Để ứng-dụng các quy-tắc văn-phạm một cách thực-tế và giản-dị, giúp vào sự củng-cố ý-thức văn-phạm chúng tôi tưởng nên trình-bày những lỗi thường gặp nhất. Các kinh-nghiệm được trình-bày thường gồm những nguyên-nhân tạo lỗi và những nguyên-tắc tránh lỗi. Các lỗi văn-phạm thường thấy sẽ được xếp vào 2 loại sau đây :
- Lỗi về từ-loại,
- Lỗi về văn-pháp.
I . LỖI VỀ TỪ-LOẠI
- Danh-từ chuyển-loại thành tĩnh-từ và động-từ.
- Sự chuyển-loại qua lại giữa tĩnh-từ và động-từ.
- Loại-từ.
- Đại-danh-từ.
- Động-từ.
- Giới-từ.
- Liên-từ.
1 ) DANH TỪ CHUYỂN-LOẠI THÀNH TĨNH-TỪ VÀ ĐỘNG-TỪ
NHẬN XÉT :
a) Danh-từ, tĩnh-từ, động-từ đều là những loại tiếng dùng để mệnh-danh. Nhưng :
- Danh-từ dùng để mệnh-danh người, các giống vật và các vật cụ-thể hay trừu-tượng.
- Tĩnh-từ dùng để mệnh-danh các tính-cách.
- Động-từ dùng để mệnh-danh những hành-động, những việc xảy ra.
b) Các danh-từ có ý-nghĩa thuộc về tính-cách có thể chuyển-loại thành tĩnh-từ.
c) Các danh-từ có ý-nghĩa thuộc về hành-động, sự-việc có thể chuyển loại thành động-từ.
Do đó :
- Trong khi nói ta thường có xu-hướng chuyển-loại danh-từ thành tĩnh-từ hoặc động-từ.
- Với những danh-từ mới được thông-dụng, ý-nghĩa tinh-xác chưa được mọi người thông-suốt, thường sự chuyển-loại có thể sai-lầm :
2) LỖI THƯỜNG THẤY
CHUYỂN-LOẠI SAI-LẦM :
- Anh ấy bị người ta cá nhân (anh ấy bị người ta hãm-hại vì tư-thù).
- Nó đang chính-trị ông ấy (nó đang dùng chánh-trị, tìm cách thuyết-phục ông ấy).
Các danh-từ cá-nhân , chính-trị không có ý-nghĩa về động-tác nên không thể chuyển-thành động-từ. Các danh-từ ấy sẽ có thể chuyển-loại thành tĩnh-từ, vì chúng có ý-nghĩa về tính-cách :
- Ý-kiến cá-nhân
- Biện-pháp chính-trị
3) CHUYỂN LOẠI ĐÚNG NHƯNG ÁP-DỤNG KHÔNG ĐÚNG CHỖ
- Quán cơm kinh-tế (bán thức ăn rẻ tiền, thích-hợp với tình-trạng kinh-tế khó-khăn).
- Học-lực căn-bản (học-lực vững-vàng)
- Kết-quả căn-bản (kết-quả chắc-chắn)
Không thể hiểu quán cơm có tính cách kinh-tế : chính quán cơm đã là một cơ-sở kinh-tế nên tiếng kinh-tế không gợi thêm một tính-cách nào cho quán cơm cả. Căn là rễ, bản là gốc, căn-bản là chỗ gốc, chỗ chính, phần cốt-yếu. Thế nên căn-bản không thể chỉ tính cách của học-lực (sức học, trình-độ học-vấn), cũng không thể chỉ tính-cách của kết-quả là cái sẽ đến sau, cái không thể có ngay ở gốc, ở lúc mới bắt-đầu.
Các danh-từ căn-bản và kinh-tế sẽ có thể chuyển-loại thành tĩnh-từ trong các ví-dụ sau đây :
- Điều-kiện căn-bản (điều-kiện ở gốc làm nền-tảng cho một việc được nói đến).
- Cơ-sở kinh-tế (cơ sở thuộc về kinh-tế, có tính-cách kinh-tế).
