Các buổi hội chẩn ngoại thần kinh thường được tổ chức vào lúc chín giờ sáng thứ Năm hàng tuần, là dịp để các bác sĩ ngoại khoa giới thiệu và thảo luận về những ca bệnh nan y. Những phiên hội chẩn đặc biệt gần như chưa từng diễn ra, bởi việc tập hợp đông đủ các bác sĩ là điều không hề dễ dàng. Thế nhưng lúc này, căn phòng hình bán nguyệt với các dãy ghế bậc thang đã chật kín người. Những hàng bác sĩ mặc áo blouse trắng, gương mặt tái nhợt đều đang hướng mắt nhìn xuống phía dưới, nơi É-lít đang đứng. É-lít đẩy nhẹ gọng kính trên sống mũi và nói: "Như nhiều người trong số các vị đã biết, sáng mai, Phòng nghiên cứu Thần kinh Tâm thần sẽ thực hiện quy trình "nhịp điệu rìa" cho bệnh nhân – hay còn gọi là giai đoạn ba."
Khán phòng im phăng phắc, không một tiếng động. Giê-nét Rốt đứng ở góc phòng cạnh cửa ra vào, nhìn cảnh tượng trước mắt mà thắc mắc tại sao phản ứng của họ lại lạnh nhạt đến thế. Nhưng điều này cũng chẳng có gì lạ. Ai trong bệnh viện cũng biết, Phòng nghiên cứu Thần kinh Tâm thần đã chờ đợi rất lâu để có được một đối tượng ưng ý cho giai đoạn ba.
"Tôi yêu cầu các vị," É-lít nói, "không đặt câu hỏi trong lúc giới thiệu bệnh nhân. Cậu ấy là người rất nhạy cảm và dễ bất an. Chúng tôi cho rằng trước khi đưa cậu ấy vào, các vị cần nắm rõ tiền sử tâm thần của cậu ấy. Sau đây, xin mời chuyên gia tâm thần học, bác sĩ Rốt, trình bày tóm tắt." É-lít gật đầu ra hiệu, Rốt bước ra giữa phòng.
Cô ngước nhìn những hàng gương mặt trên khán đài, nhất thời cảm thấy nghẹn lời. Giê-nét Rốt sở hữu vẻ ngoài xinh đẹp với thân hình mảnh khảnh và mái tóc vàng sẫm. Cô luôn tự thấy mình quá gầy, gầy như que củi, và thường mong bản thân có thêm chút nét nữ tính dịu dàng. Tuy nhiên, cô biết nhan sắc của mình rất thu hút. Sau mười năm lăn lộn trong ngành nghề vốn do nam giới thống trị, Rốt, lúc này đã ba mươi tuổi, đã học được cách tận dụng lợi thế đó.
Cô chắp hai tay ra sau lưng, hít một hơi sâu và bắt đầu trình bày. Phần giới thiệu của Rốt rất súc tích, gãy gọn, đúng chuẩn mực cho một buổi hội chẩn quy mô lớn.
"Ha-rốt Phran-klin Bân-xơn," cô nói, "năm nay ba mươi bốn tuổi, là một chuyên gia máy tính, sức khỏe trước đây rất tốt. Hai năm trước, anh ta gặp tai nạn giao thông trên đường cao tốc Xanh Môn-ni-ca. Sau tai nạn, anh ta mất ý thức, không rõ thời gian hôn mê cụ thể, sau đó được đưa đến bệnh viện địa phương, theo dõi qua đêm rồi xuất viện vào ngày hôm sau. Sáu tháng tiếp theo anh ta vẫn bình an vô sự, cho đến khi bắt đầu xuất hiện tình trạng mà anh ta gọi là 'mất trí nhớ tạm thời'."
Khán giả im lặng, ánh mắt hướng về phía cô, chăm chú lắng nghe.
"Tình trạng mất trí nhớ này xảy ra khoảng mỗi tháng một lần, kéo dài trong vài phút. Điềm báo trước thường là cảm giác ngửi thấy một mùi lạ khó chịu. Sau khi uống rượu, tình trạng này xuất hiện thường xuyên hơn. Bệnh nhân từng hỏi ý kiến bác sĩ nội khoa địa phương, bác sĩ cho rằng do làm việc quá sức và khuyên anh ta giảm uống rượu. Bân-xơn đã làm theo, nhưng chứng mất trí nhớ vẫn tiếp diễn."
