Văn Phạm Việt Nam Giản Dị Và Thực Dụng

Lượt đọc: 416 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 2
câu nhiều mệnh-đề
i. số mệnh-đề trong câu

Trong một câu nói, có thể có nhiều chủ-ngữ (nói ra hoặc hiểu ngầm) và nhiều tuyên-ngữ để nói đến các chủ-ngữ ấy. Đó là một câu có nhiều mệnh-đề. Ví-dụ :

- Hồn tử-sĩ gió ù-ù thổi,

Mặt chinh-phụ trăng dõi-dõi soi.

(Chinh-Phụ Ngâm-Khúc)

Ta đã nói đến hai vật : Hồn tử-sĩ, Mặt chinh-phụ.

Sau mỗi chủ-ngữ đều có một tuyên-ngữ. Vậy câu có hai mệnh-đề : « Anh đã bình-phục và đang dự-bị tiếp-tục công-việc ».

- Anh : chủ ngữ.

- Bình-phục : tĩnh-từ làm tuyên-ngữ.

- Dự-bị : động-từ làm tuyên ngữ, có chủ-ngữ hiểu ngầm là anh .

Vậy câu có hai mệnh-đề.

CHÚ-Ý : Vì chủ-ngữ thường được hiểu ngầm, nên muốn biết một câu có bao nhiêu mệnh-đề, ta phải căn-cứ vào số tuyên-ngữ : bao nhiêu tuyên-ngữ thì bấy nhiêu mệnh-đề. Tùy nơi ý-nghĩa và nhiệm vụ của các mệnh-đề trong câu, ta phân-biệt nhiều loại mệnh-đề.

II. MỆNH-ĐỀ ĐỘC-LẬP

Mệnh-đề độc-lập là một mệnh-đề không tùy-thuộc mệnh-đề nào khác mà cũng không cần được mệnh-đề nào khác thêm nghĩa : « Trời lạnh. Gió thổi vù-vù. Mưa rơi rả-rích » .

Mỗi câu là một mệnh-đề độc-lập : « Buông cầm, xốc áo, vội ra » . (Đoạn-Trường Tân-Thanh)

Câu gồm có ba mệnh-đề độc-lập : Buông, xốc, ra là những động-từ làm tuyên-ngữ. Chủ-ngữ hiểu ngầm là Kim-Trọng.

CHÚ-Ý : Mệnh-đề độc-lập có thể đứng một mình trong câu hay cùng đứng với một mệnh-đề khác.

III. MỆNH-ĐỀ CHÁNH VÀ MỆNH-ĐỀ PHỤ

Mệnh-đề chánh là mệnh-đề cần được một mệnh-đề khác thêm nghĩa. Mệnh-đề phụ là mệnh-đề dùng để thêm nghĩa cho một mệnh-đề khác hay một tiếng trong mệnh-đề ấy.

- Vì ta khăng-khít cho người dở-dang . (Câu có hai mệnh-đề vì có hai tĩnh-từ làm tuyên-ngữ : khăng-khít dở-dang ; Cho người dở-dang : mệnh đề chánh, biểu-diễn ý chánh trong câu ; Vì ta khăng-khít : mệnh-đề phụ, thêm nghĩa cho mệnh-đề trước bằng một ý-kiến về duyên-cớ).

- Tôi chắc rằng nếu trời mưa thì các anh ấy sẽ không đi. ( Tôi chắc : mệnh-đề chánh ; Thì các anh ấy sẽ không đi : mệnh-đề phụ thêm nghĩa cho tĩnh-từ chắc ; Nếu trời mưa : mệnh-đề phụ, thêm nghĩa cho mệnh-đề phụ trước ( các anh ấy sẽ không đi ).

CHÚ-Ý : Mệnh-đề phụ có thể thêm nghĩa cho một mệnh-đề chánh hay một mệnh-đề phụ khác.

IV. CÁC LOẠI MỆNH-ĐỀ PHỤ

Tùy nơi ý-nghĩa và tác-dụng của chúng, ta phân-biệt các mệnh-đề phụ làm nhiều loại :

1 ) MỆNH-ĐỀ PHỤ CHỈ-ĐỊNH

Mệnh-đề phụ chỉ-định là mệnh-đề làm cho rõ nghĩa một danh-từ hay một đại danh-từ :

- « Việc anh vừa nói đó chính là việc mà chúng tôi đã tiên-đoán » . ( Anh vừa nói đó : mệnh-đề phụ chỉ-định, làm rõ nghĩa danh từ việc trước ; Mà chúng tôi đã tiên-đoán : mệnh-đề phụ chỉ-định, làm rõ nghĩa danh từ việc sau).

- « Ai bất-tuân sẽ bị phạt » . ( Bất-tuân : mệnh-đề phụ chỉ-định, làm rõ nghĩa đại-danh-từ ai ) .

