[←1] Nhà xuất-bản Vĩnh-Bảo, Saigon 1956.
☆
[←2] do Trần-Trọng-Kim, Bùi-Kỷ và Phạm-Duy-Khiêm hợp soạn.
☆
[←3] Nhà sách Khai-Trí tái-bản, Saigon 1966.
☆
[←4] Xem chương III, Những đặc tính của tiếng Việt.
☆
[←5] Xem VĂN-PHẠM VIỆT-NAM của tác giả do Nhà sách Khai-Trí tái bản năm 1966.
☆
[←6] Lấy 36 âm gốc, 106 vận làm mẫu và tứ thinh làm tiêu-chuẩn để phiên-âm. Nên xem « Luật thanh-trọc » trong « CHÁNH-TẢ VIỆT-NGỮ » của Lệ-ngọc-Trụ.
☆
[←7] Etudes sur la Phonétique histoirique de la langue annamite.
☆
[←8] Xem cách nói trại trong phần kế.
☆
[←9] Chính-tả Việt-ngữ, Nam-Việt xuất-bản tại Saigon năm 1951.
☆
[←10] Xem VĂN-PHẠM VIỆT-NAM của tác-giả, đã dẫn trên.
☆
[←11] Theo VIỆT-NAM VĂN-PHẠM của Trần-trọng-Kim, Bùi-Kỷ và Phạm-duy-Khiêm.
☆
[←12] Theo VIỆT NAM VĂN PHẠM, đã dẫn.
☆
[←13] Đó là căn-cứ theo chữ viết. Thật ra chỉ có 9 nguyên-âm, vì ă chỉ là biến-thể của a, â là biến-thể của ơ, y là một bán-âm.
☆
[←14] Trong quyển VĂN-PHẠM VIỆT-NAM chúng tôi có đề-nghị gọi là tĩnh-trạng-từ.
☆
[←15] Chúng tôi đề-nghị : đại-từ.
☆
[←16] Chúng tôi đề-nghị : số-trạng-từ.
☆
[←17] Chúng tôi đề nghị : phó-từ.
☆
[←18] VIỆT-NAM VĂN-PHẠM (đã dẫn trên) gọi là CHỦ-TỪ và TÚC-TỪ. Chúng tôi thấy dùng chữ TỪ ở đây có thể khiến học-sinh lầm-lẫn cho rằng CHỦ-TỪ và TÚC-TỪ là những từ-loại như các DANH-TỪ, ĐỘNG-TỪ…
☆
[←19] Đã dẫn trên.
☆
[←20] Xem Cách và Cách nói trại.
☆
[←21] « Việt-Nam Văn-Phạm » viết nhà-bếp, lò-rượu, đường-cát… có gạch nối.
☆
[←22] Xem phần MẠO-TỪ.
☆
[←23] Theo các tác-giả VIỆT-NAM VĂN-PHẠM (đã dẫn trên), có :
- 2 loại từ chung : con và cái .
- những loại-từ riêng của từng loài : người, chim, cá, cây, hoa, quả .
- những loại-từ chỉ về thứ bậc trong loài-người : đức, quan, cố, cụ, ông, bà, thầy, cô, bác, anh, chị, chú, cậu thằng, con.
Chúng tôi thấy rằng hạn-định số loại-từ là không hợp-lý. Tại sao khi nói cá thu, cây mít, « cá » và « cây » là loại-từ, mà trong rắn hổ, cỏ khâu, chẳng hạn, « rắn » và « cỏ » lại không là loại-từ ?
☆
[←24] Đã nói trên.
☆
[←25] Các mạo từ có lẽ đã được đặt ra do ý muốn tìm một từ-loại tương-đương với những articles trong Pháp-ngữ. Nhưng ta đã thấy rằng các tiếng cái, các, những không có đủ những ý-nghĩa và tác-dụng văn-phạm của những articles défini, indéfini, partitif của tiếng Pháp. Huống nữa, ngay trong tiếng Pháp, nhiều nhà văn-phạm cũng đã không kê articles thành một từ-loại riêng-biệt, mà phân-phối chúng vào những loại chỉ-định-từ (adjectifs déterminatifs) thích-ứng, chẳng hạn trong Cours de langue française (grammaire) của Maquet và Flot dùng cho các lớp trung-học và trong Grammaire française simple et complète của P. Crouzet G Berthet và M. Galliot.
