.
Có thứ gì đó lọt vào tầm mắt cậu. Cậu cúi người xuống, nhặt lên một con dao nhỏ. Đó là một con dao gấp, một bên thân dao còn khắc hai chữ cái "E.C". Mike trầm tư nhìn con dao, rồi gấp nó lại. Ai mất đồ thì người đó xui xẻo.
Cậu lại nhìn xung quanh. Ngay cách nơi cậu tìm thấy con dao không xa, là một chiếc ghế dài bị lật ngược. Phía bên kia của chiếc ghế, cỏ đều bị đè bẹp... cách nơi đó không xa, có hai đường rãnh nông. Mặc dù cỏ rất dày, nhưng hai đường rãnh đó vẫn có thể nhìn thấy rõ ràng. Chúng hướng về phía con kênh.
Hơn nữa còn có vết máu!
Chắc là chó đánh nhau – một con chó cắn bị thương con chó khác. Nhưng ý nghĩ này gần như ngay cả bản thân cậu cũng không thể thuyết phục được. Cậu nhớ đến con chim đó. Con chim cậu nhìn thấy ở nhà máy sản xuất đồ sắt Kitchener.
Đừng suy nghĩ lung tung nữa! Mau rời khỏi đây thôi.
Thế nhưng chẳng hiểu vì lý do gì, nó vẫn men theo hai đường rãnh đó mà đi tiếp. Trong đầu nó hiện lên một câu chuyện. Một câu chuyện kinh dị. Một vụ án mạng. Đúng rồi. Đó là một đứa trẻ về nhà muộn—chưa kịp về đến nhà sau giờ giới nghiêm, rồi kẻ sát nhân đã bắt lấy nó. Vậy kẻ sát nhân xử lý thi thể thế nào? Tất nhiên là kéo nó đến bên bờ kênh, rồi vứt xuống đó. Giống như những gì diễn ra trong phim của Hitchcock vậy.
Hai đường rãnh mà nó đang lần theo, rất có thể là do hai bàn chân kéo lê tạo thành!
Mike rùng mình, bất an nhìn dáo dác xung quanh. Câu chuyện này có vẻ hơi quá chân thực rồi.
Thử tưởng tượng xem, vụ án mạng không phải do con người gây ra, mà là một con quái vật! Giống như những con quái vật trong các câu chuyện kinh dị hay trong cơn ác mộng vậy!
Nó tin chắc rằng mình không hề thích những câu chuyện như thế. Nghe thật ngớ ngẩn. Nhưng chẳng còn cách nào khác, câu chuyện đó vẫn cứ lởn vởn trong tâm trí nó. Việc đạp xe đến thị trấn sáng nay vốn đã chẳng có mục đích gì. Việc lần theo hai đường rãnh nông trên bãi cỏ lại càng nhàm chán hơn. Bố nó còn bao nhiêu việc nhà đang đợi nó làm. Về nhà thôi. Tốt nhất là nên về thôi.
Thế nhưng—nó lại tiếp tục men theo hai đường rãnh đó mà đi. Khắp nơi đều là những vệt máu đã khô. Tuy không nhiều bằng chỗ vệt máu bên chiếc ghế dài, nhưng cũng không ít.
Nó đã nghe thấy tiếng nước chảy của con kênh. Bờ bê tông của con kênh đột ngột hiện ra trước mắt.
Trên bãi cỏ có thứ gì đó! Lạy Chúa! Mike lùi lại, lại nhớ đến con chim nó nhìn thấy vào mùa xuân năm ấy.
Mình không muốn nhìn!
Nhưng nó vẫn cúi người xuống, muốn xem rốt cuộc đó là thứ gì.
Đó là một mảnh giẻ rách dính đầy máu me.
Tiếng hải âu kêu vang bên tai nó. Mike chằm chằm nhìn mảnh giẻ rách, nhớ lại chuyện đã xảy ra vào mùa xuân.
5
Mỗi năm vào khoảng tháng Tư đến tháng Năm, trang trại của nhà Mike Hanlon sẽ bừng tỉnh sau giấc ngủ đông dài.