*
KẾT-LUẬN :
- Một danh-từ chỉ có thể chuyển-loại thành động-từ khi nào nó có ý-nghĩa về động-tác.
- Một danh-từ chỉ có thể chuyển-loại thành tĩnh-từ khi nào nó có ý-nghĩa về tính-cách thích-ứng với ý-nghĩa của danh-từ được dùng chung với tĩnh-từ sẽ tạo thành do sự chuyển-loại.
II . SỰ CHUYỂN-LOẠI QUA LẠI GIỮA TĨNH-TỪ VÀ ĐỘNG-TỪ
1) NHẬN-XÉT
- Tĩnh-từ ít khi có ý-nghĩa về hoạt-động nên ít có thể chuyển-loại thành động-từ.
- Động-từ dễ có ý-nghĩa về tính-cách : nhiều hoạt-động chỉ là tính-cách đặc-biệt của một trạng-thái.
Do đó :
Động-từ được chuyển-loại thành tĩnh-từ thường hơn tĩnh-từ được chuyển thành động-từ.
2) LỖI THƯỜNG THẤY
a) CHUYỂN SAI TĨNH-TỪ THÀNH ĐỘNG-TỪ :
- Phải quân-sự chúng nó mới được (Phải áp-dụng biện pháp quân-sự với chúng nó mới được)
QUÂN-SỰ : Quân = quân-binh, quân-đội, sự : trạng-thái, việc xét về phương-diện tĩnh. Do đó, tĩnh-từ quân-sự không có ý-nghĩa về hoạt-động nên không thể chuyển thành động-từ.
- Đơn-giản một phân-số (Đơn-giản hoá, giản-hoá, ước-lược hay rút gọn một phân-số)
ĐƠN-GIẢN : đơn = ít ; giản = gọn, ít ; cả hai tiếng đều không có nghĩa về hoạt-động nên tĩnh-từ đơn-giản, có ý-nghĩa thuộc về tính-cách thuần tuý, không thể chuyển-loại thành động-từ.
b) CHUYỂN SAI ĐỘNG-TỪ THÀNH TĨNH-TỪ :
- « Tôi đã chứng-kiến một cảnh xúc-động » .
XÚC-ĐỘNG : x úc = tiếp với, gần với ; động = khiến động lòng ; nảy sinh tình-cảm. Nghĩa của tiếng xúc không thích-hợp với một bất-động-vật nên mặc-dầu có ý-nghĩa về tính-cách (động lòng, khiến động lòng), động-từ xúc động không thể chuyển-loại thành tĩnh-từ để dùng với danh-từ chỉ vật vô-tri-giác. Không nói cảnh xúc-động , nhưng ta rất có thể nói : vẻ mặt quá xúc-động của ông khiến họ sinh nghi (Trong trường-hợp nầy sự chuyển-loại không sai, vì ý-nghĩa của tiếng xúc thích-hợp với danh từ vẻ mặt .
- « Đó chỉ là một cử-chỉ tri-ân ».
TRI-ÂN : tri = biết ; ân = việc làm có tính-cách cứu giúp hay làm lợi-ích cho kẻ khác ; lòng tốt của người hay làm những việc như thế. Nghĩa của tiếng tri chỉ hợp với con người hoặc những gì có thể cho là có khả-năng hiểu-biết, phán-đoán, không thể thích-hợp với danh-từ cử-chỉ.
Nhưng ta có thể nói : « Đó chỉ là một cử-chỉ tỏ lòng tri-ân ».
III . CÁCH CHỌN LOẠI-TỪ
1) NHẬN-XÉT
a) Loại từ là tiếng làm cho rõ nghĩa một danh-từ bằng cách thêm vào một ý-niệm về hình-thức, về sắc-thái cụ-thể :
- Tờ báo , số báo , tập báo , trang báo .
- Bài văn , đoạn văn , áng văn , câu văn.
b) Do đó ý-nghĩa của loại-từ phải thích-ứng để được kết-hợp với danh-từ.
2) LỖI THƯỜNG THẤY
a) Ý-NGHĨA KHÔNG THÍCH ỨNG :
- Sự hoả-hoạn
Tiếng sự quá tổng-quát, quá trừu-tượng không thích-hợp với hình-ảnh cụ-thể được gợi ra với danh-từ hoả-hoạn .
