Cầu cảng K ở thành phố Weehawken, bang New Jersey, dù là vẻ ngoài hay bên trong thì cũng chẳng có gì khác biệt so với các cầu cảng ở Manhattan. Một dãy nhà kho dài dằng dặc, những bức tường tôn lượn sóng cũ nát rỉ sét loang lổ, lớp kính trên những ô cửa sổ sát mái hầu như không còn nguyên vẹn một tấm, chỉ trơ lại những mảnh vỡ hình răng cưa lởm chởm. Cánh cổng sắt lớn vốn chỉ mở ra khi bốc dỡ hàng hóa lên tàu giờ đây treo lủng lẳng, xộc xệch.
Nước sông vỗ vào bức tường thép bản, phía trên là cầu cảng gần như đã mục nát hoàn toàn. Trên mặt sông trôi nổi đủ loại rác thải — hộp carton rách, vỏ đồ hộp, chai rượu rỗng, túi nilon, vân vân, gần như cái gì cũng có, cứ như thể chúng được xả trực tiếp từ đường ống nước thải đô thị vào sông Hudson vậy.
Không khí nồng nặc mùi hôi thối nồng nặc, len lỏi qua mọi kẽ hở của bức tường tôn lượn sóng.
Phía sau bức tường mặt tiền của cầu cảng, ba người đàn ông đang ngồi trên những chiếc hòm gỗ lật ngược. Phía sau họ, trong khoảng nửa tối nửa sáng của sảnh lớn, chất đống một đống đồ nát — khung thép của những tấm chắn cũ, những tấm ván gỗ mục, những hòm gỗ hỏng chất cao như núi và một đống thùng rỗng chắc chắn là của một công ty vận tải nào đó đã dỡ xuống đây.
Calder Weber giơ ống nhòm lên, nhìn ra ngoài qua một khe hở rộng khoảng một foot trên bức tường tôn lượn sóng.
Booker Dallas và Edmund Wyckoff ngồi trên hòm gỗ bên cạnh gã, vừa hút thuốc vừa uống Coca-Cola.
Trên mặt đất trước mặt họ đặt hai máy bộ đàm quân sự xách tay, ăng-ten đã được kéo ra. Bên cạnh đặt một chiếc hộp kim loại hình vuông có kích thước bằng ắc quy ô tô, được kết nối với một trong hai máy bộ đàm bằng dây điện.
Đột nhiên, Weber trở nên căng thẳng. Gã cúi người xuống, điều chỉnh tiêu cự của ống nhòm.
"Thời cơ đến rồi!" Gã có phần kích động hạ thấp giọng nói, "Họ cập cảng rồi. Đúng theo kế hoạch ban đầu, neo đậu ở cầu cảng số 84."
"Quả đúng như vậy." Dallas tự lẩm bẩm, "Không hiểu sao, trước đó tôi cứ nghĩ mọi chuyện sẽ không suôn sẻ thế này."
"Đây là kết quả của việc chúng ta liên tục bám đuôi bằng radar." Wyckoff đắc ý cười nói, "Nếu chúng ta không dùng radar theo dõi con tàu này ngay từ vịnh South Oyster, chúng ta đã không phát hiện ra nó nhanh đến thế."
Dallas nhún vai.
"Dù vậy, tôi vẫn không hiểu tại sao nó đột nhiên nhổ neo tiếp tục hành trình. Tôi nghĩ, thời gian cách ly kiểm dịch thông thường phải mất ít nhất một tuần. Có lẽ họ đã phát hiện ra việc cách ly kiểm dịch là một trò giả mạo do ai đó tạo dựng."
"Chúng ta phải tính đến điều đó." Weber, người vẫn đang giơ ống nhòm quan sát, lên tiếng, "Nhưng dù sao thì chúng ta cũng có thể mừng là đã kịp thời triển khai hành động dưới nước. Hoàn thành việc này ngay lập tức là điều khẩn cấp nhất lúc này."
"Bây giờ họ còn cách đây bao xa?"
"Tàu đã dừng, tàu kéo đã rời đi. Trên bờ có rất nhiều người xem náo nhiệt. Dù sao thì New York giờ đây cũng không còn đón tàu khách cập cảng mỗi ngày như trước nữa."
