[NỘI DUNG]:
"Hoàn toàn chính xác, Jerry. Mang theo chiếc vali của Rafferty, chúng ta không được thay đổi bất kỳ thứ gì bên trong, sử dụng vé máy bay của Rafferty và hộ chiếu ghi tên anh ta. Đây là một con người bằng xương bằng thịt. Cậu có sẵn sàng đóng vai người này không, Jerry?"
Kết quả nghiên cứu cân nhắc của chúng tôi đại thể là như vậy. Giờ đây tôi đang ngồi trên chiếc ghế vốn định sẵn cho Gerald trên máy bay phản lực cỡ lớn của hãng Olympic Airways, vận chuyển một vali chứa đầy các loại tiền giấy của sáu quốc gia hỗn tạp sang bên kia bờ Đại Tây Dương.
Đối với bước tiếp theo sẽ ra sao, có thể nói là hoàn toàn mù mịt. Biết đâu toàn bộ chuyện này đã đổ bể từ lâu. Biết đâu kẻ ủy thác nhiệm vụ của Rafferty đã giám sát toàn bộ quá trình trước khi máy bay cất cánh, và biết người của họ không lên máy bay.
Sau khi đến Athens tôi nên đi đâu? Nếu có một kẻ cầm súng lao về phía tôi, cướp chiếc vali từ tay tôi, tôi phải làm thế nào? Theo chuẩn mực luật pháp quốc tế, tôi tuyệt đối không được dùng nắm đấm nện vào cằm hắn. Hành động của tôi là bất hợp pháp, mặc dù ông Harrison đã thông báo trước cho viên viên chức an ninh của đại sứ quán nước ta tại đó. Các nhân viên ngoại giao sẽ thận trọng để mắt tới tôi khi tôi gặp rắc rối hay sa lầy. Họ cũng sẽ nghiêm túc cân nhắc việc vận chuyển thi thể của tôi về nước khi tình huống đó xảy ra, và bày tỏ sự lấy làm tiếc với chính phủ sở tại về những rắc rối mà tôi gây ra. Nhưng tất cả những điều đó đều không cứu được Lisa Franklin. I uống cạn ly rượu trong tay. Cho đến thời điểm hiện tại, xét theo tiến triển của sự việc, tôi uống một ly Scotch Whisky tuyệt hảo như thế này cũng không có gì phải hổ thẹn. Tôi chợt nhớ ra một bài hát cổ của thủy thủ:
"Whisky thật tuyệt vời làm sao
Nó giúp tôi tỉnh táo và linh hoạt..."
Rượu Scotch Whisky khiến lòng tôi tràn đầy sự lạc quan. Biết đâu vận may của tôi tốt, có thể giao chiếc vali đang mang theo cho đúng những người cần giao, và kẻ khốn kiếp đạo diễn vở kịch này ở Mỹ cũng nhận được thứ có giá trị tương đương, bất kể đó là thứ gì. Chỉ cần cô gái được thả và bảo đảm an toàn, chúng tôi có thể xắn tay áo lên chiến đấu với chúng, đập tan tổ chức đó, khiến chúng xôi hỏng bỏng không.
Thứ có giá trị tương đương năm triệu đô la?
Thứ hắn mong đợi có được là gì?
Một loại hàng hóa? Thứ gì đó hắn có thể bán đi để thu lời gấp bội?
Sự việc có vẻ mang hơi hướng của một vụ giao dịch ma túy. Chỉ có trong các vụ giao dịch ma túy tầm cỡ quốc tế mới có những khoản tiền khổng lồ hàng triệu đô la chuyển dịch qua lại như vậy.
Muốn tôi giúp tiếp tục tiếp tế ma túy vào nước Mỹ sao? Thật là một tình thế tiến thoái lưỡng nan đáng tởm! Chỉ có trong trường hợp cuộc giao dịch này diễn ra thuận lợi, Lisa Franklin mới có cơ hội sống sót.
Cái gì nặng ký hơn, mạng sống của một con người, hay một vụ giao dịch ma túy bị đập tan?
Tiếc là ly của tôi đã cạn. Nếu không, lúc này tôi thực sự cần uống thêm một ngụm lạc quan nữa.
Cô tiếp viên hàng không đưa cho tôi một thực đơn.
"Xin mời ngài chọn bữa tối, thưa ngài. Mười phút nữa chúng tôi sẽ bắt đầu phục vụ."
Đúng 20 giờ. Cất cánh từ sân bay JFK của New York. 9 giờ sáng hôm sau hạ cánh quá cảnh tại sân bay Charles de Gaulle ở Paris. Một tiếng sau tiếp tục chuyến bay.
