[NỘI DUNG]:
Brodsky nghiến răng kèn kẹt.
"Tao chỉ mong chúng nó tóm cổ treo hết các người lên." Đôi mắt chim ưng của hắn lại dời sang găm chặt vào tôi. "Mày thì mọi chuyện vẫn như cũ. Tao đích thân lo liệu chuyện của mày, mày chưa hát xong thì chưa chết được đâu. Tao sẽ cho người đưa mày đến một nơi cảnh sát không rờ tới được, nơi chúng ta hoàn toàn không bị quấy rầy. Tao đã thuê một chiếc thuyền, một chiếc du thuyền biển có cabin. Ở Hy Lạp, có một chiếc thuyền là chuyện cực kỳ quan trọng."
Hắn quay sang phía bọn đàn em. "Đưa nó ra cảng lên tàu! Phải chú ý xem trên đường có xe tuần tra của cảnh sát không, hoặc có lập rào chắn phong tỏa không. Các người phải luôn luôn cảnh giác mọi lúc mọi nơi."
Cơn đau ép tôi chỉ có thể gượng thẳng người lên. Lorne và Slim một trái một phải kẹp chặt cánh tay tôi. Pedy lăm lăm vũ khí đi phía sau. Cánh cửa phòng được cẩn thận khẽ mở ra. Lorne thò đầu ra ngoài ngó nghiêng xung quanh trước.
"Không có vấn đề." Gã vẫy tay ra hiệu cho đồng bọn. Chúng vừa chạy vừa lôi kéo đẩy dúi tôi đến trước chiếc Ford màu xanh, tống vào ghế phụ. Pedy đứng gác cho đến khi Lorne và Slim lần lượt chui vào trong xe. Đợi đến khi họng súng ổ quay của Slim gí sát vào cổ tôi, Pedy mới từ phía gã đứng bước vào xe. Sau khi xe khởi động, tôi thấy Charles Brodsky rời khỏi ngôi nhà đó.
Bọn cướp tỏ ra bồn chồn bứt rứt, tâm thần không yên. Lorne nguyền rủa mỗi một chiếc xe xuất hiện phía sau qua kính chiếu hậu của gã. Gã liên tục thay đổi tốc độ để xác nhận xem xe phía sau có đang bám đuôi hay không. Tại một ngã tư, đèn tín hiệu giao thông vừa vặn chuyển sang màu đỏ, một chiếc xe chở hai người đàn ông mặc sắc phục rít bánh "két" một tiếng dừng ngay cạnh xe chúng tôi. Lúc này, trong xe Ford im phăng phắc như tờ. Slim dùng bàn tay còn rảnh che họng súng lại. Đèn giao thông chuyển tín hiệu. Những người mặc đồng phục kia liếc cũng không liếc tôi một cái rồi chạy thẳng về phía trước. Lorne thở phào một hơi dài.
Bây giờ là lúc tôi phải có hành động gì đó. Một khi chúng áp giải tôi lên tàu, tôi sẽ không còn chút hy vọng nào nữa. Tôi quyết định sẽ thực hiện một nỗ lực trốn chạy ngay khoảnh khắc chúng đưa tôi lên tàu. Chỉ cần tôi có thể nhảy một bước xuống cầu tàu, hoặc khom người lộn qua lan can, tôi sẽ có cơ hội né tránh được đạn súng của chúng.
Lorne lái chiếc Ford hướng về phía Piraeus. Tôi cứ ngỡ gã sẽ dừng xe ở cảng chuyên dụng cho du thuyền. Không ngờ tôi đã lầm. Gã băng qua từng dãy nhà kho, lái thẳng về phía trước. Rõ ràng, tàu của Brodsky neo đậu ở một góc nào đó trong khu vực cảng.
Tôi hít một hơi thật sâu. Cơn đau đã tiêu tán. Tôi diễn tập đi diễn tập lại kế hoạch đào tẩu trong đầu. Nếu cầu tàu vô cùng chật hẹp, bên cạnh tôi không thể có ai đi song hành, tôi buộc phải thử vận may trên đường đi tới du thuyền. Có lẽ sẽ có một tên côn đồ lăm lăm vũ khí bám sát ngay sau lưng tôi. Đối với tôi, người này tốt nhất là Pedy, vì gã trông có vẻ hành động chậm chạp nhất. Liệu tôi có nên gạt vũ khí sang một bên trước rồi mới nhảy lao người đi? Hoặc tốt nhất là...
Một chiếc xe tải chạy đối diện với chúng tôi trên lối vận chuyển chật hẹp giữa các nhà kho. Đây không phải là chiếc xe đầu tiên của buổi sáng hôm nay. Khắp nơi đều có xe tải đang ôm cua, đỗ bên thềm bốc dỡ, xếp hàng hoặc dỡ hàng.
Chiếc xe chở hàng đi ngược chiều này không có điểm gì khác biệt so với những chiếc khác — chắn bùn hơi móp méo, buồng lái sơn phết lòe loẹt, cửa xe hai bên rất cao, chất đầy các thùng carton và hòm gỗ không còn một kẽ hở. Không ai trong chúng tôi đặc biệt chú ý đến nó, dù là tôi hay băng đảng Brodsky. Khi chiếc xe tải đột ngột trượt về phía bên trái, đâm sầm vào chiếc Ford của bọn cướp, mọi sự né tránh né tránh đều đã quá muộn.