"Rất có lợi cho Elmo và gã người Da đỏ kia." Dallas nói nhỏ, "Bây giờ tôi gọi họ nhé?"
"Được." Weber nói, hạ ống nhòm xuống.
Booker Dallas bật chiếc máy bộ đàm không kết nối với hộp kim loại, chuyển sang nút truyền thoại.
"X-ray gọi Zeppelin! X-ray gọi Zeppelin! Xin trả lời!"
Nói xong, gã chuyển bộ đàm sang nút nhận tin.
Trong loa phát ra một tràng tiếng rè rè, vài giây sau truyền đến một tiếng cạch giòn giã.
"Tôi là Zeppelin, tôi là Zeppelin. Nghe rõ, nghe rõ. Hết."
Đó là giọng của Elmo Chaska, nghe qua có chút biến âm.
"Tình hình thế nào, Zeppelin, hết." Dallas hỏi.
"Chúng tôi đang ở bãi đỗ xe trước khách sạn Sheraton Motor Inn, chéo góc với cầu cảng số 84, sát ngay xa lộ West Side Highway. Vị trí ở đây cực kỳ đắc địa, mọi thứ đều trong tầm mắt. Cầu thang mạn của tàu khách vẫn chưa hạ xuống. Hết."
Calder Weber đưa tay ra.
"Chờ một chút, có người muốn nói chuyện với anh." Dallas bổ sung, rồi đưa ống nghe cho Weber.
Weber đón lấy ống nghe, đặt sát miệng.
"Zeppelin," gã nói, "điều tôi quan tâm nhất lúc này là tình hình của kẻ trung gian của chúng ta. Chúng ta phải tính đến mọi tình huống ngoài ý muốn. Hãy căng mắt ra mà nhìn cho kỹ, hắn vừa lộ diện là phải báo cho tôi ngay lập tức. Kết thúc. Hết."
"Rõ. Hết."
Cầu cảng số 84 ở phía tây Manhattan là một trong số ít cầu cảng chở khách còn sót lại, nhưng cơ sở vật chất và môi trường xung quanh của nó thì thật không dám khen ngợi. Chín mươi phần trăm các cầu cảng phía tây đều đã đổ nát hoang tàn, rác thải chất đống khắp nơi. Thời kỳ hoàng kim của nó đã một đi không trở lại.
Phía dưới trên đại lộ Twelfth Avenue, trước những trụ cầu bằng thép của đường cao tốc trên cao West Side, dòng người hiếu kỳ chen chúc trong buổi sáng lạnh giá, run rẩy trong cơn gió buốt. Tài xế của những chiếc taxi, xe tải nhỏ giao hàng và xe tải hạng nặng đi ngang qua đều dừng lại hoặc giảm tốc độ, tò mò muốn xem vài phút.
Tôi và Mona Clina đứng bên mạn tàu. Dù mặt trời đang từ từ nhô lên, nhưng trên mặt sông vẫn bao phủ một lớp sương mù buổi sớm. Từ các đại lộ của Manhattan truyền đến những tiếng ồn ào không ngớt của dòng xe cộ lao vút đi.
Gương mặt Mona Clina vô cùng nhợt nhạt, nhưng cô vẫn kiểm soát được cảm xúc của mình. Tôi đã giải thích cho cô biết cô phải hành động thế nào, và cô cũng đã chấp nhận ý kiến của tôi. Xem ra, cô đã chuẩn bị sẵn sàng để khai ra toàn bộ sự thật về việc Marcone đã dụ dỗ cô tham gia vào chuyện này như thế nào.
Hai thủy thủ dẫn quản ca Marconi ra ngoài. Hắn trông nhợt nhạt, mệt mỏi rã rời, hai tay vẫn luôn bị còng. Hắn đã từ bỏ việc kháng cự từ lâu, nhưng khi nhìn thấy tôi, ánh mắt hắn vẫn tràn ngập sự thù hận.
Cầu thang mạn được hạ xuống. Tôi thấy thuyền trưởng Taccara và các thủy thủ của ông lúc này đều đang ở trong buồng lái. Tôi biết, các hành khách sau khi ngắm nhìn phong cảnh tươi đẹp của thành phố New York, lúc này đang tập trung đông đủ ở sảnh lớn. Đối với họ, sắp tới sẽ có một nghi thức chào mừng chính thức và long trọng.