"Một năm trước – năm thứ hai sau tai nạn – anh ta nhận thấy chứng mất trí nhớ ngày càng thường xuyên và kéo dài hơn. Anh ta thường tỉnh lại trong những môi trường hoàn toàn xa lạ. Có vài lần, trên người anh ta có vết thương, mặt mũi bầm dập, quần áo rách nát, cho thấy anh ta từng ẩu đả với người khác. Tuy nhiên, anh ta hoàn toàn không nhớ chuyện gì đã xảy ra trong lúc mất trí nhớ."
Khán giả hiểu ý gật đầu. Họ hiểu những gì cô đang trình bày. Đây rõ ràng là hội chứng động kinh, có thể điều trị bằng phẫu thuật, nhưng cũng có những ca bệnh phức tạp.
"Bạn bè của bệnh nhân," cô tiếp tục, "từng nói với anh ta rằng hành vi của anh ta không bình thường, nhưng anh ta không coi trọng lời khuyên đó. Anh ta dần mất liên lạc với hầu hết bạn bè cũ. Lúc đó – cũng là một năm trước – anh ta đã đưa ra cái mà anh ta gọi là khám phá bất hủ trong công việc. Bân-xơn là chuyên gia máy tính, chuyên sâu về sự sống nhân tạo hay còn gọi là trí tuệ máy móc. Anh ta nói rằng mình phát hiện ra máy móc đang cạnh tranh với nhân loại và cuối cùng sẽ thống trị thế giới."
Lúc này, những tiếng xì xào nổi lên trong khán phòng. Lời của Rốt đã khơi gợi sự hứng thú của họ, đặc biệt là các bác sĩ tâm thần. Cô nhìn thấy vị giáo sư già Mạn Y của mình đang chống cằm ngồi ở hàng ghế cao nhất. Mạn Y hiểu rõ chuyện này.
"Bân-xơn kể về khám phá của mình với những người bạn còn lại. Họ khuyên anh ta nên đi khám bác sĩ tâm thần, điều này khiến anh ta vô cùng tức giận. Năm ngoái, anh ta càng tin chắc rằng máy móc đang âm mưu thống trị thế giới."
"Tiếp đó, sáu tháng trước, bệnh nhân bị bắt vì nghi ngờ hành hung một thợ máy máy bay. Do không đủ bằng chứng, cáo buộc đã được bãi bỏ. Nhưng sự việc khiến Bân-xơn vô cùng bất an, buộc anh ta phải tìm đến sự giúp đỡ của bác sĩ tâm thần. Anh ta mơ hồ nghi ngờ rằng chính mình là kẻ đã đánh đập người thợ máy kia. Anh ta cảm thấy điều đó thật khó tin, nhưng sự nghi ngờ mơ hồ đó cứ ám ảnh tâm trí anh ta."
"Bốn tháng trước, tức tháng 11 năm 1970, anh ta được chuyển đến Phòng nghiên cứu Thần kinh Tâm thần của bệnh viện đại học. Dựa trên bệnh sử – chấn thương não, hành vi bạo lực gián đoạn, ngửi thấy mùi lạ trước khi xảy ra bạo lực – anh ta được chẩn đoán có khả năng mắc căn bệnh hiện gọi là ADL, tức hội chứng tổn thương cấp tính không ức chế. Đây là một bệnh thực thể, bệnh nhân mất khả năng ức chế hành vi bạo lực theo chu kỳ. Như các vị đã biết, Phòng nghiên cứu Thần kinh Tâm thần hiện chỉ tiếp nhận những bệnh nhân rối loạn hành vi thực thể có thể điều trị được."
"Kiểm tra thần kinh hoàn toàn bình thường. Bản ghi điện não đồ hoàn toàn bình thường, hoạt động sóng não không có gì bất thường. Sau khi uống rượu, kiểm tra lại thì phát hiện dấu hiệu bất thường. Điện não đồ cho thấy vùng thùy thái dương phải của bệnh nhân có hoạt động phát tác. Do đó, Bân-xơn được coi là bệnh nhân giai đoạn một – đây là chẩn đoán xác định cho hội chứng ADL."