Các cô tiếp viên hàng không vừa dọn dẹp xong bữa trưa, cơ trưởng đã thông báo qua loa phóng thanh:
"Kính thưa quý khách, vài phút nữa chúng ta sẽ hạ cánh xuống Athens. Chúng tôi rất vinh hạnh vì quý khách đã lựa chọn hãng Olympic Airways cho chuyến hành trình, chúc quý khách có một kỳ nghỉ vui vẻ tại Hy Lạp."
Chiếc máy bay phản lực cỡ lớn từ từ lượn vòng trên không trung. Tôi nhìn thấy biển xanh, những vùng núi nhấp nhô, và cuối cùng là một thành phố màu trắng, với tâm điểm vẫn là những ngôi đền xây dựng trên thành cổ Acropolis của Hy Lạp cổ đại. Đã có ba ngàn năm lịch sử. Đây cũng là một trong những lý do khiến các quần thể kiến trúc văn hóa của Mỹ có giá trị thấp hơn khi so sánh với châu Âu.
Chiếc chuyên cơ hạ cánh nhẹ nhàng như một chiếc xe nôi trẻ em. Tôi xách chiếc vali của mình lên. Cô tiếp viên hàng không trao cho mỗi hành khách nụ cười chia tay duyên dáng nhất một cách bình đẳng. Những chiếc xe bus đưa chúng tôi đến tòa nhà làm thủ tục. Trước băng chuyền hành lý ký gửi, tôi cùng khoảng ba mươi hành khách khác chờ đợi chiếc vali thứ hai của mình, bên trong chỉ đựng vài bộ âu phục, áo sơ mi và vài chiếc quần lót.
Những người đã lấy được vali từ băng chuyền lục tục đi qua cửa kiểm tra hộ chiếu và hải quan. Tôi lo lắng nhận ra các nhân viên hải quan cứ cách hai chiếc vali lại bắt mở một chiếc ra để kiểm tra.
Tôi dám chắc chắn, nếu bắt tôi mở chiếc vali đựng tiền ra, tôi sẽ bị tạm giữ. Tôi không thể nào thuyết phục được những viên chức hải quan kia tin rằng, tất cả những thứ này chỉ là tiền cổ.
Tôi mỗi tay xách một chiếc vali, đứng bất lực trước năm lối đi hải quan. Tôi nên đi lối nào đây?
"Ông Rafferty phải không?" Một người đàn ông thong thả bước đến bên cạnh tôi, hạ thấp giọng hỏi.
"À, xin chào! Anh gọi tôi sao?"
Hắn có vóc dáng cao gầy, tóc đen, chưa đầy ba mươi tuổi, trên môi để bộ ria mép được cạo tỉa sạch sẽ gọn gàng.
"Xin ông đi qua lối hải quan số bốn!" Hắn thì thầm nói khẽ rồi quay người biến mất vào đám đông. Tôi xách hai chiếc vali, đặt lên băng chuyền của lối số bốn. Ngay phía trước tôi, một cô gái tóc vàng phải mở vali ra để kiểm tra, viên chức hải quan lục lọi quần áo lót bên trong một cách tỉ mỉ, khiến cô gái ngượng đỏ cả mặt.
Bây giờ đến lượt tôi.
"Có thứ gì cần nộp thuế quan không? Có mang ngoại tệ không?" Viên chức hải quan hỏi bằng thứ tiếng Anh bập bẹ. Gã có thân hình béo phì, mặc bộ đồng phục xộc xệch. Tôi chưa kịp trả lời, gã đã gật đầu với tôi và nói: "Được rồi, thưa ngài. Người tiếp theo, xin mời!"
Tôi xách vali bước vào đại sảnh. Kẻ vừa bảo tôi đi lối số sáu lúc nãy giống như từ dưới đất chui lên, lại xuất hiện bên cạnh tôi lần thứ hai.
"Chào mừng ngài đến Hy Lạp, ông Rafferty. Ngài thấy ấn tượng thế nào về công tác tổ chức của chúng tôi?"
"Thật tuyệt vời! Anh có phiền cho tôi biết tên của anh không?"
"Alen Pallas."
"Người Hy Lạp?"
"Đúng vậy, nhưng mẹ là người Mỹ, cho nên mới có cái tên này."
Hắn vẫy tay gọi một nhân viên khuân vác.
"Xe của tôi ở cửa ra. Tôi hy vọng ngài có thể làm khách của tôi trong ba ngày lưu lại Athens trước khi tiếp tục hành trình. Tôi không thiếu những trò vui chơi giải trí. Tôi có mở một hộp đêm nhỏ làm nghề tay trái, nó khá có tiếng tăm trong giới khách hàng. Không có cô gái nào quá hai mươi lăm tuổi."