Đối với Mike, sự xuất hiện của mùa xuân không phải là bông hoa nghệ tây đầu tiên dưới cửa sổ bếp của mẹ, không phải là những con dế, con cá nhỏ mà lũ trẻ mang đến trường, cũng không phải là trận mở màn của giải bóng chày, mà là tiếng bố gọi tên nó để nhờ đẩy chiếc xe tải ra khỏi nhà kho. Chiếc xe tải đó được cải tạo từ một chiếc Ford cũ mèm, ghế ngồi là nửa chiếc sofa nát mà William Hanlon nhặt được từ bãi rác, còn cần số thì được lắp bằng một cái núm cửa phòng.
Hai cha con nhà Hanlon đẩy chiếc xe cổ ra đường lái xe, sau khi khởi động được máy, Mike hít hà mùi xăng đầy phấn khích, cảm nhận làn gió lướt qua mặt, một cảm giác ấm áp nảy sinh từ tận đáy lòng.
"Mùa xuân về rồi! Tất cả chúng ta đều tỉnh giấc rồi!"
Kế hoạch của một năm bắt đầu từ mùa xuân. Công việc một năm của nhà Hanlon bắt đầu từ việc nhặt đá. Để tránh đá làm hỏng lưỡi cày, họ buộc phải nhặt sạch đá trong ruộng. Công việc như vậy phải kéo dài trọn một tuần. Một lần nọ khi nhặt đá xong về nhà, Mike hỏi bố mình tại sao mỗi năm lại có nhiều đá đến thế. William châm một điếu thuốc rồi nói: "Bố tôi từng bảo, Chúa yêu đá, ruồi, cỏ dại và người nghèo hơn bất cứ thứ gì khác, nên Ngài mới tạo ra những thứ này nhiều hơn một chút."
"Nhưng năm nào chúng cũng quay lại."
"Đúng vậy. Bố nghĩ là thế. Đó là cách giải thích duy nhất." William nói.
Trong ánh hoàng hôn, phía bên kia sông Kintucky vọng lại tiếng kêu cô độc của một con chim lặn. Tiếng kêu đó thê lương đến mức khiến Mike nổi cả da gà.
"Bố, con yêu bố." Nó không kiềm chế được mà thốt lên. Tình yêu của nó mãnh liệt đến mức nước mắt chực trào trong hốc mắt.
"Thằng bé ngốc, bố cũng yêu con." Người cha nói xong, ôm chặt lấy nó. "Chúng ta về thôi. Đi tắm rửa cái đã, rồi tận hưởng cơm mẹ nấu."
Buổi tối, khi bố mẹ đang xem tivi trong phòng, Mike nằm trên giường, mơ màng nghĩ: "Mùa xuân đến rồi, tạ ơn Chúa, mùa xuân lại về rồi."
Mùa xuân là một mùa bận rộn, một mùa mang lại niềm vui.
Đợi đến khi nhặt xong đá, cày xong ruộng, họ phải bắt đầu gieo hạt. Bận rộn trồng rau trồng đậu, mùa hè sẽ trôi qua trong vô thức, cuối cùng đón chào mùa thu hoạch. Nhưng ngay khi thu hoạch xong, thời tiết lại trở nên lạnh hơn, mặt đất phủ đầy sương giá. Mike sẽ đứng ở cửa sân, cái mũi đỏ ửng, nhìn bố lại lái máy cày và chiếc Ford cổ quay về. Trong lòng nó có chút hụt hẫng, "Chúng ta lại phải đi ngủ rồi... mùa xuân biến mất rồi... mùa hè trôi qua rồi... mùa thu hoạch cũng kết thúc rồi." Cho dù là những đàn chim bay về phương Nam hay ánh nắng ngày càng nhạt nhòa đều khiến nó cảm thấy buồn bã, có lúc thậm chí muốn khóc thành tiếng.
Làm việc vặt và đi học, đi học và làm việc vặt, đó là cuộc sống của Mike. Nhưng đôi khi cũng không hẳn là vậy. Mỗi khi Mike đi học về, nó đặt cặp sách xuống trước, sau đó ăn chút gì đó, cuối cùng là xem mẩu giấy bố để lại cho nó. Bố sẽ cho Mike biết ông đang ở đâu, rồi giao cho nó những việc vặt như nhổ cỏ. Nhưng ít nhất một tuần một lần—có khi hai lần—bố sẽ không để lại mẩu giấy nào. Những ngày như thế, Mike sẽ cảm thấy cả người nhẹ nhõm.