Cô dừng lại lấy hơi, để khán giả tiêu hóa những thông tin vừa rồi. "Bệnh nhân là một người rất thông minh," cô nói, "chúng tôi đã giải thích bệnh tình cho anh ta. Chúng tôi nói với anh ta rằng não bộ của anh ta đã bị tổn thương trong tai nạn, dẫn đến một loại bệnh gây ra 'cơn phát tác tư duy' – là sự phát tác về tâm lý chứ không phải thể chất, dẫn đến mất ức chế và nảy sinh hành vi bạo lực. Chúng tôi nói với anh ta rằng hội chứng này đã được nghiên cứu sâu và có thể kiểm soát được. Vì vậy, anh ta bắt đầu tiếp nhận một loạt các liệu pháp điều trị bằng thuốc thử nghiệm."
"Ba tháng trước, Bân-xơn lại bị bắt vì cáo buộc hành hung người khác. Nạn nhân là một vũ công 24 tuổi, người này sau đó đã rút lại cáo buộc. Phía bệnh viện đã can thiệp giúp anh ta một chút."
"Một tháng trước, liệu trình thử nghiệm thuốc kết thúc. Kết quả là, bất kỳ loại thuốc nào hay sự kết hợp thuốc nào cũng không mang lại chuyển biến cho bệnh tình của Bân-xơn. Do đó, anh ta là bệnh nhân giai đoạn hai – bệnh nhân hội chứng ADL kháng thuốc. Vì thế, anh ta được sắp xếp để thực hiện phẫu thuật ngoại khoa giai đoạn ba, đây chính là điều chúng ta sẽ thảo luận hôm nay."
Cô dừng lại một lát. "Trước khi tôi đưa anh ta vào," cô nói, "tôi muốn bổ sung thêm một câu, chiều qua anh ta đã tấn công một nhân viên trạm xăng, đánh người đó rất thê thảm. Ca phẫu thuật của anh ta được lên lịch vào ngày mai, chúng tôi đã thuyết phục cảnh sát giao anh ta cho chúng tôi giám hộ. Nhưng về mặt pháp lý, anh ta vẫn đang chờ xét xử vì tội hành hung."
Cô quay người đi ra để đưa Bân-xơn vào, căn phòng im phăng phắc.
Bân-xơn đang ngồi trên xe lăn ngoài phòng hội chẩn, mặc bộ đồ ngủ sọc xanh trắng của bệnh viện. Khi Giê-nét Rốt xuất hiện, anh ta mỉm cười: "Chào bác sĩ Rốt."
"Chào Ha-ri," cô cũng mỉm cười đáp lại, "anh cảm thấy thế nào?"
Tất nhiên, Rốt nhìn thấu cảm giác của anh ta. Bân-xơn đang căng thẳng và sợ hãi: những giọt mồ hôi lấm tấm trên môi trên, đôi vai co rúm, hai tay nắm chặt đặt trên đầu gối.
"Tôi cảm thấy rất tốt," anh ta nói, "thực sự rất tốt."
Theo sau Bân-xơn là Mô-rít, người đẩy xe lăn, cùng một viên cảnh sát. Cô hỏi Mô-rít: "Anh ta cũng vào cùng chúng ta sao?"
Không đợi Mô-rít trả lời, Bân-xơn dùng giọng khinh khỉnh nói: "Tôi đi đâu, anh ta theo đó."
Viên cảnh sát gật đầu, lộ vẻ lúng túng.
"Được rồi," cô nói.
Cô mở cửa, Mô-rít đẩy xe lăn của Bân-xơn vào phòng hội chẩn, thẳng đến trước mặt É-lít. É-lít bước tới bắt tay Bân-xơn.
"Chào ông Bân-xơn, rất vui được gặp ông."
"Chào bác sĩ É-lít."