Tôi đổ người về phía trước, đập vào bảng điều khiển. Các thùng carton và hòm gỗ rơi rầm rầm xuống chiếc Ford. Mảnh kính vỡ bắn đầy người tôi. Cửa xe phía bên tôi bung ra, tôi không chút do dự nhảy xuống xe, đầu cũng không ngoảnh lại, dùng hết sức bình sinh cắm đầu chạy thục mạng. Mỗi một cú nhảy lao người đồng nghĩa với việc cách xa họng súng ổ quay của chúng thêm một bước; mà cách xa chúng thêm một mét, cơ hội bắn trúng của chúng lại giảm đi một phần... Chúng cần bao nhiêu thời gian để bò dậy, trấn tĩnh tinh thần và nổ súng ổ quay? Tôi đã chạy được mười giây hay mười hai giây? Hay chỉ mới ba giây?
Tiếng nổ chát chúa của phát súng đầu tiên dường như muốn xé rách màng nhĩ của tôi. Tôi bất chấp tất cả mà chạy...
Lại một tiếng pằng, lại một tiếng nữa!
Góc tường nhà kho đột nhiên sừng sững hiện ra trước mắt. Tôi ngoặt gấp một cái, vấp phải vật gì đó, loạng choạng ngã nhào xuống đất. Tôi lăn lộn mấy vòng trên mặt đất, bật dậy tiếp tục phi như bay.
Tôi nhanh chóng lạng lách đổi hướng chạy, lao đến gần một dãy cần cẩu bốc dỡ hàng dài dằng dặc, chợt nghe thấy tiếng Lorne gầm rú phía sau: "Đừng để thằng khốn đó chạy thoát!"
Từ giữa trận thế cần cẩu san sát, tôi rẽ vào lối đi hẹp giữa hai bức tường cao không có cửa sổ. Lối đi này nối liền với một bến tàu nhô ra rất xa phía biển.
Tôi chạy ngược lại, phát hiện trên bức tường cao có những bậc thang sắt. Ngay khi tôi đang leo lên, Lorne xuất hiện ở đầu kia của lối đi. Tôi lộn người một cái liền biến mất giữa những kiện hòm gỗ chất đống dọc theo mép bến tàu.
Lorne đuổi theo dọc lối đi.
"Tao biết mày ở quanh đây!" Gã cố ý hạ thấp giọng nói.
Những hòm gỗ chất cao tạo thành một mê cung. Tôi không nhìn thấy tên cướp, gã cũng chẳng trông thấy tôi. Tuy nhiên, nếu con đười ươi của Brodsky tóm được tôi ở góc kẹt nào đó, thì đó cũng là vì gã nắm toàn bộ quân bài tẩy. Gã có vũ khí, còn tôi tay không tấc sắt.
Tôi lặng lẽ dịch chuyển bước chân nhẹ nhàng dọc theo đống hòm gỗ, nghiêng người luồn lách như rắn trong khe hở chật hẹp giữa hai đống hòm. Tôi cố gắng giữ hành động không phát ra tiếng động, nghiêng tai lắng nghe tiếng bước chân và hơi thở của Lorne.
Sau đó tôi chạy đến bên một bức tường hòm, áp chặt cơ thể vào đó. Bức tường cao hơn hai người, khít khao không kẽ hở, kéo dài thẳng đến mép bến tàu.
Cấu thành bức tường này toàn là những chiếc hòm lớn và dày dặn, phủ vải dầu bọc hắc ín, trên dưới đều được đóng chặt gia cố bằng các thanh ngang. Có lẽ bên trong chứa đồ kim khí nặng.
Tôi cố gắng trèo qua chiếc hòm ngoài cùng sát phía bến tàu, một mũi chân giẫm lên thanh ngang, cơ thể áp sát vào hòm gỗ, vươn hai cánh tay ra. Dưới chỗ tôi năm sáu mét là dòng nước biển loang loáng dầu mỡ đang dập dềnh.
Cuối cùng tôi đã thành công. Tôi lộn sang phía bên kia, nhìn thấy một căn lán lợp tôn sóng. Tôi khom người núp dưới chân tường sát mép.
Lorne vòng qua bức tường hòm, đang rón rén tiếp cận mép bến tàu. Tôi nghe thấy tiếng bước chân nhẹ nhàng của gã. Gã tiến lên vừa chậm chạp vừa dò dẫm.
Tôi cẩn thận đi vòng một vòng quanh căn lán nhỏ. Đối với một khán giả nhìn từ trên không xuống cảnh tượng này, trông có vẻ như một màn ballet kỳ ảo, hoặc giả như trò mèo vờn chuột của trẻ con.
Tôi đã đạt được mục tiêu của mình. Khi Lorne lọt vào tầm mắt của tôi, gã đang đứng sát mép bến tàu, lưng quay về phía tôi. Tôi từ sau lưng gã lao mạnh tới, cố gắng vừa chộp lấy bàn tay cầm súng của gã, vừa bẻ cánh tay đó ra sau vai gã.