Đôi khi bố còn để lại những mẩu giấy khác, bảo nó đi dạo xung quanh. Điều đó giúp Mike biết được không ít chuyện về thị trấn Derry.
Nhưng có một lần, bố đưa nó đến tòa án để xem một cỗ máy đáng sợ mà Cảnh sát trưởng Borton tìm thấy trên gác mái. Đó là một chiếc ghế đúc bằng sắt, xung quanh còn có xích sắt, khiến Mike nhớ đến chiếc ghế điện trong Nhà tù Sing Sing. Cảnh sát trưởng Borton bảo nó ngồi vào ghế, rồi xích nó lại.
Mike nhìn bố và Cảnh sát trưởng Borton với ánh mắt đầy nghi hoặc, không hiểu sao chiếc ghế này lại trở thành hình cụ đáng sợ để trừng phạt "kẻ lang thang" (theo lời Borton).
"Đúng là một đứa trẻ," Cảnh sát trưởng Borton cười lớn, "Những kẻ lang thang bị trói ở đây hai ba tiếng thì không sao, nhưng bốn năm tiếng trôi qua, chiếc ghế này sẽ không còn dễ chịu nữa; đợi đến khi mười sáu, mười bảy tiếng trôi qua, phần lớn bọn họ đều sẽ khóc lóc van xin; đợi đến khi 24 tiếng trôi qua, tất cả mọi người đều sẽ nguyện thề trước mặt Chúa, sau này không bao giờ dám đến Derry nữa. Dùng chiếc ghế này để thuyết phục người ta đúng là hiệu quả thật."
Ngồi trong ghế, Mike đột nhiên cảm thấy cả người khó chịu vô cùng. "Có thể cho cháu ra không ạ?" Nó rất lịch sự nói. Borton lại cười lớn. Có một khoảnh khắc, Mike cảm thấy Borton sẽ dùng tay cầm chìa khóa mà nói với nó: "Tất nhiên là ta sẽ cho cháu ra... sau khi đợi 24 tiếng."
Trên đường về nhà, Mike hỏi bố: "Tại sao bố lại đưa con đến đó ạ, bố?"
"Đợi con lớn lên rồi sẽ biết." William trả lời.
"Bố không thích Cảnh sát trưởng Borton, phải không ạ?"
"Đúng vậy." Câu trả lời của bố ngắn gọn đến mức Mike không dám hỏi thêm nữa.
Nhưng Mike thích hầu hết những nơi mà bố bảo nó xem hoặc đưa nó đi xem. Như vậy, khi Mike 10 tuổi, William đã thành công truyền dạy cho nó một phần lịch sử của Derry.
Mùa xuân năm 1958, bố để lại cho nó một mẩu giấy ở mặt sau phong bì, trên đó viết: "Không có việc vặt. Nếu muốn thì hãy đạp xe đến đường Pasture. Ở bên trái con đường, con sẽ thấy nhiều tòa nhà cũ và máy móc cũ. Đi dạo quanh đó, rồi mang về một món quà lưu niệm. Đừng đến gần miệng hầm! Trước khi trời tối phải về. Con biết tại sao đấy."
Mike tất nhiên biết tại sao.
Mike một mình đạp xe đến đường Pasture. Đường không xa, chỉ hơn 4 dặm một chút.
Nó dựng xe đạp dựa vào một hàng rào nước bên trái con đường, rồi trèo qua hàng rào. Thời gian khoảng 3 giờ chiều, nó chỉ có thể ở lại một tiếng. Nếu không, nó về nhà sẽ muộn, mẹ sẽ lo lắng.
Nó băng qua cánh đồng, hướng về phía một đống đổ nát lớn ở giữa. Đó tất nhiên là phế tích của Nhà máy sắt Kitchener—nó từng đạp xe qua đó, nhưng chưa bao giờ nghĩ đến việc đi khám phá thực sự; cũng chưa bao giờ nghe nói có đứa trẻ nào từng đến đó. Bây giờ, nó cúi người xuống, xem xét mấy đống gạch sắp đổ sụp, nó nghĩ mình đã hiểu ra lý do.
Dưới bầu trời xanh ngắt, cánh đồng này trông đặc biệt sáng sủa; nhưng đồng thời cũng có chút quái dị—ngoài tiếng gió ra, cả đống đổ nát im lìm không một tiếng động. Mike cảm thấy mình giống như một nhà thám hiểm, phát hiện ra những tàn tích cuối cùng của một thành phố đã diệt vong trong truyền thuyết.