Có thể nói :
- Đám hoả-hoạn :
- Cuộc kiến-thiết nước nhà.
Tiếng cuộc gợi một sự-kiện có phạm-vi nhất-định ; có hệ-thống rõ-ràng, bao-hàm một tổ-chức riêng : cuộc đua xe đạp, cuộc bầu cử .
Việc kiến-thiết nước nhà bao-hàm một phạm-vi rộng-rãi, gồm nhiều lãnh-vực.
Nên nói : « Sự kiến-thiết nước nhà ».
Hay, nếu muốn giữ cho danh-từ kiến-thiết một ý-nghĩa cụ-thể hơn.
Công-cuộc kiến-thiết nước nhà .
(Hai tiếng công và cuộc đều có nghĩa cụ-thể và mỗi tiếng gợi một phạm-vi nhất-định ; nhưng hai tiếng hợp lại tạo-thành một loại-từ có nghĩa tổng-quát hơn)
b) Ý-NGHĨA THỪA :
- Nhà văn-sĩ
- Người ân-nhân
- Lòng nhiệt-tâm
- Nhà khoa-học-gia
Ý-nghĩa các tiếng : nhà, người, lòng, nhà đã có sẵn trong các tiếng sĩ, nhân, tâm, gia.
Có thể nói :
- Nhà văn
- Người ân
- Nhà khoa-học
Riêng về tiếng nhiệt , vì không thể dùng đơn-độc với nghĩa « nhiệt-tâm » « nhiệt-thành »… nên để tránh « ý-nghĩa thừa », nên nói :
- Lòng nhiệt-thành
- Lòng sốt-sắng
IV . LỖI VỀ NHÂN-VẬT ĐẠI-DANH-TỪ VÀ LIÊN-THUỘC ĐẠI-DANH-TỪ
1) NHÂN-VẬT ĐẠI-DANH-TỪ
a) NHẬN-XÉT : Nhân-vật đại-danh-từ chỉ có thể thay-thế cho một danh-từ đã được chỉ-định.
b) LỖI THƯỜNG THẤY : Dùng nhân-vật đại-danh-từ thay cho một danh-từ khái-quát : « Tôi không thích viết báo . Nó không hợp với khả-năng của tôi » .
Nó : nhân-vật đại-danh-từ số ít, ngôi thứ ba, không thể thay-thế danh-từ báo , cũng không thể thay-thế từ-ngữ viết báo .
Nên viết : « Tôi không thích viết báo. Việc ấy không hợp với khả-năng của tôi » .
2) LIÊN-THUỘC ĐẠI-DANH-TỪ
a) NHẬN-XÉT : Liên-thuộc đại-danh-từ thay-thế cho danh-từ để thêm một ý lệ-thuộc vào danh-từ ấy. Do đó, ngoài việc thay-thế danh-từ, mỗi liên-thuộc đại-danh-từ còn có một tác-dụng văn-phạm đặc-biệt trong mệnh-đề phụ chỉ-định được nó kết-hợp với danh-từ.
b) LỖI THƯỜNG THẤY :
- CHỌN LIÊN-THUỘC ĐẠI-DANH-TỪ KHÔNG THÍCH-ỨNG : « Xã-hội mà chúng ta sống… » Liên-thuộc đại-danh-từ mà chỉ có khả năng làm sự-vật túc-ngữ trực-tiếp và túc-ngữ của danh-từ. Trong câu, mà lại được dùng làm túc-ngữ chỉ nơi chốn của động-từ sống . Nên viết : « Xã hội trong đó chúng ta sống » .
- NHỮNG TIẾNG THỪA DO SỰ HIỆN-HỮU CỦA MỘT LIÊN-THUỘC ĐẠI-DANH-TỪ : « Toà nhà mà các anh thấy cái nóc đã phủ rêu của nó chính là toà nhà chúng ta đang tìm-kiếm » . Của nó : thừa, vì liên-thuộc đại-danh-từ mà đã có nghĩa của nó rồi.