Rất tiếc tôi chỉ làm được một nửa. Gã nắm chặt khẩu súng, bóp cò, một tiếng súng "pằng" vang lên, xuyên qua sự ồn ào náo nhiệt của bến cảng.
Lorne liều mạng muốn quay người lại. Gã gồng cong lưng. Tôi giả vờ thả lỏng. Chỉ có một cánh tay của gã là tôi vẫn dùng tay phải khóa chặt không buông.
Gã vặn thân trên, tôi thấy gương mặt gã hoàn toàn biến dạng. Ngay khoảnh khắc gã đang chuyển dịch vị trí hai chân, tôi thúc mạnh cùi chỏ trái nhắm thẳng vào cằm gã. Đầu và thân trên của gã đột ngột ngửa ra sau. Gã mất thăng bằng. Vị trí của gã quá sát mép bến tàu, mọi nỗ lực lấy lại thăng bằng đều vô ích.
Gã trượt theo bức tường ngoài của bến tàu ngã xuống, va vào cọc bích neo tàu bên dưới, rơi đánh "ùm" một tiếng xuống nước.
Tôi chạy bứt tốc đến trước bức tường có bậc thang sắt. Bởi tôi lo tiếng súng của Lorne sẽ thu hút Pedy và Slim về hướng của tôi. Tôi lao lên các bậc sắt, vượt qua bức tường cao. Chỉ thấy phía bên kia bức tường là một đại lộ, cao hơn bến tàu rất nhiều. Rõ ràng bức tường cao này được dựng lên để bảo vệ khu vực này.
Tôi đổ người để giảm độ xóc khi nhảy xuống, toàn bộ hành động nhanh đến mức, nói một cách hình tượng, chỉ vừa bằng thời gian thắt một chiếc cà vạt.
Phía bên kia đường có một dãy nhà dài chưa xây dựng xong. Tôi nhanh chóng nhưng không hề hoảng hốt đi qua dãy công trình này. Có mấy người thợ đang bận rộn chuẩn bị cho công việc ban ngày. Bây giờ vẫn còn rất sớm vào buổi sáng.
Con phố ngang tiếp theo dốc ngược lên sườn đồi. Chỉ có lác đác vài ngôi nhà thô sơ điểm xuyết trên con phố dốc đứng. Khi tôi sắp lên đến điểm cao nhất, một chiếc ô tô nhỏ màu trắng rách nát từ dưới bò lên, trông xập xệ như một con bọ cánh cứng. Động cơ kêu phành phạch, tài xế nhấn ga hết cỡ, muốn cho chiếc xe cổ lỗ sĩ bị "viêm phế quản" này cuối cùng có thể leo lên con dốc cao.
Tôi tự đi phần mình, đầu cũng không ngoảnh lại. Từng thớ cơ trên người tôi đều căng thẳng tuyệt đối.
Chiếc xe đuổi kịp tôi. Tôi sẵn sàng ứng phó với mọi tình huống bất trắc. Thế nhưng không có chuyện gì xảy ra cả. Con bọ cánh cứng nhọc nhằn bò về phía trước, xả ra từng luồng khí thải khét lẹt phả vào mặt tôi.
Tảng đá trong lòng tôi rơi xuống đất.
Không phải đồng bọn của băng đảng, cũng chẳng phải mật thám cảnh sát! Chỉ là một người Hy Lạp bình thường!
Cách tôi chưa đầy hai mươi mét phía trước, chiếc xe rách nát kia dừng lại. Cửa sổ bên hông được quay xuống.
Tôi hít một hơi lạnh, cắn chặt môi dưới. Không biết từ đâu ra những lời nguyền rủa chửi bới vô lý bỗng dưng tràn ngập trong đầu tôi. Chửi bới cũng vậy, đứng đờ ra như cột điện cũng thế, lúc này chỗ này đều chẳng giải quyết được gì.
Tôi lững thững tiếp tục đi về phía trước.
Trong cửa xe hiện ra một bàn tay ngoe vẩy, rồi đến một cánh tay trần, cuối cùng là đầu của một cô gái.
Mái tóc vàng dài, đôi mắt gần như màu đen.
"Này! Anh không phải là người mua tranh của tôi sao? Anh làm gì ở đây thế? Tôi có thể cho anh đi nhờ một đoạn không?"
Tôi chộp lấy tay nắm, mở cửa xe. Nói chính xác hơn, tôi hối hả giật phắt nó ra.
"Thật sự là quá vui rồi, ừm..."
Chết tiệt, cô ấy tên gì nhỉ? Ờ — ờ — Socrates hay cái tên gì đó tương tự.
"Gã đàn ông đó tên là Charles Brodsky." Ông High nói, đưa một bản fax dài từ trung tâm FBI cho Phil. "Brodsky bị FBI và đội phòng chống ma túy của cảnh sát xác định là kẻ tổ chức một mạng lưới tiếp thị độc lập."
"Hắn có thể là người ủy thác của Lafferty không?"