"Chúng tôi mời ông đến đây," É-lít nói, "là để ông trả lời một số câu hỏi của các bác sĩ này." Ông chỉ tay vào những người đàn ông đang ngồi trên các dãy ghế hình bán nguyệt. "Họ sẽ không làm ông cảm thấy căng thẳng đâu, phải không?"
É-lít buột miệng hỏi một câu, Rốt cau mày. Cô đã tham dự hàng trăm buổi hội chẩn như thế này, lần nào cũng không thể thiếu câu hỏi liệu bệnh nhân có cảm thấy căng thẳng khi bị những bác sĩ đang nhìn xuống mình hay không. Bệnh nhân khi trả lời câu hỏi trực diện này luôn phủ nhận việc mình cảm thấy căng thẳng.
"Tất nhiên là họ làm tôi căng thẳng," Bân-xơn nói, "gặp họ thì ai mà chẳng căng thẳng."
Rốt cố nhịn cười, tạ ơn trời đất, cô thầm nghĩ.
Sau đó Bân-xơn nói: "Nếu ông là một cái máy, tôi đưa ông đến trước một nhóm chuyên gia máy tính, họ muốn tìm ra lỗi của ông và sửa chữa ông, điều đó sẽ như thế nào? Ông sẽ cảm thấy ra sao?"
É-lít cảm thấy lúng túng. Ông đưa tay vuốt lại mái tóc ngày càng thưa thớt, liếc nhìn Rốt. Rốt lắc đầu, ra hiệu rằng hoàn toàn không được. Đây không phải nơi để thăm dò bệnh tâm thần của Bân-xơn.
"Tôi cũng sẽ căng thẳng," É-lít nói.
"Phải," Bân-xơn nói, "giờ thì ông hiểu rồi chứ?"
É-lít nuốt nước bọt.
Hắn đang cố tình giả vờ giận dữ, Rốt thầm nghĩ, đừng mắc bẫy hắn.
"Nhưng tất nhiên tôi không phải là máy, đúng không?" É-lít nói.
Rốt ở bên cạnh cau mày nhăn trán.
"Khó nói lắm," Bân-xơn nói, "một số chức năng của ông chính là sự lặp lại và mang tính máy móc. Từ góc độ này mà xét, chương trình thiết lập của chúng rất đơn giản và tương đối rõ ràng, nếu ông..."
"Tôi nghĩ," Rốt đứng dậy nói, "có lẽ bây giờ chúng ta nên nghe câu hỏi từ các vị khách mời."
É-lít rõ ràng không thích bị ngắt lời, nhưng ông không nói gì. Bân-xơn cuối cùng cũng im lặng. Rốt ngước nhìn khán giả, một bác sĩ ở hàng ghế sau giơ tay nói: "Ông Bân-xơn, ông có thể kể chi tiết hơn về mùi mà ông ngửi thấy trước khi mất trí nhớ không?"
"Chẳng có gì để kể cả," Bân-xơn nói, "mùi rất lạ, chỉ vậy thôi, rất khó ngửi, nhưng không nói rõ giống mùi gì được, không biết ông có hiểu ý tôi không. Ý tôi là ông không thể xác định đó là mùi gì. Băng từ của trí nhớ xuất hiện khoảng trống."
"Ông có thể nói nó giống mùi gì không?"
Bân-xơn nhún vai. "Có lẽ giống... phân lợn trong dầu thông."
Một khán giả khác giơ tay. "Ông Bân-xơn, chứng mất trí nhớ của ông ngày càng thường xuyên, liệu thời gian mất trí nhớ có ngày càng dài ra không?"
"Có," Bân-xơn nói, "bây giờ kéo dài đến vài tiếng đồng hồ."
"Sau khi tỉnh lại từ cơn mất trí nhớ, ông có cảm giác gì?"
"Dạ dày khó chịu."
"Có thể nói cụ thể hơn không?"
"Đôi khi tôi nôn mửa. Thế đã đủ cụ thể chưa?"
Rốt cau mày. Cô có thể thấy Bân-xơn sắp nổi giận. "Còn câu hỏi nào nữa không?" cô hỏi, thầm hy vọng sẽ không còn câu hỏi nào nữa. Cô ngước nhìn khán giả, trong phòng xuất hiện một khoảng lặng dài.