Từ đại lộ Twelfth Avenue có hai chiếc xe sedan lớn màu nâu sẫm chạy tới, đỗ bên cạnh đám đông xem náo nhiệt, sát ngay cầu cảng.
Tôi lập tức nhận ra hai chiếc xe đó là xe cảnh sát tuần tra của FBI.
Phil Decker, người bạn và cũng là đồng nghiệp của tôi, bước xuống xe. Bước xuống từ chiếc xe thứ hai là Steve DiMaggio, anh chàng có mái tóc vàng kim nhưng lại mang một cái tên Ý. Ngoài ra còn có Zeroka, cậu ấy xuất thân từ một gia đình người Da đỏ, nên chỉ có thể dùng cái tên này.
Ba người bọn họ nỗ lực chen qua đám đông vây quanh, đi về phía cầu thang mạn. Phil là người đầu tiên bước lên tấm ván nhảy bằng gỗ lắc lư, Steve và Zerry (biệt danh của Zeroka) theo sát phía sau. Họ lần lượt bước qua mạn tàu. Sau khi chúng tôi chào hỏi nhau, tôi giới thiệu tình hình của Mona Clina và Enzo Marcone cho họ.
Steve gật đầu.
"Chúng tôi đã nhận được chỉ thị đưa cả hai người họ về trụ sở FBI thành phố New York. Nếu ở đây không còn việc gì nữa..."
Tôi lắc đầu.
Steve dẫn Marcone đi xuống cầu thang mạn. Tôi giúp Mona Clina bước qua lan can tàu, gật đầu với cô, mắt tiễn cô đi xuống cầu thang. Zerry đi theo sau cô.
"Tôi được chính thức cử đến để giúp cậu đây." Phil cười nói, "Kế hoạch tiếp theo là gì?"
"Luôn để mắt đến hành động của Giampietro và con gái ông ta." Tôi trả lời, "Dù thế nào tôi cũng không gạt bỏ được cảm giác rằng chúng ta làm thế này vẫn chưa nắm trúng trọng điểm."
Đám đông vây xem trên đường phố bàn tán xôn xao, có lẽ họ tuyệt đối không ngờ được rằng lại có hai phạm nhân bị áp giải xuống từ tàu khách.
Tôi và Phil mỗi người châm một điếu thuốc.
Tôi liếc nhìn đồng hồ.
"Còn nửa tiếng nữa." Tôi nói.
Hai chiếc xe bus lớn màu xám bạc từ từ dừng lại ở bãi đỗ xe trước tàu khách Tintoretto. Cửa xe mở ra, một nhóm người mặc đồng phục màu đỏ tươi bước xuống, ùa về phía quảng trường trước cầu cảng. Các cô gái mặc váy ngắn phía dưới, để lộ đôi chân dài thon thả xinh đẹp; những nhạc cụ bằng đồng trên tay các chàng trai lấp lánh trong ánh ban mai.
Ban nhạc diễu hành đường phố chuẩn bị cử hành một buổi hòa nhạc chào mừng tại đây.
Loa phát thanh trên tàu đang phát sóng các lưu ý khác nhau cho hành khách. Rất nhanh, toàn bộ hành khách đều đi tới boong trước, đứng trước cầu thang mạn, đón nhận sự chào đón nồng nhiệt của mọi người. Giampietro Lucca và con gái ông ta cũng xuất hiện trong đám đông. Cynthia dìu người cha trông vô cùng già nua của mình. Tôi lấy danh sách hành khách từ túi trong của áo khoác ra, mở nó ra, đối chiếu từng người một.
Ermanno Levanti, chủ sở hữu mỏ đá cẩm thạch Carrara
Arturo Conte, nhà môi giới đầu tư Rome
Emilio Russo, chủ nhà máy phụ tùng ô tô Milan
Naldo Capitini, ông chủ nhà máy thuốc lá Civitavecchia
Giorgio Nastro, nhà nhập khẩu cao su Turin
Pietro Marchi, luật sư Rome
Enzo Continanza, nhà ngân hàng Rome
Vittorio Dalla Riva, nhà sản xuất phim Rome
Georges Bagnard, chủ nhà máy đồ hộp Marseille
Jacques Luchi, nhà môi giới đầu tư Toulon
Pierre Motti, ông chủ nhà máy xe máy tỉnh Aix-en-Provence
Manuel Cavins, thương nhân dầu mỏ Figueres
Jorge Chazera, ông chủ nhà máy dệt Barcelona
Tất cả mọi người đều có mặt. Tên của Lucca thì tôi không cần phải đối chiếu lại nữa.