Đi tiếp về phía trước, nó nhìn thấy trên bãi cỏ bên phải nhô lên một cái cột trụ bằng gạch khổng lồ. Nó chạy lại, hóa ra là ống khói lớn đã đổ sụp của nhà máy sắt. Nó nhìn vào miệng ống khói, một luồng hơi lạnh chạy dọc sống lưng. Bên trong to đến mức nếu muốn, nó hoàn toàn có thể đi vào được. Nhưng nó không muốn vào. Chỉ Chúa mới biết thứ đen sì, nhầy nhụa bám vào mặt trong ống khói là gì. Biết đâu có bọ cánh cứng hay quái thú gì đó sống bên trong. Một cơn gió thổi qua, bên trong phát ra âm thanh kỳ lạ và sắc nhọn. Mike bất an lùi lại, đột nhiên nhớ đến bộ phim tối qua nó và bố đã xem. Tên phim là "Rodan". Mỗi khi Rodan xuất hiện, bố sẽ cười lớn và hét lên: "Bắt lấy con chim đó, Mike!" Mike sẽ dùng ngón tay làm động tác bắn súng. Cuối cùng mẹ đi vào, bảo họ yên lặng một chút, nói rằng ồn ào khiến mẹ đau đầu.
Nhưng bây giờ dường như chẳng còn buồn cười nữa. Trong phim, Rodan là một con chim lớn bị một nhóm công nhân mỏ than Nhật Bản đào lên từ sâu trong lòng đất. Nhìn vào chỗ đen sì trong ống khói, Mike cảm thấy con chim đó đang phục kích ở đó, đang trợn mắt nhìn nó đầy hung ác...
Mike run rẩy, lùi lại phía sau.
Nó men theo ống khói đổ sụp mà đi xuống. Một nửa nhỏ của ống khói bị chôn vùi trong đất. Vì một sự thôi thúc, Mike trèo lên ống khói. Nhìn từ bên ngoài, nó không đáng sợ đến thế, hơn nữa bề mặt còn hơi ấm. Nó đứng dậy, men theo ống khói mà đi, một tay dang rộng, cảm nhận gió thổi qua mái tóc.
Đi đến cuối, nó nhảy xuống, bắt đầu kiểm tra những thứ trên mặt đất: thêm nhiều gạch vụn, khuôn đúc bị vặn xoắn, những khúc gỗ lớn, còn cả những linh kiện máy móc hoen gỉ. "Mang về một món quà lưu niệm". Mẩu giấy của bố viết như vậy. Mike muốn một món đồ khá khẩm hơn.
Nó chậm rãi tiến lại gần miệng hầm đang há hốc, nhìn những thứ trên mặt đất, cẩn thận từng chút một vì sợ mảnh thủy tinh đâm vào chân.
Mike nhớ lời cảnh báo của bố, bảo nó đừng đến gần miệng hầm; nó cũng nhớ đến thảm kịch xảy ra ở đây nhiều năm trước. Nó từng nghĩ nếu Derry có nơi nào bị ma ám, thì chắc chắn chính là nơi này. Nhưng bất kể vì lý do đó hay chính vì những chuyện đó, nó quyết tâm tìm kiếm ngay tại đây, cho đến khi tìm được món quà lưu niệm thực sự tốt.
Nó càng cẩn thận tiếp cận miệng hầm đó hơn. Một giọng nói luôn nhắc nhở nó, bảo nó rời khỏi miệng hầm đó, bùn đất bên đó có thể sụp xuống, sẽ khiến nó lún sâu vào. Chỉ Chúa mới biết có thứ sắt nhọn gì ở đó đâm xuyên qua cơ thể nó, khiến nó chết trong đau đớn tột cùng.
Nó nhặt một khung cửa sổ lên, rồi lại ném sang một bên. Trên mặt đất còn có một cái muôi cán dài rất lớn, cái cán sáng loáng dưới ánh mặt trời trông có vẻ hơi cong. Bên kia còn có một cái piston, nó dùng tay đẩy thử, không hề nhúc nhích. Thế là nó nhảy qua đó—"Nếu phát hiện một hộp sọ thì sao?" Mike đột nhiên nghĩ. "Nếu đó là hộp sọ của một đứa trẻ bị giết khi đang tìm trứng phục sinh bằng sô-cô-la thì sao?"