V . LỖI VỀ ĐỘNG-TỪ
1) NHẬN-XÉT
a) Ý-nghĩa của động-từ liên-hệ chặt-chẽ với túc-ngữ của nó. Thế nên trong việc sử-dụng động-từ, thường có thể sai-lầm về túc-ngữ.
b) Động-từ có ý-nghĩa về hành-động nhưng lại cũng có thể dùng theo thụ-thể để chỉ trạng-thái gây nên bởi một hành-động. Do đó, sai-lầm có thể xuất-hiện trong việc dùng động-từ thụ-thể (nên nhớ : chỉ những động từ khuyết-ý trực-tiếp mới có thể được dùng theo thụ-thể).
2) LỖI THƯỜNG THẤY
a) ĐỘNG-TỪ VIÊN-Ý VÀ KHUYẾT-Ý :
- Hành-động một việc gì.
Hành-động : cử-động để làm một việc gì. Do đó, hành-động là một động-từ viên-ý và không thể có sự-vật túc-ngữ
Một số động-từ khuyết-ý có thể dùng làm động-từ viên-ý ( ăn, nói, nghĩ …) Nhưng không thể dùng động-từ viên-ý làm động-từ khuyết-ý .
b) ĐỘNG-TỪ KHUYẾT-Ý TRỰC-TIẾP VÀ GIÁN-TIẾP :
- « Tôi rất thông-cảm các anh ». Thông cảm (hay cảm-thông ) : thông = qua lại, hoà-hợp với nhau ; cảm = xúc động ; nhân có những xúc-cảm giống như nhau mà thấy gần-gũi, hoà-hợp. Do đó, nên nói : « Tôi rất thông-cảm với các anh » ( Thông - cảm : động-từ khuyết-ý gián-tiếp)
- Điều-kiện này liên - hệ điều-kiện kia.
(Liên-hệ : liên : liền ; hệ : trói-buộc. Do đó, nên nói :
- Điều-kiện này liên hệ với điều-kiện kia.
(Liên-hệ : động-từ khuyết-ý gián tiếp ).
Hãy đối-chiếu với câu : « Ta không nên liên-hệ việc này với việc ấy » .
CHÚ-Ý : Có những động-từ đáng lý là khuyết-ý trực-tiếp đã được dùng làm khuyết-ý gián-tiếp :
Đề cập đến… (cập = đến)
Tiếp xúc với… (xúc = tiếp với)
Những sự thông-dụng ấy, ta đành phải nhìn-nhận .
Nhưng riêng đối với các động-từ mới tạo ra và chưa được thông-dụng rộng-rãi, nguyên-tắc văn-phạm cần được tôn-trọng : nên căn-cứ theo nghĩa từ-nguyên để quyết-định là động-từ viên-ý hay khuyết-ý, khuyết-ý trực-tiếp hay gián-tiếp.
c) ĐỘNG-TỪ THỤ-THỂ :
« Trong tai-nạn lưu-thông ấy có nhiều người bị chết ». Bị chết : Chết là một động-từ viên-ý nên không thể dùng theo thụ thể. (Sở-dĩ ta nói bị giết, là vì giết là một động-từ khuyết-ý trực-tiếp).
Con người ảnh-hưởng hoàn-cảnh xã-hội.
Con người bị ảnh-hưởng bởi hoàn-cảnh xã-hội.
Cả hai câu đều không đúng, vì ảnh-hưởng là một động từ khuyết-ý gián-tiếp (theo từ-nguyên là danh-từ) : « Hoàn - cảnh xã-hội ảnh-hưởng đến con người » .
Do đó, nên nói : « Con người chịu ảnh-hưởng của hoàn-cảnh xã hội » . ( Ảnh hưởng không còn là động-từ nữa mà đã trở-thành danh-từ).
d) HAI ĐỘNG-TỪ KHUYẾT-Ý TRỰC-TIẾP VÀ GIÁN-TIẾP CÓ CHUNG MỘT CHỦ-NGỮ : « Tôi khuyến-khích và hợp-tác với họ ».
