Văn Phạm Việt Nam Giản Dị Và Thực Dụng

Lượt đọc: 419 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 4
các thể câu
i. câu xác-định

Câu xác-định là câu trình-bày một việc đã xảy ra hay có thể xảy ra. Ví-dụ :

- Bước tới Đèo-Ngang bóng xế tà.

(Bà Huyện Thanh-Quan)

- Có lẽ đoàn người đi đã xa rồi.

- Sẽ rót vơi lần-lần từng chén,

Sẽ ca dần ren-rén từng thiên.

(Chinh-Phụ Ngâm-Khúc)

II. CÂU PHỦ-ĐỊNH

Ta dùng câu phủ-định để phủ-nhận một điều gì hay một việc xảy ra. Thường câu phủ-định là những câu có trạng-từ phủ-định, hạn-định một động-từ, một trạng-từ, một tĩnh-từ hay cả mệnh-đề. Ví-dụ :

- Dầu ai gieo tiếng ngọc,

Dầu ai đọc lời vàng,

Trớ-trêu khúc phụng khúc hoàng,

Lòng em không giống như nàng Văn-Quân.

(Ca-dao)

(Trạng-từ không hạn-định tĩnh-từ giống trong câu chót).

- Diệc viết : Càn khôn định hĩ,

Thi-vân : cầm sắt vi chi,

Xuân-xanh được có một thì,

Đào yêu em không sớm vịn e kỳ bện mai.

(Ca-dao)

(Trạng-từ không hạn-định trạng-từ chỉ thời-gian sớm )

- Đừng ham nón tốt dột mưa,

- Đừng ham người tốt mà thưa việc làm.

(Ca-dao)

(Trạng-từ đừng hạn-định cả hai mệnh-đề).

Đôi khi, để cho ý phủ-định mạnh hơn, ta dùng những câu hỏi để phủ-nhận :

- Chinh-phu, tử-sĩ mấy người,

Nào ai mạc mặt, nào ai gọi hồn ?

(Câu thơ sau có nghĩa là : chẳng bao giờ được ai mạc mặt, chẳng bao giờ được ai gọi hồn).

III. CÂU NGHI VẤN

Ta dùng câu nghi-vấn để tỏ ý muốn biết một vật gì hay một điều gì. Ta thường dùng các nghi-vấn chỉ-định-từ và nghi-vấn đại-danh-từ để tỏ sự nghi-vấn. Ví-dụ :

- Ai bày trò bãi bể nương dâu ? ( Ai : nghi-vấn đại-danh-từ, chủ-ngữ của động-từ « bày »)

- Một thân cù-mộc biết chen cành nào ? (Cung-Oán Ngâm-Khúc) ( Nào : nghi-vấn chỉ-định-từ, chỉ-định danh-từ « cành »).

Khi hỏi, ta cũng thường dùng các trạng-từ chỉ sự nghi-vấn để hạn-định một động-từ, một trạng-từ, một tĩnh-từ, một mệnh-đề hay cả câu.

- Mặt phàm kia dễ đến Thiên-thai ? (Cung-Oán Ngâm-Khúc)

- Hồng-nhan phải giống ở đời mãi ru ? (Đoạn-Trường Tân-Thanh) (Trạng-từ dễ hạn-định toàn mệnh-đề thứ nhất ; ru hạn-định toàn mệnh-đề thứ nhì).

*

ĐỂ Ý :

1) Trạng-từ chỉ sự nghi-vấn hạn-định mệnh-đề thường đứng đầu câu hoặc cuối câu. Nhưng đôi khi cũng có thể xen vào giữa mệnh-đề. Ví-dụ : (Trường-hợp của trạng-từ dễ đã kể trên).

- Cành kia chẳng phải cội nầy mà ra ? (Đoạn-Trường Tân-Thanh) (Trạng-từ chẳng phải hạn-định toàn mệnh-đề « cành kia (do) cội này mà ra »).

2) Đôi khi, một mệnh-đề không có các từ-loại dùng để hỏi, nhưng vẫn diễn-giải một sự nghi-vấn nhờ thừa-tiếp ý của mệnh-đề trước. Ví-dụ :

- Hẳn túc-trái làm sao đó tá ?

Hay tiền-nhân hậu-quả xưa kia ?

Hay thiên-cung có điều gì

Xuống trần mà trả nợ đi cho rồi ?

(Cung-Oán Ngâm-Khúc)

Câu hỏi thứ nhứt dùng trạng-từ để chỉ sự nghi-vấn. Hai câu sau nhờ liên-từ hay thừa-tiếp ý của câu trước nên cũng tỏ sự nghi-vấn.