Nó nhìn quanh cánh đồng, cảm thấy hơi hoảng sợ. Gió thổi những nốt nhạc trầm bên tai nó; một bóng đen lặng lẽ lướt qua cánh đồng, giống như một bóng hình khổng lồ... hoặc bóng của một con chim lớn. Nó lại nhận ra nơi này yên tĩnh đến mức nào, kỳ lạ đến mức nào. Những tòa nhà đổ sụp và những món đồ sắt nghiêng ngả kia dường như đang nói rằng từ rất lâu trước đây, nơi này từng xảy ra một cuộc chiến tàn khốc.
Trong đám cỏ dại, Mike tìm thấy một cái ngăn kéo đã rời rạc. Nó liếc nhìn, ném sang một bên, rồi lại tiến gần miệng hầm hơn một chút. Đồ đạc ở đó rất nhiều. Chắc chắn có thể tìm thấy thứ gì đó có ý nghĩa.
"Nếu có hồn ma thì sao? Nếu có một đôi bàn tay thò ra từ miệng hầm thì sao? Nếu những đứa trẻ đã chết đó bước ra từ đó thì sao? Mặc bộ quần áo thối rữa, dính đầy bùn đất... không có đầu... không có chân... bị lột da..."
A! Lạy Chúa! Mau đừng nghĩ nữa!
Lại một cơn rùng mình. Lấy đại thứ gì đó rồi chuồn mau thôi. Nó cúi người xuống, gần như tiện tay lật ra một bánh răng đường kính khoảng 7 inch. Nó rút một cây bút chì từ trong túi ra, cạy sạch bùn đất dính trên răng bánh xe, rồi bỏ vào túi. Bây giờ nó phải đi rồi—nhưng nó lại không thể cưỡng lại mà đi về phía miệng hầm. Bất kể nguy hiểm thế nào, nó nhất định phải xem bên trong là gì.
Từng bước từng bước tiến về phía trước, trong lòng luôn tự nhắc nhở: "Đi mau thôi, mình đã có quà lưu niệm rồi. Không cần thiết phải xem cái miệng hầm đó. Bố bảo mình phải tránh xa nó ra."
Tim nó đập "thình thịch" dữ dội. Nhưng nó vẫn đi đến miệng hầm, nhìn xuống dưới.
Dưới đáy hầm, một con chim ngẩng đầu lên.
Mike ban đầu không dám tin vào những gì trước mắt. Mọi dây thần kinh và máu trong người nó như đông cứng lại. Nó kinh ngạc không chỉ vì nhìn thấy con chim, một con chim lớn có bộ ngực màu cam, lông màu xám; mà là những thứ trong hầm hoàn toàn nằm ngoài dự đoán của nó. Nó vốn tưởng bên trong là những cỗ máy sắt cắm trong bùn đất; nhưng thứ nó thấy là một cái tổ chim, bên trong trải đầy cỏ khô màu bạc. Con chim đó ngồi ngay chính giữa, đôi mắt đen sì như nhựa đường vừa đun sôi.
Đột nhiên bùn đất dưới chân chuyển động, Mike nhận ra mình sắp trượt xuống. Nó kêu lên một tiếng, ngã ngửa ra sau, lưng đập vào món đồ sắt cứng ngắc. Nhưng nó chưa kịp nghĩ đến nỗi đau trên lưng—tiếng vỗ cánh đập phành phạch vang lên bên tai.
Mike vừa lăn vừa bò, vừa nhìn lại phía sau. Chỉ thấy con chim lớn đó bay lên từ dưới hầm. Đôi móng vuốt phủ đầy vảy của nó cũng có màu cam. Hai cánh dài hơn 10 feet đập mạnh khiến cỏ trên mặt đất bay tứ tung. Nó không ngừng kêu lên chói tai, vài sợi lông rụng xuống, xoay tròn rơi vào trong hầm.
Mike đứng dậy, cắm đầu chạy.
Nó nhảy nhót chạy trên cánh đồng, không dám quay đầu lại. Con chim đó không giống Rodan, nhưng nó nghĩ đó là tinh linh của Rodan.