"Câu hỏi này vẫn chưa thể trả lời rõ ràng. Brodsky đã lưu lại San Francisco suốt mấy tháng trời. Điều này chứng tỏ giữa hắn và Gerald Lafferty có liên hệ. Mặt khác, FBI không nắm được thông tin hắn lưu lại lâu dài ở New York. Chính cậu, Phil, thông qua Walter Drian đã điều tra ra 'Cậu trẻ' và Lafferty từng gặp nhau ở New York."
Ông chỉ vào một dòng trong bảng lý lịch.
"Chính vào năm này, Brodsky dường như thực tế đã định cư một trăm phần trăm ở Bờ Tây. Nhưng việc đến thăm New York cũng không thể hoàn toàn loại trừ."
"Lafferty gặp 'Cậu trẻ' là ở tòa nhà Burton." Phil nói, "Mà chúng ta có được thông tin từ Walter Drian rằng, ở lần ghé thăm thứ hai gã đã rất rõ ràng sẽ gặp 'Cậu trẻ' ở đó. Tôi đoán, 'Cậu trẻ' có một văn phòng làm việc hoặc mở một công ty nào đó ở tòa nhà Burton. Tôi đã yêu cầu một danh sách tất cả các công ty thuê phòng ở tòa nhà Burton. Tổng cộng là một trăm mười bốn công ty, đại lý, văn phòng luật sư, văn phòng môi giới địa ốc, vân vân. Chi nhánh của các tập đoàn lớn, chi nhánh nước ngoài, các luật sư có uy tín không thể chê vào đâu được. Bốn mươi nhà còn lại tôi muốn thẩm tra thêm một chút."
"Đồng ý, Phil. Tòa nhà Burton cũng là nơi Lisa Franklin làm việc?"
"Tôi đã nói chuyện với Raymond Jackson, tức là ông chủ của công ty đó. Ông ta đã đăng thông báo tìm người. Dường như ông ta không đánh giá cao Gerald Lafferty. Có lẽ trong đó cũng có vài phần ghen tuông, mặc dù Jackson đã sáu mươi hai tuổi. Về quá khứ của Lafferty ông ta biết rất ít. Băng đảng mà Lafferty phục vụ, đối tượng tống tiền chủ yếu là các cửa hàng thời trang. Jackson xuất bản một tờ báo thời trang, đồng thời cũng kinh doanh nhập khẩu hàng dệt may. Lisa quen biết Lafferty khi tham gia một phiên tòa xét xử gã."
Vẻ mặt của ông High phản ánh sự lo lắng trong lòng ông.
"Tôi hy vọng chúng ta có thể biết được từ Jerry rốt cuộc Brodsky đóng vai trò gì đối với Lafferty."
"Cậu ấy hễ có cơ hội là sẽ gọi điện thoại ngay, thưa ngài!"
"Vấn đề là một khi cậu ấy bắt liên lạc được với những kẻ nhận số tiền khổng lồ kia, liệu cậu ấy có còn tự do gọi điện thoại được nữa không. Những lúc thế này, cậu ấy tuyệt đối không được gây ra bất kỳ sự nghi ngờ nào. Cứ nghĩ đến việc chúng ta không rõ quá trình giao dịch giữa người ủy thác của Lafferty và đối tác ở Hy Lạp rốt cuộc mất bao nhiêu thời gian, là tôi lại thấy đau lòng như dao cắt. Vài ngày hay vài tuần? Cậu tưởng tượng xem, Phil, ngay lúc chúng ta ngày qua ngày chờ đợi một tin tức của Jerry, một tín hiệu cho thấy cậu ấy còn sống trên đời, thì một thảm họa có thể đã xảy ra từ lâu."
Ông đứng dậy, tiễn Phil ra cửa.
"Một khi chúng ta thành công tìm ra 'Cậu trẻ' và giải cứu được Lisa Franklin, chúng ta có thể gọi Jerry về từ khu vực nguy hiểm. Cậu hãy thẩm tra những công ty đó đi, Phil! Mọi thứ liên quan đến Gerald Lafferty dường như đều tụ hội ở 'tòa nhà Burton'."
Phil lái xe từ tổng bộ đến đại lộ Madison. Bốn mươi công ty ông chọn ra nằm rải rác ở khắp ba mươi sáu tầng lầu. Danh sách trên tay ông được sắp xếp theo thứ tự bảng chữ cái, như vậy, ông phải chạy đôn chạy đáo ngược xuôi trong cả tòa nhà, giống như một gã nhà quê đi thang máy để tiêu khiển vậy. Ở tầng ba mươi tư, ông đến gặp một đại lý người mẫu ảnh, nhìn cách ăn mặc của gã, Phil suốt mười phút đồng hồ cứ coi gã là một người phụ nữ, vì đại lý này nói chuyện cũng ra vẻ một đại minh tinh thần kinh chập chờn.
Phil gạch tên gã khỏi danh sách, rồi lại đi xuống tầng hai, gặp một người môi giới địa ốc, một người phụ nữ thực sự; ở tầng chín và tầng hai mươi ba, ông lần lượt nói chuyện với hai vị luật sư, trong đó có một người ông cho là khả nghi, nên tạm thời giữ lại tên của gã trên danh sách; sau đó ông tìm gặp một quý ông tên là Abram Dogfield. Ông ta thuê sáu căn phòng ở tầng ba mươi sáu, tức là tầng cao nhất của "tòa nhà Burton". Một người đàn ông vạm vỡ như bò mộng, hoàn toàn đủ tố chất làm vệ sĩ cận thân, mở hé cửa một khe nhỏ. "Ông Dogfield chỉ tiếp những khách đã hẹn trước." Giọng gã ồm ồm vang lên như sấm rền.