*

ĐỂ Ý :

- Khi đặt một câu hỏi mà muốn cho thấy mình không tin rằng việc muốn hỏi là có thật, thì ta chỉ để dấu hỏi sau một câu xác-định. Ví-dụ : Cô ấy đã trốn đi ?

- Khi đặt một câu hỏi mà muốn cho thấy mình tin rằng việc đang hỏi là có thật, thì ta dùng hình-thức phủ-định nghi-vấn, đặt sự nghi-vấn vào một câu phủ-định. Ví-dụ : Anh không có làm việc ấy à ?

Để đặt sự nghi-vấn, ta đã hạn-định động-từ « làm » bằng trạng-từ phủ-định « không có » và nhấn mạnh bằng ngữ-khí thán-từ « à » : « Phải rằng nắng quáng đèn lòa, Rõ-ràng ngồi đó chẳng là Thúc sinh ? » (Đoạn-Trường Tân Thanh)

Theo ý nghĩa thì câu sau cũng như câu trước đều tỏ sự nghi-vấn (không cần trạng-từ nghi-vấn). Nhưng để diễn-giải ý tin chắc rằng người đó là Thúc-sinh, tác-giả đã dùng thêm trạng-từ phủ-định chẳng để hạn-định động-từ « là ».

- Ta cũng có thể đặt câu hỏi một cách gián-tiếp, nghĩa là vẫn dùng các tiếng chỉ sự nghi-vấn nhưng câu không có hình-thức một câu hỏi. Ví-dụ :

- « Chúng tôi muốn biết các anh có bao nhiêu người » . ( Bao nhiêu : trạng-từ nghi-vấn, trong câu này đã biến-thành nghi-vấn chỉ-định-từ).

- Cười cười nói nói ngọt-ngào,

Hỏi chàng mới ở chốn nào lại chơi.

(Đoạn-Trường Tân-Thanh)

( Nào : nghi-vấn chỉ-định-từ chỉ-định danh-từ « chốn »).

ĐỂ Ý : Ở cuối những câu nghi-vấn gián-tiếp, không có chấm hỏi.

IV. KHUYẾN-LỆNH

Câu khuyến-lệnh là những câu dùng để khuyên-mời hoặc ra mệnh-lệnh. Muốn đặt những câu khuyến-lệnh, ta dùng các trợ-động-từ hãy, nên, xin, cứ, phải (đặt trước động-từ) hoặc trợ-động-từ đi (đặt sau động-từ). Ví-dụ :

- Hãy giữ vững lòng tin-tưởng.

- Ăn đi .

- Cứ thẳng-thắn phê-bình.

- Cứ làm bừa đi.

Có khi, ta không dùng những trợ-động-từ mà vẫn diễn-giải được ý khuyên-mời hay một mệnh-lệnh. Ví-dụ :

- Bấy lâu mới được một ngày,

Dừng chân, gạn chút niềm tây gọi là.

(Đoạn-Trường Tân-Thanh)

Động-từ dừng chân trong câu thứ nhì tỏ ý khuyên-mời.

- Đỗ lại, đỗ lại !

- Hãm lại, hãm lại ngay !

Các động-từ đỗ hãm diễn-giải một mệnh-lệnh mà không cần trợ-động-từ.

ĐỂ Ý : Các động-từ giải ý khuyên-mời và mệnh-lệnh thường không có chủ-ngữ. Nhưng, đôi khi, các động-từ ấy cũng được dùng chung với chủ-ngữ. Ví-dụ : « Tôi không biết : Một là mười giờ đêm nay anh phải có mặt ở ga, hai là từ giờ này trở đi anh đừng bước chân đến đây nữa. Thôi anh ra ! » (Nhất-Linh và Khái-Hưng). (Câu « Thôi anh ra » diễn-giải một mệnh-lệnh, nhưng động-từ ra vẫn có chủ-ngữ ( anh ).

V. CÂU TỎ SỰ MONG-ƯỚC HAY HỐI-TIẾC

Để tỏ sự mong-ước, ta thường dùng các trợ-động-từ mong sao, ước gì … ở đầu câu. Để tỏ sự hối-tiếc, ta dùng các trạng-từ phải, phải chi… Ví-dụ :

- Ước gì anh lấy được nàng,

Để anh mua gạch Bát-tràng về xây…

(Ca-dao)

- Phải chi anh chưa vợ,

Hãy còn nợ còn duyên,

Em cũng cậy yên như thuyền cậy lái…

(Ca-dao)

- Phải em gặp ông Tơ hỏi sơ cho biết,

Gặp bà Nguyệt hỏi thiệt cho rành…

(Ca-dao)


Nguồn: TVE 4U
Được bạn:Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 18 tháng 11 năm 2025

« Lùi
Tiến »