Nó ngã xuống, rồi bò dậy lại chạy tiếp. Tiếng chim kêu sắc nhọn vang lên trên đỉnh đầu nó, một đám mây đen bao trùm lấy nó. Mike ngẩng đầu lên, con chim đó đã bay qua vị trí cách đỉnh đầu nó chưa đầy 5 feet, rồi lại xoay tròn lao xuống. Gió thổi qua, một mùi khó chịu lẫn với bụi bặm xộc vào mũi.
Nó quay người chạy sang bên trái, nhìn thấy cái ống khói đã đổ sụp kia. Nó vung vẩy hai tay, liều mạng chạy về phía đó. Theo một tiếng chim kêu chói tai, phía sau đầu nó bị thứ gì đó đập mạnh một cái, cổ nóng rát. Nó cảm thấy máu tươi chảy dọc xuống lưng.
Con chim lớn lại xoay một vòng, lao về phía nó lần nữa. Nhưng Mike đã né được trong gang tấc.
Nó bây giờ đang chạy dọc theo hướng đổ sụp của ống khói. Đến cuối, rẽ trái, chạy vào bên trong ống khói, có lẽ sẽ an toàn. Cơ thể khổng lồ như vậy của con chim đó không chui vào trong ống khói được. Khi nó sắp đến nơi, con chim lớn lao xuống, cuốn lên một cơn bão; trong tiếng kêu của nó, Mike nghe thấy sự vui sướng của kẻ chiến thắng.
Mike lấy hai tay che đầu, liều mạng chạy về phía trước. Thế nhưng, móng vuốt sắc nhọn của con chim lớn đã tóm lấy một cánh tay nó. Một cơn đau dữ dội truyền đến trên cánh tay Mike. Sau đó cảm thấy cơ thể mình từ từ thẳng đứng lên, rồi mũi chân sắp rời khỏi mặt đất...
"Thả ta ra!" Mike hét lên, không ngừng giãy giụa. Đột nhiên, ống tay áo bên cánh tay bị tóm của nó bị xé toạc. Con chim lớn gào lên. Sau khi Mike thoát ra được, lại chạy tiếp, một tay gạt đi những sợi lông của con chim rơi xuống.
Nó vừa ho, vừa chịu đựng sự đau nhói của nước mắt và bụi bặm trong mắt, loạng choạng chạy vào trong ống khói. Bất kể bên trong là thứ gì, cứ vào trước đã. Nó chạy vào trong khoảng 20 feet, rồi quay đầu nhìn ra cửa hang sáng sủa. Nó thở dốc dữ dội.
Đột nhiên, tim nó lại chùng xuống: Nếu phán đoán của nó về kích thước cơ thể con chim lớn và cửa ống khói xảy ra sai sót, thì nó chẳng khác nào cầm súng săn của bố chĩa vào đầu mình rồi bóp cò! Hơn nữa... đây là ngõ cụt! Đầu kia của ống khói bị chôn dưới đất!
Con chim lớn gào lên, ánh sáng ở cửa hang lập tức bị che khuất đi rất nhiều. Mike chỉ nhìn thấy hai cái chân chim màu vàng phủ đầy vảy của nó, to như chân con bê. Con chim lớn thò đầu vào, nhìn vào bên trong. Mike nhìn thấy đôi mắt đen sì của nó, cùng với cái mỏ chim đóng mở liên tục.
Mỗi lần đóng mở, cái mỏ đó đều phát ra tiếng "đinh đinh", cảm giác sắc bén vô cùng.
Nó lại kêu lên. Âm thanh vang dội trong ống khói, Mike buộc phải bịt tai lại.
Sau đó, nó vậy mà bắt đầu len lỏi từ cửa hang đó vào trong!
"Đừng!" Mike sợ hãi hét lớn.
Ánh sáng trong ống khói không còn chút nào, trở nên tối đen như mực! Chỉ có thể ngửi thấy mùi hôi nghẹt thở trên người con chim lớn, cùng với tiếng lông chim cọ xát vào tường.
"Ra ngoài!" Mike hét lên.
Tiếng lông chim cọ xát dừng lại... rồi lại vang lên. Mike mò mẫm trên mặt đất, tìm thấy vài viên gạch, rồi liên tiếp ném ra ngoài. Gạch đập vào người con chim lớn, lại bật ngược trở lại, đập vào tường.