☆
[←26] Để cho gọn, chúng tôi có đề-nghị gọi là ĐẠI-TỪ.
☆
[←27] Việt-Nam Văn-Phạm (đã dẫn trên) có gọi chung các chỉ-thị đại-danh-từ nghi vấn đại-danh-từ và phiếm-chỉ đại-danh-từ là những chỉ-định đại-danh-từ. Chúng tôi thấy rằng danh-từ ấy không cần-thiết.
☆
[←28] Nhận thấy ý-nghĩa của tiếng nhân-vật ở đây không tinh-xác, chúng tôi đề-nghị gọi là : xưng-hiệu đại-từ (xưng : xưng-hô ; hiệu : kêu, gọi).
☆
[←29] Chúng tôi đề-nghị : chỉ-thị đại-từ.
☆
[←30] Chúng tôi đề-nghị : vấn-đại-từ.
☆
[←31] Trong Việt-Nam Văn-phạm (đã dẫn) không thấy đề-cập đến loại đại-danh-từ nầy. Nhưng theo chỗ suy-cứu của chúng tôi, Việt-ngữ vẫn có loại liên-thuộc đại-danh-từ (tương đương với pronom relatif trong tiếng Pháp). Chúng tôi dùng tiếng liên-thuộc đại-danh-từ là thể theo thói quen thấy trong vài sách viết về Văn-phạm. Riêng chúng tôi, để cho gọn hơn, chúng tôi đề-nghị tiếng : thuộc-đại-từ.
☆
[←32] Chúng tôi đã gọi là tĩnh-trạng từ.
☆
[←33] Xem Cách nói trại.
☆
[←34] VIỆT-NAM VĂN-PHẠM (đã dẫn trên) gọi là xác-định đẳng-cấp, dịch tiếng Pháp : le Positif. Chúng tôi thấy dịch như thế không ổn (lẫn-lộn với tiếng xác-định đã dùng để dịch các tiếng affirmatif, affirmation ; câu xác-định, trạng-từ chỉ sự xác-định…) Vả lại việc dịch tiếng « le Positif » ở đây không cần-thiết.
☆
[←35] VIỆT-NAM VĂN-PHẠM (đã dẫn) gọi là tỷ-hiệu tối-cao đẳng-cấp (dịch tiếng Pháp superlatif relatif. Chúng tôi không đồng-ý vì :
- Ta đã có tiếng tương-đối rất thông-dụng để dịch tiếng Pháp relatif.
- Tiếng tỷ-hiệu ở đây sẽ khiến lẫn-lộn với tiếng tỷ-hiệu đã dùng để dịch tiếng comparatif.
☆
[←36] Cũng còn gọi là bất-định-thức (tiếng Pháp : l’infinitif).
☆
[←37] Theo VIỆT-NAM VĂN-PHẠM dịch tiếng Pháp : épithète.
☆
[←38] Theo VIỆT-NAM VĂN PHẠM chủ-từ và sự vật túc-từ (dịch tiếng Pháp complément d’objet) Thật ra tiếng objet ở đây không có nghĩa là sự-vật. Chúng tôi đề-nghị : bổ-túc-ngữ thuộc-động.
☆
[←39] Theo VIỆT-NAM VĂN PHẠM chủ-từ và sự vật túc-từ (dịch tiếng Pháp complément d’objet) Thật ra tiếng objet ở đây không có nghĩa là sự-vật. Chúng tôi đề-nghị : bổ-túc-ngữ thuộc-động.
☆
[←40] Xem Trạng-từ.
☆
[←41] Tiếng Pháp : contexte.