CHÚ-Ý : Mệnh-đề phụ chỉ-định có thể được nối với tiếng mà nó thêm nghĩa bởi một trong các liên-thuộc đại-danh-từ ( mà, nào, gì, chi, nơi đó, trong đó …). Tuy-nhiên, trong nhiều trường-hợp, không cần dùng liên-thuộc đại-danh-từ.

- « Kẻ nào tin họ sẽ là nạn-nhân của họ » . ( Nào tin họ : Mệnh-đề phụ chỉ-định, làm rõ nghĩa danh-từ kẻ , được nối với danh từ ấy bởi liên-thuộc đại-danh-từ nào ) .

- « Anh hãy xem quyền sách tôi mới mua » . ( Tôi mới mua : mệnh-đề phụ chỉ-định, làm rõ nghĩa danh-từ quyển sách ) .

2 ) MỆNH-ĐỀ PHỤ BỔ-TÚC

Mệnh-đề phụ bổ-túc là những mệnh-đề phụ dùng làm chủ-ngữ, thuộc-ngữ, túc-ngữ của một động-từ, một tĩnh-từ hay một danh-từ.

- CHỦ-NGỮ : « Anh làm được việc ấy khiến mọi người đều ngạc-nhiên » . ( Anh làm được việc ấy : chủ-ngữ của động-từ khiến ) .

- THUỘC-NGỮ : « Sự thật là các anh bất-lực » . ( Các anh bất-lực : thuộc-ngữ của chủ-ngữ sự thật ) .

- SỰ VẬT TÚC-NGỮ : « Tôi mong rằng anh sẽ thành-công » . ( Rằng anh sẽ thành-công : sự-vật túc-ngữ của động-từ mong ).

- TÚC-NGỮ CỦA DANH-TỪ : « Tôi ra đi với hy-vọng rằng mọi công-việc sẽ được tiếp-tục » . ( Rằng mọi công việc sẽ được tiếp-tục : túc-ngữ của danh-từ hy-vọng ) .

CHÚ-Ý : Đây là một thứ túc-ngữ đặc-biệt của các danh-từ, do động-từ biến thành. Chớ lẫn-lộn mệnh-đề phụ bổ-túc này với mệnh-đề phụ chỉ-định thêm nghĩa cho bất-cứ danh-từ nào.

- TÚC-NGỮ CỦA TĨNH-TỪ : « Tôi chắc rằng anh sẽ thành-công » . ( Rằng anh sẽ thành-công : túc-ngữ của tĩnh-từ chắc ) .

CHÚ-Ý : Riêng trong trường-hợp làm sự-vật túc-ngữ mệnh-đề phụ bổ-túc có thể được nối với động-từ bởi phụ-thuộc liên-từ rằng ; nhưng phụ-thuộc liên-từ ấy cũng rất thường được hiểu ngầm : « Anh đừng mong tôi trở lại » (Hiểu ngầm : Anh đừng mong rằng ). Trong các trường-hợp khác, mệnh-đề phụ bổ-túc không cần được một phụ-thuộc liên-từ nối với mệnh-đề chánh.

3 ) MỆNH-ĐỀ PHỤ CHỈ TRƯỜNG-HỢP

Mệnh-đề phụ chỉ trường-hợp là những mệnh-đề thêm nghĩa cho mệnh-đề chánh bằng một ý-kiến về hoàn-cảnh : thời-gian, duyên-cớ, mục-đích, hậu-quả, điều-kiện, thể-cách, sự nhượng-bộ (hay sự đối-chọi), sự so-sánh :

- MỆNH-ĐỀ PHỤ CHỈ THỜI-GIAN : « Khi nước nhà chưa được giải-phóng, nền văn-hóa không đủ điều-kiện đễ phát-triển mạnh » . ( Khi nước nhà chưa được giải-phóng : mệnh-đề phụ chỉ thời-gian, được nối với mệnh-đề chánh bởi phụ-thuộc liên-từ khi ) .

- MỆNH-ĐỀ PHỤ CHỈ DUYÊN-CỚ : « Anh ấy thành-công nhờ đã tận-tâm học-hỏi » . ( Nhờ đã tận-tâm học hỏi : mệnh đề phụ chỉ duyên-cớ, có chủ-ngữ hiểu ngầm là anh ấy , được nối với mệnh-đề chánh bởi phụ-thuộc liên-từ nhờ ) .

- MỆNH-ĐỀ PHỤ CHỈ MỤC-ĐÍCH : « Chúng tôi xin nói rõ để các bạn khỏi thắc-mắc » . ( Để các bạn khỏi thắc-mắc : mệnh-đề phụ chỉ mục-đích, được nối với mệnh-đề chánh bởi phụ-thuộc liên-từ để ) .

- MỆNH-ĐỀ PHỤ CHỈ HẬU-QUẢ : « Anh hăng-hái hoạt động đến nỗi mọi người đều bắt-đầu tin-tưởng » . ( Đến nỗi mọi người đều bắt-đầu tin-tưởng : mệnh-đề phụ chỉ hậu-quả, được nối với mệnh-đề chánh bởi phụ-thuộc liên-từ đến nỗi ) .