Ngay từ đầu tôi đã đoán hắn giống như một gã ma tơ. Khắp người hắn nồng nặc mùi nước hoa, hai bàn tay đeo đầy những chiếc nhẫn lòe loẹt. Một chiếc ghim cà vạt đính kim cương lấp lánh theo mỗi cử động của hắn, tựa như ngọn hải đăng dẫn đường cho tàu thuyền.
"Tiếp tục hành trình?" Tôi ngạc nhiên hỏi, "Đi đâu?"
"Nhiệm vụ của tôi là đưa ngài qua hải quan, tiễn lên tàu. Nhưng tàu Heraklion đến thứ Sáu mới cập cảng Piraeus."
"Tôi thực sự thấy lạ. Dựa vào đâu mà anh nhận ra tôi?"
"Dựa vào chiếc vali của ngài, ông Rafferty. Một người đàn ông, tay xách một chiếc vali da cá sấu màu đen, trên nắp vali có hai miếng kim loại hình chữ nhật. Tôi tin không có chiếc vali thứ hai nào có những đặc điểm này."
Chúng tôi từng nghĩ miếng kim loại chỉ có tác dụng gia cố, chứ không gán cho miếng kim loại đó bất kỳ ý nghĩa đặc biệt nào. Rõ ràng bây giờ những thứ này lại đóng vai trò nhận diện.
Tôi cảm thấy nhen nhóm hy vọng. Nếu giữa các đối tác giao dịch ở Mỹ và ở châu Âu chưa từng trao đổi ảnh chụp hay mô tả đặc điểm ngoại hình của người giao nhận, nếu chỉ dựa vào chiếc vali này làm phương tiện xác nhận, vậy thì có một cơ hội để tôi đóng vai Gerald Rafferty đến cùng, điều này quả thực rất tốt.
"Ngài để những món đồ quý giá không thể để hải quan phát hiện ở chiếc vali nào vậy, ông Rafferty?" Alen Pallas hỏi.
Hắn mỉm cười, vô cùng nhã nhặn, vô cùng chân thành, như thể chúng tôi chơi đùa cùng nhau trong hố cát từ nhỏ vậy.
Rốt cuộc tại sao gã người lạ ở New York lại ép buộc Gerald Rafferty làm công việc này? Nếu mọi thứ đã được tổ chức, chuẩn bị hoàn hảo như vậy, tại sao hắn không tự mình thực hiện giao dịch này? Tại sao hắn phải mạo hiểm với năm triệu đô la này, và bắt cóc một người phụ nữ, nếu hắn có thể tiết kiệm những rắc rối này để tự mình đi máy bay tới?
Ba câu hỏi trên chỉ có một câu trả lời cực kỳ đơn giản.
Làm việc này có nguy hiểm đến tính mạng.
Nguy hiểm bắt đầu từ đâu? Đã bắt đầu từ chỗ Alen Pallas này rồi sao?
Chúng tôi rời khỏi sảnh tiếp đón. Nắng gắt như lửa thiêu, không khí dao động. Tôi nhìn quanh một lượt, từ đây chẳng nhìn thấy ngôi đền màu trắng nào trên thành cổ Acropolis cả.
"Xe của tôi!"
Pallas chỉ vào một chiếc Barracuda nói. Đầu xe lắp thêm rất nhiều đèn chiếu sáng, khiến tôi không khỏi nghĩ đến câu châm ngôn của một đồng nghiệp cảnh sát giao thông:
"Đèn trên xe càng nhiều, ánh sáng trí tuệ trong đầu càng ít."
Câu danh ngôn chí lý này liệu có phù hợp với Alen Pallas không? Tôi quyết định cẩn thận là trên hết.
"Tôi đi taxi."
Nụ cười trên mặt hắn lập tức biến mất. "Tại sao, ông Rafferty?"
"Quy tắc chỗ chúng tôi là không bước lên xe do người khác cung cấp. Một người không thể làm phiền đối phương."
"Ngài làm tôi đau lòng đấy, thưa ngài!"
Hắn bày ra bộ dạng như thể sự không tin tưởng của tôi thực sự làm hắn tan nát cõi lòng.
"Taxi ở đâu?" Tôi hỏi nhân viên khuân vác. Mấy từ tiếng Anh này anh ta đều hiểu, thế là dùng hai ngón tay huýt một tiếng sáo dài, lập tức có một chiếc taxi lao nhanh tới đáp tiếng.
Nhân viên khuân vác xếp vali lên xe giúp tôi.
"Ngài cũng không muốn ở lại nhà tôi sao, ông Rafferty?" Pallas hỏi.
"Xin anh giới thiệu cho tôi một khách sạn tốt!" Tôi đề nghị.
"Xin ngài hỏi tài xế taxi ấy!" Hắn hét lớn, giật cửa xe của mình ra, ngồi phịch vào ghế lái.