Ban nhạc kèn đồng thổi vang bản nhạc "The Stars and Stripes Forever". Các cô gái vừa diễu hành vừa nhịp nhàng đôi chân dài thon thả. Trên boong tàu khách Tintoretto bùng lên những tràng pháo tay giòn giã.
Một chiếc Cadillac màu đen từ từ chạy tới, phía trước cắm hai lá cờ nhỏ, bên phải là cờ Mỹ, bên trái là huy hiệu của thành phố New York. Chiếc Cadillac dừng lại ngay bên cạnh chiếc xe bus lớn.
Bốn cánh cửa xe được mở ra. Mấy người đàn ông mặc âu phục màu xám giản dị bước xuống.
Hadley Bay Nicholson, thị trưởng Manhattan, là người cuối cùng bước xuống xe. Ông vóc người cao gầy, mái tóc màu xám tro, mặc một bộ âu phục sẫm màu, toát lên khí chất uy nghiêm, trầm ổn của một chính trị gia.
Trong tiếng nhạc của bản hành khúc "Anchors Aweigh" do ban nhạc kèn đồng biểu diễn, Nicholson sải bước vững chãi đi về phía cầu cảng, đồng thời thân thiện vẫy tay chào những người đang vỗ tay.
Hai vệ sĩ vạm vỡ theo sát phía sau. Tài xế ô tô ở lại trong chiếc Cadillac.
Nicholson đi tới trước cầu thang mạn, bắt đầu bước lên.
Thuyền trưởng Taccara dẫn đầu toàn bộ thủy thủ đoàn đi tới bên lan can, xếp hàng chào đón sự xuất hiện của thị trưởng và đoàn tùy tùng.
Các hành khách cũng vây quanh lại, tạo thành một hình bán nguyệt. Giampietro Lucca cũng bước tới dưới sự dìu dắt của con gái.
Khi Thị trưởng Nicholson cùng đoàn tùy tùng bước lên boong tàu, bản nhạc hành khúc cũng vừa vặn kết thúc.
Tôi và Phil đứng bên lan can mạn phải cách thị trưởng khoảng 10 mét, chăm chú quan sát.
Thị trưởng Nicholson dừng bước, mỉm cười cúi chào mọi người.
"Thưa thị trưởng, chào mừng ngài đến với tàu Tintoretto!" Thuyền trưởng Taccara nói.
Nicholson vẫy vẫy tay, tỏ ý cảm ơn.
"Thưa các bà, các ông," ông bắt đầu phát biểu, "tôi rất vinh dự được thay mặt thành phố New York chào mừng sự hiện diện của quý vị. Đặc biệt điều khiến tôi cảm thấy vui mừng là..."
Sự chú ý của chúng tôi lúc này đột ngột bị phân tán.
Trên boong tàu truyền đến tiếng bước chân dồn dập.
Tôi và Phil đồng thời quay người lại.
Nhân viên vô tuyến điện Marco Gabrie vội vã chạy về phía chúng tôi, vẻ mặt vô cùng hoảng hốt.
"Vừa rồi..." Hắn thở hổn hển nói, "Vừa rồi... có người gọi điện thoại vô tuyến tới... họ muốn... họ muốn đánh sắm con tàu này!"
Tôi và Phil chết lặng vì kinh hãi. Tôi cảm thấy lông tơ trên lưng như dựng đứng cả lên.
Thị trưởng Nicholson dừng bài phát biểu, có chút không vui nhìn về phía chúng tôi. Ánh mắt của những người khác cũng đều đổ dồn về phía này. Nhưng họ dường như không rõ ở chỗ chúng tôi đã xảy ra chuyện gì.
"Cậu có bức điện không?" Tôi hỏi.
Gabrie gật đầu.
"Tôi đã ghi lại vào băng từ rồi."
Tôi quay người lại, đối mặt với mọi người.