"Được rồi," É-lít nói, "có lẽ chúng ta có thể tiếp tục thảo luận về các chi tiết cụ thể của ca phẫu thuật giai đoạn ba. Những điều này ông Bân-xơn đã biết rõ, nên ở lại cũng được, đi cũng được, xin tùy ý."
Rốt không đồng tình với cách nói này. É-lít đang phô trương bản thân, đây là bản năng của bác sĩ ngoại khoa, thích thể hiện cho mọi người thấy bệnh nhân của mình không quan tâm đến việc bị mổ xẻ. Mời – dám mời Bân-xơn ở lại phòng là một việc làm không thỏa đáng.
"Tôi ở lại," Bân-xơn nói.
"Rất tốt," É-lít nói. Ông bước tới bảng đen vẽ một sơ đồ đơn giản về não bộ. "Chú ý," ông nói, "quá trình phát triển hội chứng ADL mà chúng ta hiểu là, một bộ phận nào đó của não bị tổn thương, từ đó hình thành một vết sẹo. Nó giống như vết sẹo trên các cơ quan khác của cơ thể – có nhiều mô xơ, nhiều sự co rút và biến dạng. Vết sẹo này trở thành trung tâm phóng điện bất thường, chúng ta thấy sóng điện lan rộng từ trung tâm ra ngoài, giống như những gợn sóng do một hòn đá ném xuống ao."
É-lít chấm một điểm trên sơ đồ não bộ, sau đó vẽ vài vòng tròn xung quanh điểm đó.
"Những gợn sóng điện này gây ra phát tác. Trung tâm phóng điện ở một số bộ phận của não bộ sẽ gây ra những cơn run rẩy và sùi bọt mép, các bộ phận khác lại gây ra hiện tượng khác. Nếu trung tâm nằm ở thùy thái dương, giống như trường hợp của ông Bân-xơn, thì sẽ mắc hội chứng tổn thương cấp tính không ức chế – xuất hiện những ý nghĩ kỳ quái và hành vi bạo lực, điềm báo điển hình của nó thường là ngửi thấy một loại mùi nào đó."
Bân-xơn nhìn, nghe và gật đầu.
"Ngoài ra," É-lít nói, "chúng ta biết được từ công trình của nhiều nhà nghiên cứu rằng, coi sự mất ức chế theo giai đoạn trong hội chứng ADL là sự phát tác theo nghĩa thông thường là không đúng. Chúng có lẽ chỉ là sự gián đoạn não bộ không liên tục do tổn thương cơ quan gây ra. Tuy nhiên, sự xuất hiện của những gián đoạn này thường có mô hình độc đáo, nên để thuận tiện, chúng ta gọi đó là phát tác. Chúng ta biết rằng, thực hiện kích điện vào bộ phận liên quan của não bộ có thể ngăn chặn sự phát tác này. Sự phát tác toàn diện không ức chế cần vài giây – đôi khi dài đến nửa phút. Trong thời gian này, thực hiện kích điện có thể ngăn chặn phát tác."
Ông đánh một dấu "X" lớn lên vài vòng tròn, sau đó vẽ lại một sơ đồ cấu trúc não bộ liền đầu và cổ. "Chúng ta đối mặt với hai vấn đề," ông nói, "thứ nhất, đâu là vị trí đúng để kích điện? Đối với bệnh nhân ADL, chúng ta đại khái biết nguồn bệnh là hạnh nhân, tức là phần tiền duyên của cái gọi là hệ thống rìa não bộ. Chúng ta không biết vị trí chính xác của nó, nhưng chúng ta có thể giải quyết vấn đề này bằng cách cấy một lượng lớn điện cực vào não bộ. Ông Bân-xơn sẽ được cấy bốn mươi điện cực vào sáng mai."
Ông vẽ hai đường thẳng đi vào não bộ.
"Khó khăn thứ hai của chúng ta là làm sao biết được sự phát tác sắp xảy ra, chúng ta phải biết khi nào thực hiện kích điện ngăn chặn. Rất may là các điện cực dùng để kích điện cũng có thể dùng để 'đọc' hoạt động điện não của não bộ. Trước khi phát tác, hoạt động điện não sẽ xuất hiện mô hình độc đáo."