Phil rút thẻ ngành FBI ra. "Để tôi đi hỏi." Gã vệ sĩ cận thân lầm bầm một câu, rồi rầm một tiếng đóng cửa lại. Năm phút sau gã lại mở cửa, sau khi cho Phil vào liền dẫn ông đi qua những căn phòng bày đầy các loại đồ cổ muôn hình vạn trạng. Trên tường treo kín các bức tranh khổng lồ. Ở căn phòng cuối cùng, từ cửa sổ có thể nhìn thấy tòa nhà hãng hàng không Pan Am và những tòa nhà cao tầng san sát ở phố Đông thứ bốn mươi hai. Phía sau một chiếc bàn viết lớn mang phong cách thời Phục Hưng là một người đàn ông hói đầu rõ ràng đã ngoài thất tuần. Phil đoán ông ta chẳng bao lâu nữa sẽ mừng thọ tám mươi.
"Tôi là Abram Dogfield!" Lão già nói lớn, "Tôi đã gọi điện cho tổng bộ FBI để xác nhận cậu là điều tra viên. Xin hãy cho tôi biết đã xảy ra chuyện gì! Tôi thích thỉnh thoảng đổi khẩu vị, cuộc sống phải phong phú đa dạng. Ở tuổi này của tôi, một người đã chẳng còn trải nghiệm được bao nhiêu."
Phil biết ông có thể gạch tên của ông Dogfield đi. Chỉ là để lịch sự, ông đặt ra một câu hỏi:
"Ông sống ở 'Burton' từ khi nào vậy, thưa ngài?"
"Từ lúc nó mới xây xong! Là tôi cho xây tòa nhà này, và cho đến hôm nay tôi vẫn là cổ đông duy nhất của công ty liên hợp 'Burton'. Ngôi nhà nhỏ này là thuộc về tôi!"
Phil khó khăn lắm mới từ biệt được ông Dogfield. Ông khẳng định suy đoán của mình là hoàn toàn chính xác, cho nên ông nhất định phải làm sáng tỏ, trong ngôi nhà này của ông ta, rốt cuộc là ai, ở chỗ nào, vào lúc nào, trong hoàn cảnh nào đã bị mưu sát. Khi gã vệ sĩ cận thân cuối cùng cũng khóa cửa lại sau lưng ông, Phil hít một hơi thật sâu. Đây là lần đầu tiên trong đời ông gặp một chủ sở hữu tòa nhà chọc trời.
Cái tên tiếp theo trong danh sách của Phil là Roger Hjertrup. Phil tìm thấy cái tên này trên một cánh cửa kính ở tầng hai mươi tám. Dưới tên là tên công ty "Bộ phận phân phối thiết bị tự động." Ông mở cửa. Giữa tiếng ồn ào rè rè và ánh sáng nhấp nháy của những chiếc máy chơi game, một cô thư ký tóc vàng không đẹp không xấu đang gõ một chiếc máy đánh chữ không phải thiết bị điện tử.
"Tôi có thể gặp ông Hjertrup không?"
"Xin hỏi quý danh của ông là gì, thưa ông?"
"Phil Decker, FBI phân khu New York."
"Một đặc vụ FBI muốn gặp ông, ông Hjertrup."
"Bảo hắn xuất trình chứng minh thư của hắn, Betty!" Từ bức tường đối diện vang lên giọng nói ồm ồm như sấm. Phil quay người lại, nhìn thấy một con King Kong cao bằng người thật đang mấp máy đôi môi trên dưới. Ông Hjertrup rõ ràng thích chuẩn bị một chút bất ngờ nho nhỏ cho khách đến thăm của mình.
Cô gái tóc vàng cười khúc khích. "Tôi lần nào cũng bị giật mình đấy. Có thể cho tôi xem chứng minh thư của ông không?"
Phil xuất trình thẻ căn cước của mình cho cô.
"Anh ta có một chứng minh thư của FBI, thưa ông Hjertrup." Cô ghé sát vào ống nói báo cáo. Phil nhìn con đười ươi đồ chơi, đợi nó mấp máy môi trên dưới, chiếc loa giấu kín phát ra âm thanh ồm ồm.
Nhưng nó không hề cử động miệng cũng không phát ra âm thanh, mà là mở ra một cánh cửa giữa hai robot chân vịt. Một người đàn ông gầy gò tầm thước bước vào phòng tiếp tân, nói lớn: "Ha! Tôi là Roger Hjertrup. Tại sao FBI lại hứng thú với tôi?"
Phil cảm thấy Hjertrup trông giống một người nào đó. Nhưng cảm giác giống nhau mơ hồ này có lẽ chỉ liên quan đến nhân vật chính trong bộ phim truyền hình dài tập nào đó, hoặc với một ngôi sao chính trị thường xuyên xuất hiện trước ống kính vì tiền đồ sự nghiệp.