"Không ai được rời khỏi con tàu này!" Tôi hét lớn, "Mời mọi người lập tức di chuyển vào sảnh lớn! Thuyền trưởng Taccara, xin mời ông qua đây một lát!"
"Nhưng... thế này... ở đây... vẫn..." Thị trưởng Nicholson luống cuống nói.
Thuyền trưởng Taccara liếc nhìn ông một cái.
"Xin ngài hãy làm theo lời anh ấy nói." Ông nói bằng giọng cứng rắn, "Anh Cotton đây là người của FBI."
Thị trưởng Nicholson im bặt. Trên mặt các thủy thủ và toàn thể hành khách đều lộ rõ vẻ hoảng hốt.
Họ biết, tôi không phải vì hư vinh thuần túy mà ra lệnh, tình hình chắc chắn vô cùng khẩn cấp.
Thuyền trưởng Taccara xua tay, ra hiệu cho các thủy thủ huy động toàn bộ hành khách vào sảnh lớn.
Sau đó, chúng tôi rảo bước tới phòng vô tuyến điện. Vừa chạy, tôi vừa giải thích tình hình cho thuyền trưởng.
"Họ truyền qua bằng điện thoại vô tuyến." Nhân viên vô tuyến Gabrie thở hổn hển nói.
Nói xong, hắn đi tới bên máy ghi âm trên bàn máy vô tuyến, nhấn nút phát lại.
Tất cả chúng tôi đều nín thở.
Giọng nói vô cùng rõ ràng, chỉ lẫn một chút tạp âm nhiễu sóng rất yếu.
"'Tintoretto', xin trả lời! 'Tintoretto', xin trả lời!"
"Đây là 'Tintoretto', đây là 'Tintoretto'. Xin mời nói." Đó là giọng của Gabrie.
"Tốt lắm, thưa ông. Ông là nhân viên vô tuyến điện phải không?"
Gabrie dường như do dự một chút trước khi trả lời.
"Đúng vậy, tôi là nhân viên vô tuyến điện. Xin hỏi ông là ai? Mật danh của các ông là gì?"
"Quên mấy cái điều luật đài phát thanh giáo điều chết tiệt của ông đi, người bạn ạ! Bởi vì việc tôi sắp nói với ông đây không cần tuân thủ bất kỳ điều luật giáo điều nào cả. Bây giờ ông chỉ cần căng tai ra mà nghe cho kỹ là được. Hiểu chưa?"
"Nhưng tôi... tôi không hiểu."
"Ông sẽ hiểu ngay thôi. Nghe đây: Trên tàu của các ông có mấy quả trứng gà rất đẹp, mà các ông thì cho đến nay vẫn chưa phát hiện ra. Bây giờ tôi nói cho các ông biết ý đồ thực sự của chúng tôi. Nếu các ông không thỏa mãn triệt để các điều kiện của chúng tôi, chúng tôi sẽ thổi bay con tàu khách xinh đẹp của các ông lên tận trời xanh."
"Chúa tôi ơi... các ông có điều kiện gì?"
Kẻ đó lại cười lên.
"Bây giờ các ông muốn biết thì còn quá sớm. Nhưng những túi tiền trên tàu của các ông thì nên suy nghĩ đi, xem họ nên bỏ ra bao nhiêu tiền. Chi tiết chúng tôi sẽ báo cho các ông sau. Điều kiện đầu tiên của chúng tôi là: Tất cả mọi người không được xuống tàu! Các ông đang nằm dưới sự giám sát của chúng tôi! Nếu có ai mưu toan xuống tàu, chúng tôi sẽ kích nổ quả bom đầu tiên! Chúng tôi có thừa bom! Các ông phải ghi nhớ cho kỹ! Chúng tôi không đùa đâu. 15 phút nữa, tôi sẽ gọi lại cho ông đúng giờ. Chú ý, ông phải ngồi túc trực bên máy điện thoại đúng giờ đấy."
"Nhưng... alo... alo!"
Không có tiếng trả lời nữa.
Đối phương đã gác máy.
Khi Gabrie tắt máy ghi âm, ngón tay hắn không ngừng run rẩy.