Chẳng lẽ tôi đã quá trớn? Trong trường hợp tồi tệ nhất, tôi vẫn sẽ tìm thấy Pallas và hộp đêm của hắn. Tôi bước vào xe taxi.
"Đến trung tâm thành phố!"
Tài xế lái xe taxi hòa vào dòng xe cộ. Khi tôi ngoảnh đầu lại, tôi thấy chiếc Barracuda của Pallas bám theo phía sau chúng tôi. Hừm, nhìn xem... tôi không khỏi cười lạnh một tiếng.
"Ngài muốn tìm một khách sạn phải không, thưa ngài?" Tài xế hỏi bằng thứ tiếng Anh bập bẹ.
"Đúng vậy, người bạn!"
"Tôi sẽ chỉ cho ngài một khách sạn, thưa ngài. Ngài sẽ hài lòng." Alen Pallas bám theo chúng tôi mãi đến trung tâm thành phố. Chúng tôi đi chậm qua một con phố lớn với những tòa nhà cao tầng mọc lên san sát ở hai bên. Một tấm biển đồng lọt vào tầm mắt tôi. Chữ Hy Lạp trên đó tôi không hiểu nổi lấy một chữ, nhưng vẫn có chữ tiếng Anh: American-Hellenic Joint Bank.
Nếu tôi không mang chiếc vali theo bên mình, đặt trước mặt, thì đối với ông Pallas và bất kỳ tên lưu manh nào, tôi sẽ mất đi sự cám dỗ khiến chúng muốn cắt cổ tôi. Nghĩ vậy, tôi vỗ vỗ vào vai tài xế.
"Tôi muốn ghé qua ngân hàng này một lát!"
Chúng tôi đã đi qua một đoạn khá xa. Vì vậy, tài xế buộc phải vòng qua khu phố một vòng, sau đó mới dừng lại trước cổng ngân hàng.
Một chiếc cổng vòm bằng cột trụ lộng lẫy, có một cảnh sát canh gác! Thật là quá tốt. Tôi quay đầu lại, bắt gặp khuôn mặt ngơ ngác của Alen Pallas phía sau kính chắn gió.
"Có ai biết nói tiếng Anh không?" Tôi hỏi một nhân viên.
"Ví dụ như tôi biết."
"Tôi có thể thuê một chiếc tủ đủ lớn để bỏ vừa chiếc vali này trong kho bảo hiểm của các vị không?"
Anh ta nhìn lướt qua chiếc vali. "Chúng tôi là ngân hàng, không phải nơi gửi hành lý tạm thời."
"Tôi đoán tổng cộng sẽ có vài chiếc két bảo hiểm đủ lớn."
"Không còn nghi ngờ gì nữa, thưa ngài."
Năm phút sau, tôi đẩy chiếc vali vào một chiếc tủ thép trong kho bảo hiểm dưới tầng hầm, và rút chìa khóa ra.
Nhân viên ngân hàng xoay chiếc chìa khóa thứ hai, vẫn do ngân hàng bảo quản.
"Điều kiện đã rõ ràng," tôi nhấn mạnh một lần nữa, "chỉ được giao tận tay tôi, và phải nói đúng mật mã."
"Tất nhiên, tất nhiên rồi, thưa ngài."
Alen Pallas đi đi lại lại đầy vẻ bất an trong sảnh giao dịch, ngẩng đầu nhìn thấy tôi liền vội vã chạy xộc tới.
"Ngài đã làm gì ở đây vậy? Vali của ngài đâu rồi?"
"Trong kho bảo hiểm rồi, ông Pallas. Tôi không thích xách đồ chạy đôn chạy đáo khắp nơi, tôi còn phải luôn để mắt tới nó như một con chó giữ nhà, sợ có kẻ rắp tâm bất chính với nó. Lời mời của anh còn hiệu lực không? Bây giờ tôi lại muốn nhận lời rồi đấy."
Sau khi do dự vài giây, hắn liền bật cười lớn. Hắn nắm lấy cánh tay tôi, kéo tôi đi về phía lối ra.
"Ngài quá đề cao tôi rồi, ông Rafferty. Trong ván cờ này tôi chỉ là một con tốt thí, một kẻ được dùng để xử lý những việc vặt vãnh không quan trọng. Tôi tuyệt đối không có gan chiếm đoạt tài sản của đối tác của ngài đâu, vì tôi còn muốn sống thêm vài ngày nữa. Tôi thích ngài rồi đấy. Tôi có thể gọi ngài là Gerald được không? Được rồi, ngài cứ gọi tôi là Alen."
Hắn trả tiền taxi, xách chiếc vali thứ hai của tôi vào xe của hắn, rồi mở cửa xe cho tôi.
Chiếc xe của chúng tôi băng qua toàn bộ Athens, còn Alen sắm vai hướng dẫn viên du lịch.