Hjertrup khoảng ba mươi lăm ba mươi sáu tuổi. Mái tóc vàng dày được để dài xõa ra theo mốt thời thượng ngày nay. Bộ comple bằng nhung mặc trên người màu đỏ thẫm, đối chọi với chiếc cà vạt bản to màu vàng tươi giống như một cú đấm đập mạnh vào thị giác của người nhìn.
"Mời vào văn phòng của tôi, điều tra viên!"
Trên tường văn phòng giám đốc cũng dán và treo đủ các loại máy chơi game, có đến mười mấy loại.
"Chỗ tôi trông bừa bộn quá." Hjertrup ái ngại nói, "Văn phòng của tôi cũng chính là kho hàng của tôi. Không thể có lượng hàng tồn kho lớn. Máy chơi game lỗi mốt còn nhanh hơn cả quần áo phụ nữ."
Gã chỉ vào một người đàn ông lực lưỡng tóc đen đang cầm tuốc nơ vít làm việc trước con robot chân vịt, nói: "Mike Brooker, thợ máy của tôi — Mike, lát nữa anh hãy sửa tiếp."
"Xong ngay rồi, thưa ông Hjertrup." Người thợ máy nói rồi thảy một quả bóng nhỏ vào bàn chơi game. Tín hiệu ánh sáng chớp nháy liên tục, theo mỗi lần va chạm của quả bóng nhỏ, trên mặt kính mờ ở đỉnh máy, chưa đầy một giây đã hiện lên hình ảnh một cô gái.
"Đây là loại máy chơi game mới nhất được tung ra thị trường." Hjertrup vừa nói vừa thảy quả bóng nhỏ thứ hai vào bàn chơi game.
Cô gái xuất hiện rồi biến mất, khi xuất hiện lại lần nữa quần áo trên người bớt đi một món, sau đó lại biến mất.
"Ai thắng được điểm số cao nhất thì người đó sẽ có được thứ đẹp mắt nhất. Trò này chỉ thích hợp cho phòng sau." Hjertrup nói xong cười lớn ha hả, đưa tay chỉ vào một chiếc ghế.
Người thợ máy rời khỏi phòng.
"Ông có quen Lisa Franklin không?" Phil đi thẳng vào vấn đề hỏi.
"Hình như tôi không quen. Tôi có nên quen cô ấy không?"
"Cô ấy cũng làm việc trong 'tòa nhà Burton'."
"Điều tra viên, có tổng cộng bảy nghìn người làm việc trong các văn phòng ở tòa nhà này. Cô gái đó làm việc cho ai?"
"Một tờ báo thời trang."
Gã lắc đầu. "Chưa từng nghe nói! Tôi chưa bao giờ đăng quảng cáo trên tạp chí thời trang."
"Ông từng gặp một người đàn ông tên là Gerald Lafferty chưa?"
Gã nhấn nút trên máy đối thoại: "Betty, chúng ta có quen ai tên là Gerald Lafferty không?"
"Theo như tôi biết thì không quen, thưa ông Hjertrup." Giọng của cô thư ký truyền ra từ loa phát thanh hoàn toàn bình thường.
Hjertrup nhìn Phil nhún vai.
"Đối với câu trả lời của Betty thì hoàn toàn có thể yên tâm. Cô ấy hiểu công ty của tôi rõ như lòng bàn tay."
"Ông từng đến San Francisco chưa, ông Hjertrup?"
"San Francisco? Thỉnh thoảng đi ngang qua ở lại một ngày. Tại sao ông lại hỏi chuyện này?"
"Cảm ơn câu trả lời của ông, ông Hjeltrup!" Phil nói, "Xin lỗi vì đã làm mất thời gian của ông."
"Không sao. Nếu sảnh dạ tiệc của ông cần robot chân vịt thì cứ tìm tôi."
Trong hành lang, Phil lấy danh sách ra, định gạch tên Hjeltrup đi. Nhưng nghĩ lại, anh có chút do dự, bèn đánh một dấu tích trước tên và vẽ một dấu chấm hỏi phía sau.
Anh bắt đầu di chuyển đến hộ thuê tiếp theo. Người này tên là Joe Caprey, tầng mười hai.
Trong phòng tiếp khách của Caprey, anh gặp một gã đàn ông lùn béo húp híp, đầu tròn xoe, tóc cắt ngắn dựng ngược như bàn chải. Khi Phil bước vào, hai chân gã gác trên bàn viết vẫn không thèm hạ xuống.
"Anh muốn nói chuyện với ông Caprey?" Gã lặp lại yêu cầu của Phil, chỉ chỉ vào chiếc điện thoại đặt cạnh đôi bàn chân to đùng của mình. "Anh tự gọi cho ông ấy đi! Số máy lẻ của phòng ông ấy là 18."
Phil nhấc ống nghe lên quay số. Giọng một người đàn ông cộc lốc vang lên: "Có chuyện gì?"
"Tôi là Decker thuộc FBI! Tôi có thể gặp ông không, ông Caprey?"
Phải mất vài giây im lặng, anh chỉ nghe thấy tiếng thở của người đàn ông kia, sau đó mới nghe thấy câu trả lời ngắn gọn của Caprey: "Cửa thứ hai bên trái!"