KHUYẾN KHÍCH : động-từ khuyết-ý trực-tiếp. Do đó, không thể tập-hợp khuyến-khích và hợp-tác là một động-từ khuyết-ý gián-tiếp ( hợp tác với ai ).
Tuy-nhiên, ta có thể tập hợp một động-từ viên-ý và một động-từ khuyết-ý gián-tiếp (vì động từ viên-ý không cần sự-vật túc-ngữ nên không thể có hiểu lầm). Ta có thể viết : « Tôi hy-vọng và hợp-tác với họ » .
VI . LỖI VỀ GIỚI-TỪ
NHẬN-XÉT : Giới-từ được dùng thường nhất, để chỉ sự tương-quan ý-nghĩa giữa danh-từ và động-từ với các túc-ngữ của chúng ; ý-nghĩa của giới-từ rất hệ-trọng trong việc dùng túc-ngữ của danh-từ và động-từ. Mặt khác, do một tàn-tích của ảnh-hưởng văn-phạm Hoa-ngữ, người Việt thường có khuynh-hướng để hiểu ngầm giới-từ. Do đó, lỗi văn-phạm có thể xuất-hiện vì giới-từ dùng sai cũng như vì thiếu giới-từ.
a) DÙNG SAI : « Cách đọc của nguyên - âm ấy trong tiếng Đức… » Của : chỉ sự chủ-hữu ; cách đọc không thể thuộc quyền sở-hữu của nguyên-âm. NÊN NÓI : « Cách đọc nguyên-âm ấy trong tiếng Đức… »
b) DÙNG KHÔNG TINH-XÁC : « Qua bài này tác-giả tả một người ăn xin » . Qua : gợi ý về phương-tiện, về sự trung-gian. Thật sự, tác-giả viết bài nói trên để tả người ăn xin. Vậy nên nói : « Trong bài này tác-giả tả một người ăn xin » .
Hãy so-sánh : « Trong bài nầy tác-giả tả một người ăn xin » . Qua những chi-tiết được trình - bày, ta thấy tác-giả rất xúc-động vì hoàn-cảnh của người ấy (Tác-giả không nói thẳng rằng ông rất xúc-động nhưng dựa vào các chi-tiết trong bài, ta thấy rõ ông đã xúc-động nhiều).
c) THIẾU GIỚI-TỪ :
- « Duyên-cớ nào anh hành-động như thế ? » (Thiếu giới-từ vì : Vì duyên-cớ nào anh hành-động như thế ?)
- « Trường-hợp nào cô ấy ra đi ? » (Thiếu giới-từ trong : Trong trường-hợp nào cô ấy ra đi ? )
- « Tôi rất thông-cảm hoàn-cảnh của anh » . (Đáng lý : Tôi rất thông-cảm với anh trong hoàn-cảnh ấy ).
1) LỖI VỀ VĂN-PHÁP
- Lỗi về thành-phần của mệnh-đề.
- Lỗi trong câu nhiều mệnh đề.
a) LỖI VỀ THÀNH-PHẦN CỦA MỆNH-ĐỀ :
NHẬN-XÉT : Thành-phần căn-bản của một mệnh-đề là chủ-ngữ và tuyên-ngữ. Hai phần ấy có thể được nói rõ ra hoặc hiểu ngầm, nhưng luôn-luôn đều phải đủ-khả năng phô-diễn. Lỗi về văn-pháp do những sự thiếu-sót hoặc không thích-ứng về hai thành-phần vừa kể.
b) LỖI THƯỜNG THẤY :
THIẾU CẢ CHỦ-NGỮ LẪN TUYÊN-NGỮ : « Ngày xưa, trên ngọn đồi ấy, giữa khung-cảnh tiêu sơ, trong những điều kiện vô cùng bi-đát ». (Chỉ có toàn những trường-hợp túc-ngữ : người đọc không biết người viết muốn nói đến ai hoặc sự-vật gì).