Tôi cảm thấy như bị một cú giáng mạnh. Sau khi một linh cảm mơ hồ được xác thực, điều đó khiến người ta vô cùng chấn động. Lúc này không còn là mối nguy hiểm mờ nhạt nữa. Nguy cơ cái chết đã cận kề trước mắt, khiến người ta kinh hoàng bất an.
"Có lẽ là bịa đặt hư trương thanh thế." Phil nói nhỏ, nhưng nghe qua chẳng có chút tự tin nào. "Trong những sự kiện bất ngờ, luôn có một số kẻ tâm thần bất ổn muốn dùng cách này để thu hút sự chú ý của mọi người. Lần này có lẽ cũng vậy."
Tôi lắc đầu.
"Bây giờ chúng ta đã biết, việc cách ly kiểm dịch mưu toan đạt được mục đích gì." Giọng tôi khàn khàn nói, "Lời đe dọa đánh bom là nghiêm túc, tuyệt đối không phải hư trương thanh thế! Chúng ta phải coi trọng nó."
Thuyền trưởng Taccara lấy lại tinh thần. Ông lại phấn chấn trở lại, như thể tôi đã tiếp thêm sự tự tin cho ông.
"Tôi lập tức cử người lục soát kỹ lưỡng một lượt trên tàu." Ông hạ thấp giọng nói, "Từ đỉnh cột buồm cho đến đáy khoang, lục soát kỹ không bỏ sót một chi tiết nào, không để lại bất kỳ góc chết nào. Anh có đồng ý không, anh Cotton?"
Tôi không cần suy nghĩ, lập tức đưa ra quyết định.
"Đồng ý." Tôi nói, "Hơn nữa phải làm cho thật nổi bật, huy động rầm rộ. Ông hãy gọi thêm nhiều người lên boong tàu đi."
Taccara ngạc nhiên nhìn tôi.
"Nhưng... gã kia nói, họ sẽ giám sát mọi nhất cử nhất động của chúng ta... Thế tại sao..."
"Chính vì thế." Tôi trả lời.
Chiếc xe công vụ của cục di chuyển trên đại lộ Twelfth Avenue, đi qua tòa nhà bưu điện liên bang nằm giữa đường số 43 và đường số 44.
Zeroka lái xe, Mona Clina ngồi bên cạnh cậu ấy. Steve DiMaggio và Enzo Marcone ngồi song song ở hàng ghế sau.
Zeroka đang định rẽ vào đường dẫn lên xa lộ West Side Highway ở đường số 46. Ngay khi cậu ấy bật đèn xi-nhan, chuẩn bị đi vào làn rẽ, một chiếc xe Dodge màu xanh lục bảo từ phía sau lao tới với tốc độ cực nhanh.
Dòng xe cộ chạy về hướng bắc không quá đông đúc, xung quanh cũng không có chiếc xe nào khác.
Chiếc xe Dodge sau khi vượt lên, khi cách xe công vụ khoảng một thân xe thì đột ngột phanh gấp, và nằm ngang ra đường lộ.
Zeroka không hề hoảng loạn. Nhận thấy không thể né tránh, cậu ấy dùng hết sức bình sinh đạp mạnh chân phanh xuống sát sàn. Lốp xe phát ra tiếng rít chói tai.
Zeroka thành công bẻ lái cho xe lao về phía rìa vỉa hè phía trước bên phải, tránh được cú va chạm trực diện với chiếc xe Dodge.
Chiếc xe công vụ khựng lại, rung chuyển một cái ở khoảng cách rất gần chiếc Dodge, suýt chút nữa là hai xe đã đâm sầm vào nhau.
Gần như cùng lúc đó, Zeroka mở toang hai cánh cửa trước của xe.
"Núp xuống!" Cậu ấy hét lớn.
Cậu ấy dùng tay phải giữ chặt vai Mona Clina, dùng lực ấn người cô xuống dưới, đồng thời nhanh như chớp rút súng ngắn ra, dùng chân đạp mạnh cánh cửa bên phía mình ra.
Mona hét lên một tiếng, đổ rạp người trong xe.
Cùng lúc đó, Steve cũng ấn Enzo Marcone đang chết lặng vì sợ hãi xuống hàng ghế sau.
Một gã đàn ông vọt ra từ cánh cửa trước bên phải chiếc Dodge vừa mở, nhanh chóng rút súng ngắn ra, bắn về phía xe công vụ.