Joe Caprey cũng không ở một mình trong văn phòng. Trên một chiếc ghế sofa có một gã đang ngồi, ngoại hình trông như đúc từ một khuôn với gã vệ sĩ ngoài phòng tiếp khách.
Bản thân Caprey có lẽ ở độ tuổi từ ba mươi đến bốn mươi. Để ước lượng chính xác tuổi của gã quả thực không dễ dàng.
Mái tóc thưa thớt khiến gã trông già hơn so với khuôn mặt nhẵn nhụi hơi phúng phính. Đôi mắt màu xanh lam ti hí, lúc nào cũng như đang nhìn trộm thứ gì đó. Khuôn miệng rộng và bướng bỉnh.
"Ông kiếm sống bằng nghề gì, ông Caprey?"
"Tôi là đại lý môi giới giải trí. Tôi giới thiệu tất cả những gì liên quan đến biểu diễn nghệ thuật giải trí: kịch bản sân khấu, kịch bản điện ảnh, đạo cụ, diễn viên, ngôi sao..."
"Bao gồm cả các cô gái chứ?" Phil hỏi.
"Dĩ nhiên là bao gồm cả các cô gái. Diễn viên ballet, diễn viên múa đơn, vũ nữ, vũ nữ thoát y, vân vân. Anh thích kiểu nào, điều tra viên?"
Gã đàn ông như đúc từ một khuôn kia phá lên cười quái dị.
"Ông có môi giới các cô gái châu Á không?"
"Anh tìm loại mắt híp đó à?" Caprey vẫn giữ giọng điệu đầy khiêu khích, "Tôi phải tra lại danh mục của mình đã."
"Không có hàng mới nhập khẩu sao?"
Caprey nheo đôi mắt sụp xuống của gã lại.
"Tôi biết mục đích của anh là gì rồi, điều tra viên. Anh muốn tìm một người mà anh cho là đang buôn bán phụ nữ bất hợp pháp. Ở chỗ tôi không có chuyện đó đâu. Hợp đồng tôi ký đều kín kẽ không tì vết."
"Ông từng đi lính chưa?"
"Chưa. Chúa kính yêu đã ban cho tôi bệnh sỏi mật, bàn chân bẹt và vẹo cột sống. Khi tôi bước vào hội đồng khám sức khỏe, vị tướng phụ trách đã nói ông ấy không muốn có một con lừa như tôi trong quân đội của mình."
"Ông đã từng đến San Francisco chưa?"
"Chưa. Đến đó làm gì? Tôi ở New York rất tốt."
Gã vệ sĩ cận thân ngoài phòng tiếp khách lặng lẽ bước vào. Gã mở tủ rượu, rót đầy một ly.
"Cho tao một ly nữa, Dick!" Người anh em sinh đôi như đúc từ một khuôn của gã yêu cầu.
"Trước đây ông từng đưa các cô gái từ Việt Nam sang Mỹ phải không?" Phil ôn tồn hỏi.
Lần này, hai gã hộ pháp như hai con đười ươi sinh đôi cùng cười rộ lên quái đản.
"Đưa gái Việt Nam sang Mỹ? Nếu họ không có thẻ di trú thì đó là việc bị cấm. Loại giấy tờ đó rất khó kiếm. Khó khăn nhiều vô số kể, nào là cơ quan chức năng, nào là các loại công đoàn, rồi lại đến hết công chức chính phủ này đến công chức chính phủ khác rảnh rỗi sinh nông nổi. Anh xem, điều tra viên, không phải tôi chưa từng thử, nhưng đều không thành công, thế nên con gái Việt Nam lớn lên ở đâu thì tôi để họ ở yên đó thôi. Sau này chiến tranh kết thúc đúng là có một lượng lớn tràn vào Mỹ thật, nhưng lúc đó cơn sốt tóc đen, mắt đen và da ngăm cũng qua rồi."
Phil cảm thấy cực kỳ ghê tởm gã Joe Caprey này, giống như lũ gián khổng lồ sinh sôi nhanh chóng trong thời tiết oi bức của New Orleans.
"Ông có quen Gerald Rafferty không?"
"Làm bên ngành giải trí à? Người làm giải trí tôi quen cả ngàn người. Nhưng anh đừng trông mong tôi nhớ hết tên của bọn họ."
"Ông có ấn tượng gì với cái tên Lisa Franklin không?"
"Không. Anh nói tôi mới biết đấy."
"Cô Franklin làm việc ở 'Bourdon' nhưng đã mất tích. Gerald Rafferty cũng vậy."
"Cô ta là vị thành niên à?" Caprey hỏi, qua đó Phil nhận ra gã môi giới này biết rõ ranh giới nguy hiểm trong công việc của mình.
"Không phải."
"Vậy thì anh có gì mà phải bất an chứ? Nếu gã thuyết phục cô ta đi cùng gã đến nơi nào đó để có thể ở bên nhau không bị quấy rầy, thì tôi nghĩ..."