- THIẾU CHỦ-NGỮ : « Với tấm lòng hăng-hái của anh đã khuyến-khích chúng tôi rất nhiều » . Ai ? Cái gì đã khuyến-khích chúng tôi ? Đúng ra, chính tấm lòng hăng-hái của anh . Nhưng giới-từ với đặt trước danh từ tấm-lòng … đã khiến danh-từ nầy mất khả-năng làm chủ-ngữ (mà chỉ có thể làm túc-ngữ). Người nói khiến ta hiểu : Với tấm lòng hăng hái … ai đó hoặc việc gì đã khuyến-khích…
- THIẾU TUYÊN-NGỮ : “ Anh nên bằng sự thành thật để mà phê-bình » . Anh nên làm gì ? Các giới-từ bằng và để mà đã khiến hiểu rằng danh-từ sự thành-thật và động-từ nguyên-thức phê-bình chỉ là những túc-ngữ của một động-từ… không biết là gì ! Có lẽ người thốt câu trên đã muốn nói : « Anh nên thành-thật mà phê-bình » .
- THIẾU TÚC-NGỮ : « Chúng tôi cương-quyết đấu-tranh độc-lập thống-nhứt nhưng nhất-định phản-đối một cuộc đấu-tranh giai-cấp » . Chúng tôi cương-quyết đấu-tranh để chi ? (Động-từ đấu-tranh là một động-từ viên-ý, chỉ có thể có túc-ngữ chỉ trường-hợp, chẳng hạn chỉ mục-đích).
« Đấu-tranh để giành độc-lập thống-nhứt » .
« Đấu-tranh vì độc-lập thống-nhứt » .
Sở-dĩ ở đoạn sau của câu, có thể viết phản-đối một cuộc đấu-tranh giai cấp , là vì trong đoạn này đấu-tranh đã chuyển loại thành danh-từ và giai-cấp là một tĩnh-từ : đấu-tranh giai-cấp, đấu-tranh có tính-chất giai-cấp, giữa các giai-cấp.
Không thể nói : đấu-tranh có tính-cách độc-lập, có tính-cách thống-nhứt, trong trường-hợp của câu đã kể.
2) LỖI TRONG CÂU NHIỀU MỆNH-ĐỀ
a) TẬP-HỢP NHỮNG MỆNH-ĐỀ KHÔNG CÓ GIÁ-TRỊ TƯƠNG-ĐƯƠNG :
NHẬN-XÉT : Có thể dùng tập-hợp liên-từ để nối hai mệnh-đề khác-loại nhưng giá-trị của hai mệnh-đề ấy phải tương-đương với nhau. Thực-tế, có thể tập-hợp một mệnh-đề độc-lập và một mệnh đề chính, nhưng không thể tập-hợp hai mệnh-đề phụ khác loại chẳng hạn.
LỖI THƯỜNG THẤY :
- MỆNH-ĐỀ ĐỘC-LẬP + MỆNH-ĐỀ PHỤ CHỈ TRƯỜNG-HỢP : « Tôi quả-quyết như thế và nếu anh đồng ý » . Nếu : phụ-thuộc liên-từ. Do đó anh đồng-ý là mệnh-đề phụ chỉ trường-hợp, không thể được tập-hợp với mệnh-đề độc-lập đứng trước, bởi phụ-thuộc liên-từ và.
Nên viết : « Tôi quả-quyết như thế, nếu anh đồng-ý » .
Hoặc : « Tôi quả-quyết như thế và, nếu anh đồng-ý, chúng ta sẽ cùng tuyên - bố rõ điều ấy » .
- MỆNH-ĐỀ PHỤ BỔ-TÚC + MỆNH-ĐỀ CHỈ TRƯỜNG HỢP :
- « Tôi hy-vọng rằng anh sẽ thắng cuộc và trong khi đối-thủ của anh xem thường giá-trị anh » .
- « Rằng anh sẽ thắng cuộc » : mệnh-đề phụ bổ-túc.
- « Trong khi đối-thủ của anh xem thường giá-trị anh » : mệnh-đề phụ chỉ trường-hợp.
Hai mệnh-đề phụ khác loại không thể được tập-hợp bởi liên-từ và.
Nên nói : « Tôi hy-vọng rằng anh sẽ thắng cuộc trong khi đối-thủ của anh xem thường giá-trị anh » .
Hoặc : « Tôi hy-vọng rằng anh sẽ thắng cuộc mặc-dầu đối-thủ của anh xem thường giá-trị anh » .