É-lít dừng lại một lát, liếc nhìn Bân-xơn, sau đó ngước nhìn khán giả.
"Vì vậy, chúng ta có hệ thống phản hồi – vẫn dùng điện cực phát ra kích điện để đo lường sự phát tác sắp bắt đầu, sau đó phát ra kích điện ngăn chặn. Thiết bị phản hồi được điều khiển bởi một máy tính."
Ông vẽ một hình vuông nhỏ trên cổ của sơ đồ.
"Phòng nghiên cứu Thần kinh Tâm thần đã chế tạo một máy tính, nó sẽ giám sát hoạt động điện não của não bộ. Khi phát hiện sự phát tác sắp xảy ra, nó sẽ phát ra kích điện vào khu vực chính xác. Máy tính này nhỏ bằng con tem, nặng một phần mười ounce, nó sẽ được cấy dưới da cổ của bệnh nhân."
Tiếp đó, ông vẽ một hình chữ nhật dưới cổ và vài sợi dây kết nối máy tính với hình vuông nhỏ.
"Chúng ta dùng một hộp năng lượng Plutonium PP-J làm thiết bị cung cấp điện cho máy tính, hộp nguồn sẽ được cấy dưới da vai, như vậy bệnh nhân có thể hoàn toàn dựa vào chính mình. Hộp nguồn có thể cung cấp điện liên tục trong hai mươi năm, sẽ không xảy ra vấn đề gì."
Ông dùng phấn gõ vào vài bộ phận khác nhau trên sơ đồ. "Đây trở thành một vòng phản hồi hoàn chỉnh – não bộ, đến điện cực, đến máy tính, đến hộp nguồn, rồi quay lại não bộ. Đây là một vòng khép kín tách rời khỏi bên ngoài." Ông quay sang Bân-xơn. Bân-xơn nhìn cuộc thảo luận của họ, trên mặt lộ ra vẻ thờ ơ, không quan tâm.
"Có ý kiến gì không, ông Bân-xơn? Có gì muốn nói hoặc bổ sung không?"
Rốt thầm phàn nàn. Cô biết É-lít chỉ muốn tỏ ra là một người quan tâm đến bệnh nhân, nhưng trước ca phẫu thuật đáng sợ như vậy mà bắt bất kỳ bệnh nhân nào phát biểu ý kiến đều là không nên, ông ta đặt câu hỏi như thể bản thân bệnh nhân không cần phải trải qua phẫu thuật vậy. Điều này thật quá đáng.
"Không," Bân-xơn nói, "tôi không có gì để nói cả." Anh ta ngáp một cái.
Xe lăn của Bân-xơn được đẩy ra khỏi phòng, Rốt đi theo. Thực ra cô không cần tiễn anh ta, nhưng cô lo lắng cho bệnh tình của anh ta – và cũng cảm thấy có lỗi vì cách É-lít đối xử với anh ta. Cô nói: "Anh thấy cuộc thảo luận này thế nào?"
"Tôi thấy rất thú vị," anh ta nói.
"Tại sao?"
"Ừm, cuộc thảo luận hoàn toàn mang tính chuyên môn, tôi cứ tưởng nó sẽ giàu tính triết lý hơn."
"Chúng tôi là những người thực dụng," cô khẽ nói, "xử lý các vấn đề thực tế."
Bân-xơn cười. "Niutơn cũng vậy," anh ta nói, "còn có vấn đề gì thực tế hơn vấn đề tại sao quả táo rơi xuống đất chứ?"
"Anh thực sự nhìn thấy hàm ý triết lý trong đó sao?"
Bân-xơn gật đầu. "Có," anh ta nói, "cô cũng vậy. Cô chỉ là giả vờ không nhìn thấy thôi."
Cô sau đó dừng bước, nhìn Bân-xơn ngồi trên xe lăn được đẩy đến cửa thang máy. Bân-xơn, Mô-rít và viên cảnh sát kia chờ chuyến thang máy tiếp theo ở hành lang. Mô-rít nóng lòng, bấm nút liên hồi. Lúc này, thang máy đến, họ đều bước vào, Bân-xơn vẫy tay lần cuối. Cửa thang máy đóng lại.