"Thuốc lá ở trong hộp đựng đồ dưới bảng điều khiển. Xin cứ tự nhiên! — Ngài có ba ngày." Hắn nói, "Ngài muốn xem gì ở đây? Văn hóa? Nơi ở của tôi ở khu Plaka, ngay dưới chân thành cổ Acropolis. Tôi sẽ cho ngài một căn phòng có thể ngắm nhìn các ngôi đền. Hoặc ngài thích nghỉ ngơi ở bờ biển hơn? Nếu vậy, tôi có thể đưa ngài đến vịnh Lagonisi, để cô gái đẹp nhất của tôi đi cùng ngài."
Hắn lái chiếc Barracuda len lỏi qua các con hẻm. Con hẻm hẹp đến mức tôi không cần duỗi tay ra cũng có thể chạm vào tường.
"Vào đêm muộn khu Plaka mới thực sự tỉnh giấc, tràn đầy sinh khí." Pallas giải thích, "Nó là Greenwich Village của Athens. Đây chính là nhà của tôi."
"Khách hàng tốt nhất của tôi là những thủy thủ đến từ khắp nơi trên thế giới." Pallas giới thiệu, "Họ từ Piraeus đến Athens, và tôi phải giải thích rõ cho họ hiểu họ có thể tận hưởng những gì ở chỗ tôi. Nhà hàng — Hộp đêm, điều này họ đều hiểu, cũng biết là chuyện gì."
Ngôi nhà tỏa ra mùi nước hoa, rượu whisky và gia vị cay nồng. Trong nhà nửa tối nửa sáng, vì tất cả các cửa sổ đều đóng chặt cửa chớp để ngăn ánh nắng mặt trời.
Trên cầu thang chúng tôi bắt gặp một cô gái, tóc tai bù xù, khoác chiếc áo choàng tắm cài khuy hờ hững. Cô ta nói một tràng tiếng Hy Lạp. Pallas cười ha hả, nhéo cằm cô ta, hôn lên hai bên má cô ta.
Phòng của tôi vừa hẹp vừa nhỏ, nhưng có phòng tắm riêng biệt.
"Ngài hãy nghỉ ngơi cho tốt, phục hồi mệt mỏi sau chuyến bay dài, Gerald!"
"Anh đã thông báo cho ai chưa, nói rằng tôi đã đến nơi?"
"Tất nhiên rồi."
"Ai?"
Hắn nhún vai, dang rộng hai tay, ra vẻ giống như một gã buôn thảm không chịu hạ giá.
"Tôi bấm một số điện thoại, chờ đợi, cho đến khi đầu bên kia nhấc máy, tôi liền nói một câu: 'Anh ta đang ở Athens.' Sau đó tôi dập máy."
"Anh liền không biết, đầu dây bên kia là ai sao?"
Hắn nheo mắt lại. Tôi nhận ra hắn nảy sinh nghi ngờ.
"Những đối tác đó của ngài thì ngài phải rõ hơn tôi chứ, tôi chỉ là một kẻ giúp việc vặt thôi."
Tôi ngã người xuống giường.
"Cảm ơn sự chu đáo của anh, Alen!"
"Thôi đi, ơn huệ gì chứ, Gerald. Những việc tôi làm đều có người trả tiền cả." Hắn kéo khép cửa phòng lại.
Tôi khoanh hai tay kê dưới đầu, suy nghĩ. Cho đến nay mọi chuyện tốt hơn nhiều so với những gì tôi dám tưởng tượng. Nhờ đợi tàu, chúng tôi tranh thủ được ba ngày thời gian. Chỉ cần tôi chắc chắn mình không bị giám sát, tôi phải gọi điện cho ông Harrison.
Tiếng chuông điện thoại vang lên. Điện thoại ở trên tủ đầu giường, tôi tiện tay nhấc ống nghe lên.
"Điện thoại của ngài đấy, bạn của tôi," Alen Pallas nói, "Điện thoại từ Mỹ gọi tới. Tôi chuyển máy đây." Một hồi âm thanh rầm rì rè rè, sau đó là giọng nói của một người đàn ông lè nhè đã bị biến đổi giọng.
"Đến rồi sao, chàng trai của tôi?"
"Đến rồi." Tôi khẳng định.
"Nói to lên chút!" Người đàn ông đầu bên Mỹ hét lên, "Tôi không nghe rõ cậu nói gì cả."
"Tôi đang hét lên đây rồi." Tôi trả lời. Tôi đang nói dối, vì tôi không muốn hắn nảy sinh nghi ngờ với giọng nói của tôi.
"Mọi chuyện đều thuận lợi chứ?"
"Chuyện này phải ba ngày nữa tôi mới biết được."