Hoặc : « Tôi hy-vọng rằng anh sẽ thắng cuộc và quả-quyết như thế trong khi đối-thủ của anh xem thường giá-trị anh » .
b) THIẾU LIÊN-HỆ THÍCH-ỨNG GIỮA CÁC MỆNH-ĐỀ :
NHẬN XÉT : Ngoài trường-hợp của những mệnh-đề có giá-trị tương-đương với nhau được tịnh-trí hay tập-hợp, thông-thường một câu nhiều mệnh-đề phải gồm một (hoặc đôi khi, nhiều) mệnh-đề chính và một hoặc nhiều mệnh-đề phụ. Các thành-phần của mệnh-đề chính phải đầy-đủ : giữa mỗi mệnh-đề chính và các mệnh-đề phụ trực-thuộc nó, sự tương-quan ý-nghĩa phải được biểu-diễn một cách thích-ứng.
LỖI THƯỜNG THẤY :
- CÓ MỆNH-ĐỀ PHỤ, KHÔNG MỆNH-ĐỀ CHÁNH : « Nay truyện Kiều mà chúng ta đang học và nhận-thấy rằng có nhiều đoạn tuy nói về nàng Kiều nhưng lại nhắc cho ta nhớ lại những uẩn-khúc của cuộc đời tác giả » .
Phân-tích mệnh-đề, ta có, theo thứ-tự trước sau :
- « mà chúng ta đang học » : mệnh-đề phụ chỉ-định, chỉ-định Truyện Kiều.
- « Và nhận thấy » : mệnh-đề chính tập-hợp (không rõ với mệnh-đề nào !)
- « Rằng có nhiều đoạn » : mệnh-đề phụ bổ-túc, sự-vật túc-ngữ trực-tiếp của động-từ nhận-thấy.
- « Tuy nói về nàng Kiều » : mệnh-đề phụ chỉ-định, chỉ-định danh-từ đoạn ( tuy trong câu được dùng làm trạng-từ chỉ sự đối-chọi).
- « Nhưng lại nhắc cho ta » : mệnh-đề phụ chỉ-định, tập-hợp với mệnh-đề trước và đồng nhiệm-vụ văn-phạm với mệnh-đề ấy.
- « Nhớ lại những uẩn-khúc của cuộc đời tác-giả » : mệnh-đề phụ bổ-túc, sự-vật túc-ngữ trực-tiếp của động-từ nhắc.
« Nay truyện Kiều » chỉ là một thành-phần, có thể là chủ-ngữ, của một mệnh-đề chính mà người viết chưa cho biết trọn. Để tránh lỗi văn-phạm, có thể viết : « Nay ta đang học truyện Kiều và nhận-thấy rằng có nhiều đoạn tuy nói về nàng Kiều nhưng lại nhắc cho ta nhớ những uẩn-khúc của cuộc đời tác-giả » .
Hoặc : « Nay trong truyện Kiều đang học ta nhận-thấy rằng có nhiều đoạn tuy nói về nàng Kiều nhưng lại nhắc cho ta nhớ những uẩn-khúc của cuộc đời tác-giả » .
- THIẾU LIÊN-HỆ GIỮA CÁC MỆNH-ĐỀ TRONG CÙNG MỘT CÂU : « Vậy một điều-kiện cần-thiết ta mới hòng trông-thấy một phong-trào đời-sống mới theo tôn-chỉ nhân-vị được gây lên và mang những kết-quả mỹ mãn, mọi người chúng ta phải có ý-thức rõ-rệt về trách-nhiệm của mình ».
Câu có 5 mệnh-đề :
- « Vậy một điều-kiện cần-thiết » : mệnh-đề độc-lập
- « Ta mới hòng trông thấy » : mệnh-đề chính
- « Một phong-trào đời sống mới theo tôn-chỉ nhân-vị được gây lên » : mệnh-đề phụ bổ-túc, sự-vật túc-ngữ trực-tiếp của động-từ trông thấy.