Đạn rít lên chói tai, kính chắn gió và đèn hậu của chiếc xe công vụ lập tức bị bắn vỡ vụn.
Mona Clina vẫn đang la hét, nhưng vẫn ngồi thụp xuống dưới bảng điều khiển ở vị trí an toàn.
Steve bất chấp hiểm nguy, tì súng lên lưng ghế, nỗ lực bắn trả bọn cướp.
Anh dùng khóe mắt nhìn thấy Zeroka đang lăn lộn trên mặt đường bên ngoài xe, sát ngay cánh cửa xe đang mở.
Mọi chuyện đều xảy ra chỉ trong vòng một giây.
Tên cướp cầm súng tiểu liên đứng dang rộng hai chân tiếp tục nã đạn.
Ở phía bên kia chiếc Dodge, một tên cướp khác tì người lên nóc xe, dùng súng ngắn tự động bắn tới tấp.
Steve nhanh chóng ngắm bắn tên cướp, lập tức nổ súng.
Khẩu súng .38 của anh phát ra những tiếng nổ trầm đục.
Gần như cùng một khoảnh khắc, Zeroka đột ngột nhổm dậy, nép sát vào nóc xe bắn về phía tên cướp, ép hắn phải thụp người xuống.
Steve giận dữ bắn hai ba phát đạn về phía họng súng tiểu liên đang phun lửa. Tên cướp trúng đạn ngã nhào, đồng thời một loạt đạn bắn chỉ thiên lên trời, sượt qua phía trên chiếc xe công vụ.
Tiếng súng tiểu liên đột ngột câm bặt.
"Đứng — lại! Giơ tay lên!" Zeroka hét lớn.
Tên cướp cầm súng ngắn mưu toan tháo chạy. Hắn nhanh chóng băng qua đường lộ, chạy về phía đầu đường số 46.
Zeroka hai tay cầm khẩu súng ngắn ổ quay, ngắm thẳng vào mục tiêu.
Một loạt tài xế trên các xe ô tô bóp còi inh ỏi để phản đối.
Tiếng phanh xe rít lên chói tai. Chiếc xe Dodge nhân cơ hội đó lách vào dòng xe cộ từ đường số 46 đổ ra xa lộ West Side Highway.
Zeroka thu súng lại. Cậu ấy phát hiện ra, nếu lúc này nổ súng vào xe của tên cướp, chắc chắn sẽ làm tổn thương người vô tội.
Lúc này, tên đào tẩu đã chạy đi rất xa, dù có đuổi theo thì cũng chắc chắn sẽ xôi hỏng bỏng không. Muốn lục soát kỹ lưỡng toàn bộ các tòa nhà trong khu vực này, ít nhất phải điều động một trăm cảnh sát.
Tên cướp chắc chắn đã lẩn trốn vào sau một góc phố nào đó đối diện đường lộ.
Zeroka quay người lại, cất khẩu súng ngắn ổ quay đi, bước về phía gã đàn ông đang nằm trên mặt đất.
Phần thân trên của gã đó đã bị máu nhuộm đỏ. Khẩu súng tiểu liên bị vứt cách gã khoảng một mét.
Zeroka lật gã đó nằm ngửa mặt lên. Gã đã chết, nhưng mắt vẫn không nhắm lại, dường như vẫn đang đờ đẫn nhìn lên bầu trời buổi sớm.
Gã mang một gương mặt của người Da đỏ.
Zeroka lục soát khắp người gã, mưu toan tìm thứ gì đó chứng minh thân phận của gã, nhưng chẳng tìm được gì cả.
Cậu ấy đứng dậy, đi về phía xe công vụ. Steve DiMaggio đang đứng bên ngoài xe, an ủi Mona Clina đang ngồi ở ghế trước với gương mặt nhợt nhạt vì sợ hãi, đồng thời để mắt tới Enzo Marcone. Lúc này, gã quản ca của tàu Tintoretto cũng bị dọa cho hồn xiêu phách lạc, nhưng gã không bị thương.
Zeroka cầm máy bộ đàm lên, liên lạc với tổng bộ FBI, yêu cầu cử bộ phận giám định và xe dự phòng đến chi viện.