"Năm ngày nữa. Cậu hãy lưu ý một chút! Nhưng có kẻ muốn tước mạng đấy. Đừng quên mang theo súng ngắn! Hiểu chưa?"
"Hiểu." Tôi ứng phó nói, trong lòng thực ra không hiểu hắn ám chỉ điều gì.
"Cậu phải cẩn thận với Brodsky! Mũi hắn thính lắm, đâu đâu cũng có người của hắn."
Brodsky lại là nhân vật nào nữa đây?
Hai tiếng cạch cạch rất lớn. Chẳng lẽ điện thoại bị ngắt quãng?
"Lisa gửi lời chào cậu. Hay là tự cậu nói chuyện với cô ấy vài câu?" Người đàn ông nói, "Bây giờ để cô ấy nói!"
Kèm theo tiếng rè rè tạp âm, tôi nghe thấy giọng nói của người phụ nữ.
"Gerald, đừng bỏ mặc em! Anh sắp về chưa?"
"Phải," tôi trả lời, "Chắc chắn rồi! Đừng sợ!"
Tôi đang nói thay cho một người đàn ông đã chết.
Sau tiếng rè rè là tiếng u u đều đều. Điện thoại đã bị ngắt.
Cựu trung sĩ Thủy quân lục chiến Tex Connally mở một quán rượu phong cách Ireland mang tên "Green Island" tại phố Minna, ngay sát nghĩa trang Greenwood ở Brooklyn.
Hôm nay, khi gã từ phía sau quầy bar bước ra với những bước chân nặng nề, làm rung chuyển cả những chiếc ly trên bàn kêu lách cách. Trên chiếc bụng tròn xoe của gã thắt một chiếc tạp dề để rửa ly chén. Bây giờ nhìn xem những thứ cần rửa đều đã sạch sẽ, thế là cởi tạp dề ra. Trung sĩ Connally những năm qua quả thực đã phát tướng rồi.
"Tôi không có nhiều thời gian đâu, thám tử." Gã gầm lên với Phil, giọng nói vang dội như sấm rền. "Tôi đang chờ một nhóm người Ireland vừa dự tang lễ xong ghé qua, đến lúc đó tôi sẽ bận tối tăm mặt mũi cho mà xem. Người Ireland chúng tôi rất tôn trọng việc tưởng nhớ người đã khuất."
"Tex, anh từng là trung sĩ của trung đội mười chín. Anh còn nhớ Gerald Rafferty không?"
"Tất nhiên là nhớ Rafferty chứ. Một gã cứng đầu, nhưng không phải một quân nhân tốt. Lúc nào cũng thích cãi lại cấp trên, thiếu ý thức kỷ luật. Hắn từng được thăng chức hai lần, nhưng cũng vì chống đối lãnh đạo mà bị giáng xuống hai cấp. Cuối cùng thậm chí còn đi đến mức dùng bạo lực với đồng đội. Qua một thời gian, cuối cùng hắn sa chân vào đám người xấu."
"Anh nói đám người xấu là thế nào?"
"Những kẻ hám lợi, những con cá mập hai chân. Lũ côn đồ, tóm lại một câu là như vậy. Thám tử muốn nghe những câu chuyện nào trong số đó?"
"Chỉ muốn nghe những câu chuyện có sự tham gia của Rafferty thôi."
Connally nhìn đồng hồ.
"Những vị khách Ireland của tôi vài phút nữa là tới rồi. Nếu họ đến mà không thấy những chiếc ly rót đầy rượu, thì rắc rối to đấy, tôi sẽ mất khách mất thôi."
Gã đi đến trước quầy bar, xếp hai hàng ly lớn dài dằng dặc, bắt tay vào rót rượu whisky vào ly.
"Về chuyện của các cô gái là một vụ làm ăn bẩn thỉu không thể xem nổi. Chúng âm mưu vận chuyển một lô gái trẻ sang Nam Mỹ để bán vào các nhà chứa. Còn việc gì bẩn thỉu hơn việc buôn bán gái trẻ chứ? Kẻ giật dây đằng sau tội ác này là một con quỷ hám tiền đích thực."
"Anh có nhớ tên hắn không?"
"Tôi chưa từng nghe ngóng được tên của hắn. Có lẽ Rafferty và những kẻ khác cũng không biết tên họ thật của hắn. Thông thường khi nói về hắn đều dùng danh xưng 'The Kid'. Tôi đoán, hắn rất trẻ, không lớn tuổi bằng Rafferty và những người khác. Là một gã lưu manh hậu sinh."
"Những kẻ khác cùng tham gia phi vụ này với Rafferty tên là gì?"
"Trong số đó có hai người chết vì tai nạn xe hơi, người thứ ba tên là Walter Delian. Sau khi bị quân đội trục xuất, hắn cùng đi với Rafferty đến New York."