- « Và mang những kết-quả mỹ-mãn » : mệnh-đề phụ bổ-túc, tập-hợp với mệnh-đề trước và đồng nhiệm-vụ văn-phạm với mệnh-đề ấy.
- « Mọi người chúng ta phải có ý-thức rõ-rệt về trách-nhiệm của mình » : mệnh-đề độc-lập.
Thật ra ý người viết muốn nói : « Điều-kiện cần-thiết để hòng trông thấy một phong-trào… được gây lên và mang những kết-quả mỹ-mãn là mọi người chúng ta phải có ý-thức rõ-rệt về trách-nhiệm của chính mình » .
Vậy, mệnh-đề 1 không thể là mệnh-đề độc-lập và mệnh-đề 2 không thể là mệnh-đề chính.
Nên viết : « Vậy muốn hòng trông-thấy một phong-trào đời sống mới theo tôn-chỉ nhân-vị được gây lên và mang những kết-quả mỹ-mãn, điều-kiện cần-thiết là mọi người trong chúng ta phải có ý-thức rõ-rệt về trách-nhiệm của chính mình » .
Hoặc : « Vậy phải thực-hiện một điều-kiện cần-thiết, mới hòng trông-thấy một phong-trào đời sống mới theo tôn-chỉ nhân-vị được thực-hiện và mang những kết-quả mỹ-mãn ; điều-kiện ấy là mọi người trong chúng ta phải có ý-thức rõ-rệt về trách-nhiệm của chính mình » .
Hay : « Vậy, một điều-kiện cần-thiết để hòng trông-thấy một phong-trào đời sống mới theo tôn-chỉ nhân-vị được thực-hiện và mang những kết-quả mỹ-mãn : mọi người trong chúng ta có ý-thức rõ-rệt về trách-nhiệm của chính mình » . (Câu sau này vụng, vì đoạn trông-thấy… làm cho mệnh-đề « mọi người trong chúng ta… của chính-mình », thuộc-từ của danh-từ điều-kiện quá cách xa danh-từ ấy).
c) MỆNH-ĐỀ PHỤ CHỈ TRƯỜNG-HỢP :
NHẬN-XÉT :
- Khi mệnh-đề phụ chỉ trường-hợp có chủ-ngữ giống với mệnh-đề chính thì chủ-ngữ phải để hiểu ngầm trong mệnh-đề phụ. Do đó, nếu chủ-ngữ để hiểu ngầm trong mệnh-đề phụ, ta đương-nhiên hiểu rằng mệnh-đề ấy cùng chủ-ngữ với mệnh-đề chính.
- Bởi mệnh-đề phụ chỉ trường-hợp tùy-thuộc mệnh-đề chính, nếu trong hai mệnh-đề ấy cần để hiểu ngầm chủ-ngữ, thì nên để hiểu ngầm ở mệnh-đề phụ.
LỖI THƯỜNG THẤY :
- CHỦ-NGỮ CỦA MỆNH-ĐỀ PHỤ HIỂU NGẦM KHÔNG ĐÚNG CHỖ : « Khi đến đó, anh ấy có hỏi thăm về công việc của anh ». Đáng lý : « Khi tôi đến đó, anh ấy có hỏi thăm về công việc của anh » . Chủ-ngữ của mệnh-đề phụ không giống với chủ-ngữ của mệnh-đề chính nên không thể để hiểu ngầm.
- CHỦ-NGỮ CỦA MỆNH-ĐỀ CHÍNH HIỂU NGẦM KHÔNG ĐÚNG CHỖ : « Khi anh bước vào phòng họp, không chào-hỏi ai cả ». Đáng lý : « Khi bước vào phòng họp, anh không chào-hỏi ai cả ». Viết như đã kể trên, ta có thể khiến người đọc hiểu lầm rằng câu chưa dứt và mệnh-đề « không chào hỏi ai cả » chỉ là một mệnh-đề phụ tịnh-trí với mệnh-đề « khi bước vào phòng họp », ngoài ra còn có một mệnh-đề chính mà chủ-ngữ không phải là anh, chẳng hạn như : « Khi anh bước vào phòng họp, không chào hỏi ai cả, người ta có cảm-tưởng anh xem thường tất cả mọi người » .