Rốt quay người đi về phía phòng hội chẩn.
"...đã chế tạo ra mười năm rồi." É-lít thao thao bất tuyệt. "Ban đầu nó dùng cho máy trợ tim, cần phải thực hiện một cuộc tiểu phẫu khoảng một năm một lần để thay pin. Bác sĩ ngoại khoa và bệnh nhân đều thấy phiền phức. Hộp nguồn nguyên tử hiện nay hoàn toàn đáng tin cậy, tuổi thọ dài. Nếu ông Bân-xơn còn sống đến lúc đó, chúng ta có thể phải đến năm 1990 mới cần thay hộp nguồn, nhưng trước đó thì không cần."
Giê-nét Rốt nhẹ nhàng quay lại phòng hội chẩn. Lúc này lại có người đặt câu hỏi: "Ông quyết định chọn điện cực nào trong số bốn mươi điện cực để ngăn chặn phát tác như thế nào?"
"Chúng tôi sẽ cấy tất cả điện cực," É-lít nói, "kết nối chúng với máy tính siêu nhỏ, nhưng trong vòng hai mươi bốn giờ chúng tôi sẽ không khóa bất kỳ điện cực nào. Một ngày sau phẫu thuật, chúng tôi sẽ dùng vô tuyến kích thích từng điện cực để quyết định điện cực nào có hiệu suất tốt nhất, sau đó dùng điều khiển từ xa để khóa chúng lại."
Ở phía cao của phòng hội chẩn, một giọng nói quen thuộc ho vài tiếng rồi nói: "Những chi tiết kỹ thuật này rất thú vị, nhưng theo tôi thấy chúng đã xa rời chủ đề." Rốt ngước nhìn, phát hiện người nói là Mạn Y. Mạn Y đã gần bảy mươi lăm tuổi, là giáo sư danh dự của khoa tâm thần học. Ông hiện rất ít khi đến bệnh viện, mỗi khi đến, mọi người thường coi ông là một ông lão lẩm cẩm, tư tưởng lỗi thời. "Theo tôi thấy," Mạn Y tiếp tục, "bệnh nhân này là một bệnh nhân tâm thần."
"Lời này hơi phiến diện," É-lít nói.
"Có lẽ vậy," Mạn Y nói, "nhưng ít nhất nhân cách của cậu ta bị rối loạn nghiêm trọng. Con người và máy móc xuất hiện sự hỗn loạn như thế này đều là điều đáng phiền lòng."
"Rối loạn nhân cách là một phần trong bệnh chứng của cậu ta," É-lít nói, "trong một bài bình luận gần đây, Ha-li và các đồng nghiệp tại Yê-lu của ông ấy nói rằng năm mươi phần trăm bệnh nhân ADL đều kèm theo rối loạn nhân cách này, nó không liên quan đến bản thân sự phát tác."
"Quả thực là vậy," Mạn Y nói bằng giọng thiếu kiên nhẫn, "rối loạn nhân cách là một phần trong bệnh chứng của cậu ta, không liên quan đến phát tác. Nhưng các bước ông thực hiện có thể chữa khỏi căn bệnh này không?"
Giê-nét Rốt phát hiện mình đang thầm vui mừng: Mạn Y đang đi đến kết luận hoàn toàn giống cô.
"Không thể," É-lít nói, "có lẽ không thể."
"Nói cách khác, phẫu thuật có thể ngăn chặn sự phát tác của cậu ta, nhưng không thể chấm dứt sự hoang tưởng của cậu ta."
"Không thể," É-lít lặp lại, "có lẽ không thể."
"Thứ lỗi cho tôi," Mạn Y nói, cau mày nhìn xuống từ hàng ghế cao nhất nơi ông ngồi. "Điều tôi lo lắng nhất chính là Phòng nghiên cứu Thần kinh Tâm thần sẽ xuất hiện suy nghĩ này. Tôi không chỉ nói riêng ông, đây là vấn đề phổ biến của giới y học. Ví dụ, nếu chúng ta gặp bệnh nhân tự sát bằng cách uống thuốc quá liều ở phòng cấp cứu, phương pháp điều trị của chúng ta là rửa ruột trước, sau đó dạy dỗ một trận, rồi cho về nhà. Đó là điều trị – nhưng rất khó nói là chữa khỏi. Bệnh nhân sớm muộn cũng sẽ quay lại bệnh viện. Rửa ruột không rửa trôi được nỗi trầm cảm trong lòng bệnh nhân, nó chỉ điều trị việc uống thuốc quá liều mà thôi."