"Cảm ơn thông tin anh cung cấp, Tex." Phil nói.
Đúng lúc này, cánh cửa đột ngột bị đẩy ra. Một đám người mặc đồ đen ùa vào "Green Island" như thác lũ.
Một tràng tiếng la hét chào hỏi! Giọng nói ồn ào, tiếng cười rộ lên. Phil nhìn thấy rất nhiều mái đầu tóc đỏ và tàn nhang. Hai hàng ly whisky lớn đã được phân phát sạch trơn.
Một người đàn ông có vóc dáng cao lớn gần bằng Tex Connally nhưng không béo bằng gã giơ cao chiếc ly lên khỏi đầu.
"Để tưởng nhớ người Ireland tuyệt vời nhất New York, Sydney O'Connor, cạn ly!"
Họ uống cạn một hơi. Sau đó hai mươi bốn, hai mươi lăm chiếc ly cùng hướng về phía Connally, và khi gã rót rượu cho họ, những vị khách đi đưa tang này hát vang lên:
"Anh ấy là một gã cực kỳ đáng yêu..."
Họ hát những gì, tôi một chữ cũng không hiểu, nhưng hát rất hay. Tiếp đó, họ lại nhảy múa trên quảng trường nhỏ trước nhà hàng của Pallas.
"Điệu nhảy này gọi là Sirtaki." Cô gái được Pallas phái đến bàn tôi giải thích. Chúng tôi ngồi dưới ánh đèn lồng ngoài trời. Lúc này đã nửa đêm. Trước mỗi ngôi nhà đều có người ngồi uống rượu, ca hát và vỗ tay theo nhịp cho những người đang nhảy; nhóm người khiêu vũ kết thành một vòng tròn, chuyển động và nhảy nhót bằng những bước chân phức tạp. Thỉnh thoảng lại có một người đàn ông tách khỏi vòng tròn, nhảy một điệu đơn độc trên mặt đường lát đá gồ ghề.
Khi màn đêm buông xuống, khoảng hai mươi bốn cô gái bước ra từ phòng của họ, như một đàn chim đêm rực rỡ sắc màu, vẫy gọi du khách và thủy thủ đủ mọi quốc tịch vào bàn ngồi hoặc kéo họ vào vòng tròn khiêu vũ tự do, buộc họ phải vụng về nhảy nhót và uốn éo theo. Ở một vài chiếc bàn khác, những góa phụ người Mỹ đến châu Âu du lịch đang ngồi vây quanh, họ đắm chìm trong niềm hạnh phúc vô bờ, bị thu hút đến mức sùng bái chàng trai trẻ tóc đen cao gầy kia.
Dĩ nhiên ở đây người ta cũng kiếm tiền, và cũng có một ít hàng cấm được mua bán, chỉ là bằng một phương thức thân thiện, hòa nhã chứ không dùng đến đe dọa và bạo lực. Nơi này hoàn toàn không thể so sánh với Quảng trường Thời đại ở New York.
Cô gái bên cạnh tôi tên là Lidia, nhiệm vụ của cô là không bao giờ để ly rượu của tôi bị cạn.
"Ngày mai anh đi ra bờ biển với em không, anh yêu?" Cô dò hỏi, "Thuê một chiếc ô tô, chúng ta cùng đi! Ông Pallas cho em nghỉ phép. Em quen một chủ tiệm cho thuê xe, ông ấy sẽ lấy giá ưu đãi cho anh. Giá cực kỳ thấp luôn!"
Có thể cá cược bằng bất cứ thứ gì rằng Lidia chắc chắn nhận được tiền hoa hồng từ chủ tiệm xe kia.
Cô khẽ cọ mặt vào vai tôi, như một con mèo con ngoan ngoãn.
"Ông Pallas nói anh là một người giàu có, anh yêu à." Cô kêu meo meo như mèo, "Chúng ta thuê một chiếc sedan lớn của Đức đi."
"Ông Pallas nói dối đấy." Tôi vừa nói vừa quay đầu lại nhìn gã. Gã đang đứng ngay cửa lớn của nhà hàng, mặc một chiếc áo khoác ngắn bằng nhung đỏ và quần trắng. Chiếc cà vạt của gã sặc sỡ đủ màu, còn viên kim cương thì lấp lánh như một chùm tia laser.
Aaron nhe răng cười với tôi, chỉ tay về phía Lidia và ra hiệu, ý như muốn nói: Cô nàng quyến rũ đấy chứ, thế nào?
"Chúng ta khiêu vũ nhé?" Lidia nũng nịu hỏi.
Tôi bật cười. "Tôi thà uống thêm chút rượu vang còn hơn."
Lidia đứng dậy, uốn éo thắt lưng đi vào trong nhà. Aaron tránh đường ở cửa lớn cho cô ta vào.