☆
[←42] Trong quyển VĂN-PHẠM VIỆT-NAM chúng tôi đã gọi là phó-từ . Với chủ-trương hợp-lý-hóa nhiệm-vụ văn-phạm của các liên-từ, chúng tôi cũng đã gọi là phó-từ một số tiếng thường được coi là phụ-thuộc liên-từ. Trong cách phân-loại sau đây, chúng tôi sẽ dựa vào sự thông-dụng.
☆
[←43] VIỆT-NAM VĂN-PHẠM (đã dẫn) cho rằng trong « chúng nó đánh nhau » nhau là đại-danh-từ. Chúng tôi thấy như thế không hợp-lý : nhau không thể thay-thế cho một danh từ mà chỉ thêm một ý hỗ-tương cho động-từ đánh. Vậy đó là một trạng-từ chỉ thể-cách.
☆
[←44] Đã dẫn.
☆
[←45] V.N.V.P đã dẫn cho đó là những trạng-từ dùng để chỉ người. Chúng tôi thấy rằng như thế không hợp-lý.
☆
[←46] Trong tinh-thần giản-dị-hóa các từ-loại, chúng tôi có đề-nghị (trong quyển VĂN-PHẠM VIỆT-NAM) gọi là giới-ngữ và nghiên-cứu trong cùng một chương với giới-từ :
- giới-từ làm môi-giới giữa hai tiếng.
- giới-từ làm môi-giới giữa hai mệnh-đề.
Tiếng liên-từ, chúng tôi đã dùng để chỉ riêng những tập-hợp liên-từ.
☆
[←47] Tương-ứng với những tán-thán-từ trong VIỆT-NAM VĂN-PHẠM (đã dẫn). Nhưng V.N.V.PH. chỉ gồm vào các từ-loại tán-thán-từ những tiếng mà chúng tôi gọi là cảm-thán-từ ; những tiếng chúng tôi gọi là ngữ-khí thán-từ được V.N.V.P. sắp vào một từ-loại riêng gọi là trợ-ngữ-từ. Các giao-thán-từ và hài-thinh thán-từ không thấy đề-cập trong V.N.V.PH.
☆
[←48] Trong quyển VĂN-PHẠM VIỆT-NAM, chúng tôi đã đề-nghị :
- bổ-túc-ngữ thuộc-động (sự-vật túc-ngữ trực-tiếp).
- bổ-túc-ngữ can-động (sự-vật túc-ngữ gián-tiếp).
☆
[←49] Đã dẫn.
☆
[←50] Trong quyển VĂN-PHẠM VIỆT-NAM, chúng tôi đã gọi là thuộc-trạng. Để cho dễ nhớ, chúng tôi đề-nghị dùng tiếng thuộc-ngữ (đối chiếu với chủ-ngữ túc ngữ ).
☆
[←51] Có thể phân-tách riêng hai tiếng ngày và xuân : Xuân túc-ngữ của danh-từ ngày . Con và én , cũng thế : con , loại-từ, thêm nghĩa cho danh-từ én . Nhưng sự tách riêng ấy không có ích-lợi thiết-thực. Sở-dĩ ta theo cách phân-tích từng tiếng là vì ảnh-hưởng của văn-phạm Pháp. Ở chỗ này tiếng Việt lại không giống tiếng Pháp.
☆
[←52] Có thể phân-tách riêng hai tiếng ngày và xuân : Xuân túc-ngữ của danh-từ ngày. Con và én, cũng thế : con, loại-từ, thêm nghĩa cho danh-từ én. Nhưng sự tách riêng ấy không có ích-lợi thiết-thực. Sở-dĩ ta theo cách phân-tích từng tiếng là vì ảnh-hưởng của văn-phạm Pháp. Ở chỗ này tiếng Việt lại không giống tiếng Pháp.
☆
[←53] TÂN VIỆT, xuất bản lần thứ 3, năm 1950.
☆
[←54] Sông Nhị xuất bản tại Hànội, 1951.