"Tôi hiểu ý ông, nhưng..."
"Tôi còn muốn nhắc ông đừng quên ông L mà bệnh viện chúng ta từng gặp. Ông còn nhớ ca bệnh đó không?"
"Tôi nghĩ: tình huống của ông L không áp dụng được ở đây," É-lít nói. Nhưng giọng nói của ông cứng nhắc và đầy tức giận.
"Tôi không chắc," Mạn Y nói. Vì có vài người đang nghi hoặc quay người lại nhìn ông, ông giải thích như sau: "Ông L là một bệnh nhân nổi tiếng ở đây vài năm trước. Ông ta ba mươi chín tuổi, mắc bệnh viêm thận giai đoạn cuối, là viêm cầu thận mãn tính, bệnh viện cân nhắc phẫu thuật ghép thận cho ông ta. Vì thiết bị ghép thận của chúng ta có hạn, bệnh nhân phẫu thuật được chọn bởi ủy ban thẩm định của bệnh viện. Bác sĩ khoa tâm thần trong ủy ban phản đối kịch liệt việc coi ông L là ứng viên ghép thận, vì ông ta mắc bệnh tâm thần. Ông ta tin rằng mặt trời thống trị trái đất, ban ngày từ chối ra khỏi nhà. Chúng tôi cảm thấy ông ta thất thường, ghép thận sẽ không có lợi cho ông ta, nhưng cuối cùng ông ta vẫn chấp nhận phẫu thuật. Sáu tháng sau, ông ta tự sát, thật là một bi kịch. Nhưng vấn đề mấu chốt nằm ở chỗ, ca phẫu thuật ghép thận tiêu tốn hàng chục ngàn đô la và chuyên gia phải vất vả nhiều giờ mới hoàn thành này, chẳng phải có thể để người khác nhận được lợi ích lớn hơn sao?"
É-lít đi đi lại lại, một chân bị tật kéo lê nhẹ trên sàn nhà. Rốt biết ông đang cảm thấy sợ hãi trước những lời lẽ tấn công này. É-lít thường luôn cẩn trọng, cố gắng không để lộ khuyết tật của mình, chỉ những người tinh mắt mới nhìn ra chân khập khiễng của ông. Nhưng khi ông mệt mỏi, tức giận hoặc sợ hãi, khuyết tật này liền lộ rõ, giống như ông đang vô thức cầu xin sự cảm thông: đừng tấn công tôi, tôi là một kẻ què.
"Tôi hiểu sự phản đối của ông," É-lít nói, "xét theo những gì ông vừa nói, quan điểm của ông là không thể chối cãi. Nhưng tôi muốn xem xét vấn đề này từ một góc độ khác. Bân-xơn bị xáo trộn, phẫu thuật của chúng ta có lẽ không thể thay đổi tình trạng này, điều đó hoàn toàn đúng. Nhưng nếu chúng ta không thực hiện phẫu thuật cho cậu ta thì sao? Chúng ta biết, sự phát tác của cậu ta là một mối đe dọa đối với mạng sống của chính cậu ta và người khác. Sự phát tác gây rắc rối pháp lý cho cậu ta, hơn nữa sự phát tác ngày càng nghiêm trọng. Phẫu thuật sẽ ngăn chặn phát tác, chúng tôi cho rằng đây là một lợi ích lớn cho bệnh nhân."
Mạn Y ở trên cao khẽ nhún vai. Giê-nét Rốt biết điều đó có nghĩa là gì. Nó cho thấy quan điểm của hai bên không thể dung hòa, đã rơi vào bế tắc.
"Được rồi," É-lít nói, "còn câu hỏi nào khác không?"
Không còn ai đặt câu hỏi nào nữa.