"Lạy Chúa!" Mike hoảng loạn nghĩ. "Lạy Chúa, đừng mà! Lạy Chúa!"
Nhưng Mike lại nhận ra mình còn may mắn—nơi nó chạy vào là đáy của ống khói, mà phần trên chính là nơi nó đang đứng hiện tại, một phần cắm sâu vào trong đất. Cho nên con chim lớn sẽ không chui được đến chỗ nó. Nhưng—nếu nó bị kẹt ở đó thì sao?
Nếu thế, nó phải chết ở đây cùng với con chim này. Chết ở đây, rồi cùng nhau thối rữa trong bóng tối.
"Lạy Chúa! Đừng mà!" Nó gào lớn, hoàn toàn không nhận ra mình đã khóc thành tiếng. Nó lại ném một viên gạch nữa, lần này vô cùng mạnh mẽ—sau này nó kể với người khác, giống như có ai đó sau lưng tiếp thêm lực đẩy khổng lồ cho cánh tay nó vậy. Viên gạch bay ra ngoài, lần này không nghe thấy tiếng "bộp" khi đập vào lông chim, mà là một tiếng "bốp". Tiếp theo là tiếng kêu đau đớn của con chim lớn. Không khí trong ống khói rung chuyển dữ dội, bụi bặm và tro than khiến Mike không ngừng ho khan.
Ánh sáng lại xuất hiện. Ban đầu rất yếu, đợi đến khi con chim lớn ra khỏi cửa hang thì hoàn toàn sáng sủa. Mike khóc lớn, quỳ trên mặt đất điên cuồng nhặt gạch. Nó phải ngăn con chim đó lại lần nữa.
Con chim lớn vẹo đầu, lại nhìn vào bên trong. Mike phát hiện sự phản kháng của mình có tác dụng: Mắt phải của con chim lớn gần như không còn nữa. Chỗ vốn đen sì đó bây giờ đầy vết máu.
Nó nhìn thấy Mike, lại muốn chui vào. Gạch của Mike lại liên tục bay ra, đập vào đầu và mỏ của nó. Con chim lớn lùi lại, thở hổn hển, há miệng ra, để lộ cái lưỡi màu bạc.
Mike dốc sức ném viên gạch cuối cùng ra—không lệch một li, đập trúng vào miệng con chim lớn. Theo tiếng kêu giận dữ và đau đớn, con chim lớn lại lùi ra ngoài.
Mike ngẩng đầu nhìn lên trên. Mặt nó dính đầy bụi bặm và tro than. Nơi duy nhất sạch sẽ chính là hai vệt nước mắt bị nước mắt rửa trôi.
Trên đỉnh đầu truyền đến tiếng bước chân đi lại của con chim lớn. "Tạch, tạch, tạch, tạch".
Mike lại lùi về sau, lại nhặt thêm rất nhiều gạch, chất đống về phía cửa ống khói—nếu nó còn dám vào, nó sẽ bắn tỉa cự ly gần. Bên ngoài vẫn rất sáng. Đã tháng Năm rồi, trời sẽ không tối quá sớm—nhưng nếu con chim lớn đó muốn đợi nó thì sao?
"Tạch, tạch, tạch, tạch."
Bây giờ nó lại có đủ đạn dược rồi. Nó lau hai tay vào quần, đợi xem điều gì sắp xảy ra.
Qua một khoảng thời gian—nó cũng không biết là 5 phút hay 25 phút, cánh của con chim lớn lại đập phành phạch, rồi nó đáp xuống cửa hang. Mike nấp sau đống gạch, liên tiếp phóng ra những "quả pháo" của mình. Lại một viên gạch đập vào chân con chim lớn, máu chảy ra đen sì như mắt của nó vậy.
Mike phấn khích gào lên: "Cút ngay! Tao thề với Chúa, tao sẽ đánh cho mày cút đi!"
Con chim lớn bay sang một bên, lại bắt đầu đi lại. "Tạch, tạch, tạch, tạch".
Mike chờ đợi.
Cuối cùng nghe thấy tiếng cất cánh của con chim lớn. Mike đợi hai chân của nó xuất hiện ở cửa hang, nhưng không có. Nó sợ đó là một cái bẫy, lại đợi thêm một lát.