"Ông Caprey, tôi đã nghe đủ ý kiến của ông về các cô gái Việt Nam, binh lính và quan chức chính phủ rồi." Phil ngắt lời gã, "Tôi e rằng nếu nghe thêm một ý kiến nữa tôi sẽ không chịu nổi mất. Cảm ơn ông đã trả lời các câu hỏi của tôi."
Nói xong, anh mang theo sự ghê tởm tột cùng rời khỏi văn phòng đó. Rõ ràng, anh không gạch tên Joe Caprey khỏi danh sách của mình. Nhưng đồng thời anh cũng nhận ra phương pháp này quá lãng phí thời gian. Nếu cứ tiếp tục thế này, anh không thể hy vọng có được kết quả nhanh chóng.
Anh quả thực đã gặp vài kẻ khả nghi, ví dụ như Hjeltrup, Caprey, và gã luật sư ở tầng hai mươi ba, nhưng nếu thực sự một trong số họ là "gã trai trẻ", anh cũng không cách nào xác nhận được thân phận đó.
Vậy thì ai có thể xác nhận thân phận của "gã trai trẻ"? Walter Dreian từng gặp gã ở phố Tàu tại San Francisco. Ngay cả khi Dreian tuyên bố lúc đó gã say rượu không nhớ rõ mặt mũi, thì cũng không loại trừ khả năng gã có thể nhận ra "gã trai trẻ" khi đối chất trực tiếp.
Phil quyết định nói chuyện với Dreian một lần nữa. Có lẽ trong lúc anh đi lên đi xuống "Tòa nhà Bourdon", anh có thể dứt khoát đưa gã đi cùng luôn.
Hai mươi phút sau, Phil bước xuống xe, đi vào một ngôi nhà bẩn thỉu, xập xệ trên phố 128 ở Nam Bronx. Dreian sống ở đây.
Căn phòng độc thân của gã ở trên tầng bốn.
Phil gõ cửa, vì trong ngôi nhà này từ lâu đã không còn chuông cửa nữa. Vừa gõ một tiếng, then cửa cọt kẹt một cái, cánh cửa từ từ hé mở. Rõ ràng cửa không khóa.
Phil dùng chân đẩy cửa bước vào phòng.
Walter Dreian nằm úp mặt trước cửa sổ, trên người chỉ mặc một chiếc quần dài. Phần thân trên trần trụi da dẻ xám xịt. Phil ngồi xổm xuống bên cạnh gã, lập tức cảm nhận được luồng khí lạnh toát tỏa ra từ cơ thể gã.
Ngay cả khi không nhìn sắc mặt, chiếc lưỡi thè ra và sợi dây nilon quấn quanh chiếc cổ gầy guộc, anh cũng biết Walter Dreian đã chết.
"Cô có biết Aaron Pallas đã chết rồi không?" Tôi hỏi.
Cô gái có cái tên dài ngoằng phức tạp đang lái chiếc xe bọ cánh cứng màu trắng hướng về phía trung tâm thành phố.
Tôi đã có thể nhìn thấy thành cổ Acropolis. Những cây cột tròn chìm đắm trong ánh nắng ban mai, trông như trở nên trong suốt.
Cô ấy quay đầu lại, liếc nhìn tôi bằng đôi mắt đen sâu thẳm tương phản kỳ lạ với mái tóc vàng kim. "Thật sao?"
Tôi chợt nhớ ra tên của cô ấy: Tessa! Cái tên này ít nhất gọi lên nghe cũng thuận miệng. "Bị mưu sát rồi."
"Anh cũng tham gia à?" Cô ấy lạnh lùng hỏi.
"Không tham gia mưu sát, mặc dù bạn bè của Aaron hận không thể xé xác tôi ra từng mảnh. Dù vậy, tôi vẫn không muốn đụng mặt cảnh sát."
"Tại sao không muốn?"
"Tôi có thể gọi cô là Tessa chứ? Cảm ơn! Tessa, chuyện này nói ra phức tạp lắm, một lúc không giải thích rõ cho cô được. Nhưng cô sẽ giúp tôi chứ, nếu tôi cam đoan với cô rằng tôi..." Tôi cân nhắc từ ngữ thích hợp, "...tôi sẽ không gây hại cho bất kỳ ai?" Ôi trời đất ơi, tôi thật sự không ngờ đôi mắt mơ màng kia của Tessa lại có thể lạnh lùng và nghiêm nghị đến thế.
"Xin anh ra giá đi!"
"Ý cô là sao?" Tôi khó hiểu hỏi lại.
"Anh định trả bao nhiêu tiền? Sự giúp đỡ của tôi đáng giá bao nhiêu đối với anh?"
Tôi đã hiểu ra. "Ồ, nghe hay ho thật đấy. Ba ngàn đô la đủ chứ?" Cô ấy mỉm cười, khi đã hiểu ý tôi, đôi mắt cô ấy cũng trở nên dịu dàng hơn.
"Đoán chừng anh đã không còn lựa chọn nào khác, anh nên nâng mức giá của mình lên năm ngàn đô la."
"Đồng ý. Cô có thể nhận được năm ngàn đô la. Cô có thể cho tôi mượn trước vài trăm drachma không? Tôi phải gọi điện thoại."
"Anh hứa cho tôi năm ngàn đô la, mà bản thân lại không có nổi vài trăm drachma sao?"