Có ba người đàn ông đi ngang qua quảng trường, chắc chắn là người Mỹ.
Dù là âm nhạc, khiêu vũ hay các cô gái đều không vẻ gì khơi dậy được chút hứng thú nào của họ. Gương mặt họ u ám và dữ tợn. Hai người mặc áo khoác rộng, một người mặc áo sơ mi kẻ ca rô đỏ xanh.
Họ đi lướt qua các dãy bàn, đứng sững ngay trước mặt Aaron Pallas.
Tôi không nghe rõ họ nói gì. Tiếng nhạc, tiếng hát và tiếng vỗ tay quá lớn.
Nụ cười mà Aaron luôn mang theo khi chào hỏi bất kỳ ai gã coi là khách hàng của mình bỗng chốc biến mất khỏi gương mặt.
Ba kẻ kia vây quanh gã. Thể hình của họ vạm vỡ, lực lưỡng, Aaron lọt thỏm trong vòng vây đó. Họ ép gã vào cửa lớn, rồi dồn gã vào tận trong nhà.
Tôi đứng dậy, gạt hai gã thủy thủ đang định tập nhảy Sirtaki giữa các bàn ăn ra, rảo bước nhanh về phía cửa lớn. Tôi vô tình đâm sầm vào Lidia. Bình rượu vang lớn bụng tròn trên tay cô rơi xuống, đập xuống sàn lát đá vỡ tan tành.
"Áo của em!" Cô hét toáng lên. Tôi lấy tay bịt miệng cô lại. Ánh mắt tràn đầy hy vọng của cô nhìn chằm chằm vào tôi, rồi người cô mềm nhũn ngã vào lòng tôi. Cô đã hiểu sai ý tôi. Tôi đỡ lấy cô, để cô tựa vào tường.
"Im lặng!" Tôi hạ giọng gằn mạnh.
Bên trái, sát lối cầu thang có một vòm cửa treo rèm kết bằng những hạt ngọc trai dẫn đến quầy bar, nhưng chỉ khi thời tiết xấu khách mới đi lối này vào bar. Vào những đêm ấm áp thế này, nơi đây luôn vắng vẻ không một bóng người.
Tấm rèm ngọc trai khẽ leng keng phát ra tiếng động.
Họ không nghe thấy động tĩnh gì xung quanh, chỉ chăm chăm đối phó với Aaron.
"Hỏi mày lần cuối," một gã mặc áo khoác nói, "Nhiệm vụ của mày là tiếp đón kẻ mang tiền đến. Kẻ đó là ai? Hắn đã đến chưa? Hoặc mày phải đợi hắn ở đâu?"
"Chỗ tôi không phải là nơi các ông tìm đâu!" Pallas cam đoan, "Tôi không hiểu các ông đang nói gì cả, thưa ông. Xin hãy nhìn xung quanh xem! Tôi kinh doanh một quán bar nhỏ, việc tôi quan tâm là không để khách của mình thấy nhàm chán. Muốn tôi tìm cho các ông vài cô gái không? Không thành vấn đề! Các ông cứ ngồi xuống trước đã rồi..."
Một cú đấm cắt ngang lời gã.
Gã lảo đảo thối lui mấy bước. Gã mặc áo ca rô chộp lấy gã, bẻ ngoặt hai tay gã ra sau lưng, và thế là tên hung thủ giáng mạnh một cú đấm vào thẳng chấn thủy của Aaron.
Pallas phát ra một tiếng rên rỉ lẫn la hét.
Tôi đã chuẩn bị sẵn sàng để ra tay.
Tên đang giữ chặt Pallas vừa nhìn thấy tôi liền lập tức huýt sáo ra hiệu cảnh báo đồng bọn. Tên đấm quay người lại, nhưng tôi đã áp sát ngay trước mặt hắn.
Tôi túm lấy cổ áo khoác của hắn, giật mạnh về phía trước. Hắn nặng như một con bò tót. Tôi thúc mạnh đầu gối vào chân hắn, rồi liên tiếp tung hai cú đấm trái phải. Tôi chỉ đấm trúng xương ức của hắn, nhưng thế là đủ để hắn ngã ngửa ra đất.
Gã mặc áo khoác còn lại trừng mắt nhìn tôi, còn tên mặc áo ca rô thì buông tay đang giữ Aaron ra. Aaron lập tức gục xuống đất, hai tay ôm chặt lấy chấn thủy.
Tôi chộp lấy một chiếc ghế.
"Cho các người hai mươi giây, cút ngay!"
"Đừng có lớn lối thế!" Gã mặc áo khoác thứ hai vừa nói vừa thọc một tay vào trong vạt áo. Gã có một đôi mắt xanh lồi ra, trông giống hệt một con ếch.