Cuối cùng, nó bắt đầu tự thuyết phục mình: "Đừng sợ! Mình đâu phải là con thỏ!"
Nó nhặt nhiều gạch nhất có thể, lại nhét thêm vài viên vào trong áo sơ mi, rồi vô cùng cẩn thận bước ra khỏi cửa ống khói. Con chim lớn không còn nữa. Nhìn quanh bốn phía, cũng không thấy bóng dáng con chim lớn đâu. Nó thực sự đi rồi.
Dây thần kinh của Mike như đứt đoạn. Cậu vừa gào thét vừa vứt bỏ viên gạch trong tay, cắm đầu chạy thục mạng về phía con đường lớn. Vạt áo sơ mi tuột khỏi thắt lưng, những viên gạch bên trong rơi sạch ra ngoài. Cậu chống một tay lên hàng rào, nhảy vọt qua trong chớp mắt. Sau đó, cậu dựng xe lên, nhảy lên yên và đạp điên cuồng. Mike không dám ngoái đầu, cũng chẳng dám giảm tốc độ, mãi cho đến khi tới ngã tư đường Pasteur và đại lộ Main nơi xe cộ qua lại tấp nập, cậu mới thở phào nhẹ nhõm. Về đến nhà, cha cậu đang thay bugi cho chiếc máy kéo. William nhìn Mike từ đầu đến chân. Mike ngập ngừng một lát, rồi nói dối cha rằng mình bị ngã xe trong lúc tránh một cái ổ gà trên đường.
6
Đừng bận tâm đến những chuyện đó nữa. Mike Hanlon nhìn hai vệt rãnh nông kéo dài đến tận mép kênh. Đừng bận tâm đến những chuyện đó nữa. Biết đâu đó chỉ là một giấc mơ mà thôi. Hơn nữa—bên mép kênh còn có những vết máu đã khô.
Nhìn những thứ này, Mike lại nhìn xuống dưới. Dòng nước kênh đen ngòm chậm rãi chảy. Dọc hai bên bờ kênh là lớp bọt vàng bẩn thỉu, thỉnh thoảng lại trôi theo dòng nước, tạo thành những vòng tròn. Đột nhiên, vòng tròn ấy dường như tạo thành khuôn mặt của một đứa trẻ, trong mắt đầy rẫy sự kinh hoàng và đau đớn.
Mike như bị kim châm, nín thở.
Lớp bọt lại tách ra. Đúng lúc đó, từ bên phải cậu vang lên một tiếng nước bắn mạnh. Mike quay phắt đầu lại, ngay khoảnh khắc đó, cậu tin chắc mình đã nhìn thấy một thứ gì đó trong dòng nước kênh.
Rồi nó biến mất.
Một luồng hơi lạnh chạy dọc sống lưng Mike. Cậu rùng mình, rút từ trong túi ra con dao gấp vừa nhặt được trên bãi cỏ ném xuống kênh. Nó bắn lên một tia nước nhỏ, mặt nước tạo thành vài vòng gợn sóng... rồi chẳng còn gì nữa.
Cậu quay người lại, định đi về phía chiếc xe đạp của mình. Sau đó—cậu đột nhiên tăng tốc, chạy thục mạng về phía cổng công viên, đá văng chân chống xe rồi lao đi như tên bắn. Mùi tanh của nước biển quá nồng nặc... ở đâu cũng có.
Có thứ gì đó đang đến gần, cậu nghe thấy tiếng bước chân kéo lê trên bãi cỏ.
Cậu dùng hết sức bình sinh đạp xe, ngay cả đầu cũng không dám ngoái lại. Cậu không biết rốt cuộc là thứ gì... đã xui khiến cậu đến đó.
Sau đó, cậu cố gắng hết sức nghĩ về những công việc vặt trong nhà. Không nghĩ gì cả, chỉ nghĩ đến việc nhà. Cuối cùng cậu cũng đã thành công.
Khi ngày hôm sau nhìn thấy tiêu đề trên báo—"Bé trai mất tích gây ra nỗi hoảng sợ mới", cậu lại nhớ đến con dao gấp mình đã vứt xuống kênh—trên đó còn khắc chữ E.C. Cậu nhớ đến những vết máu trên bãi cỏ; nhớ đến hai vệt rãnh nông kéo dài tận mép kênh.