- MỆNH-ĐỀ PHỤ CHỈ ĐIỀU-KIỆN : « Hễ anh trì-chí thì việc sẽ thành » . ( Hễ anh trì-chí : mệnh đề phụ chỉ điều-kiện, được nối với mệnh-đề chánh bởi phụ-thuộc liên-từ hễ ) .

- MỆNH-ĐỀ PHỤ CHỈ THỂ-CÁCH : « Nó đi ngả xiêu, ngả tó, miệng nói huênh-hoang » . ( Miệng nói huênh-hoang : mệnh-đề phụ chỉ thể-cách).

CHÚ-Ý : Thường mệnh-đề phụ chỉ thể-cách không cần được một phụ-thuộc liên-từ nối lại với mệnh-đề chánh.

- MỆNH-ĐỀ PHỤ CHỈ SỰ NHƯỢNG-BỘ (hay SỰ ĐỐI-CHỌI) : « Mặc dầu không tán-thành ý-kiến ấy, tôi vẫn ủng-hộ các anh » . ( Mặc dầu không tán-thành ý-kiến ấy : mệnh-đề phụ chỉ sự nhượng-bộ, được nối với mệnh-đề chánh bởi phụ-thuộc liên-từ mặc dầu ) .

- MỆNH-ĐỀ PHỤ CHỈ SỰ SO-SÁNH : « Ngày nay chúng ta tranh-đấu cũng như thuở xưa tổ-tiên ta đã từng tranh-đấu » . ( Cũng như thuở xưa tổ-tiên ta đã từng tranh-đấu : mệnh đề phụ chỉ sự so-sánh, được nối với mệnh-đề chánh bởi phụ-thuộc liên-từ cũng như ) .

CHÚ-Ý :

- Trong nhiều trường-hợp, phụ-thuộc liên-từ được hiểu ngầm giữa mệnh-đề chánh và mệnh-đề phụ chỉ trường-hợp. Ví-dụ : « Anh thành-công, người ta sẽ khen-ngợi anh » . Hiểu ngầm : « Nếu anh thành-công », mệnh-đề phụ chỉ trường-hợp làm trường-hợp túc-ngữ chỉ điều-kiện.

- Nếu mệnh-đề phụ chỉ trường-hợp và mệnh-đề chánh có chung một chủ-ngữ, thì chủ-ngữ được hiểu ngầm trong mệnh-đề phụ. Ví-dụ : « Khi đến đó, anh sẽ được đồng-bào đón-tiếp » . Hiểu ngầm : Khi anh đến đó.

Cần lưu-ý rằng chỉ trong trường hợp mệnh-đề chánh và mệnh-đề phụ chỉ trường-hợp có chung một chủ-ngữ, mới có thể hiểu ngầm. Nếu hai mệnh-đề ấy có chủ-ngữ khác nhau, sự để hiểu ngầm sẽ là một cái lỗi về văn-phạm.

Không thể viết : « Khi đến đó, đồng-bào sẽ đón tiếp anh » (vì chủ-ngữ của đến không phải là đồng-bào ).

- Trong trường-hợp mệnh-đề chánh đứng sau mệnh-đề phụ để nhấn mạnh sự tương-quan ý-nghĩa giữa hai mệnh-đề, ta thường đặt trước mệnh-đề chánh một tập-hợp liên từ để thừa-tiếp ý của phụ-thuộc liên-từ trước mệnh-đề phụ : « Bởi anh không tính trước nên việc mới dở-dang ». Tập hợp liên-từ nên đặt giữa mệnh-đề phụ và mệnh-đề chánh để thừa-tiếp ý của phụ-thuộc liên-từ bởi chỉ sự tương-quan về duyên-cớ.

*

TÓM-TẮT : Câu có thể gồm nhiều mệnh-đề. Muốn biết số mệnh-đề trong câu, ta dựa vào số động-từ và tĩnh-từ làm tuyên-ngữ. Có ba loại mệnh-đề : mệnh-đề độc-lập, mệnh-đề chánh và mệnh-đề phụ.

- Mệnh-đề độc-lập là mệnh-đề không thêm nghĩa cho một mệnh-đề nào khác mà cũng không cần một mệnh-đề nào khác thêm nghĩa.

- Mệnh-đề chánh là mệnh-đề cần được một mệnh-đề khác thêm nghĩa.

- Mệnh-đề phụ là mệnh-đề thêm nghĩa cho một tiếng hay một mệnh-đề khác.

Có ba thứ mệnh-đề phụ : mệnh-đề phụ chỉ-định, mệnh-đề phụ bổ-túc và mệnh-đề phụ chỉ trường-hợp :

- Mệnh-đề phụ chỉ định làm cho rõ nghĩa một danh-từ hay một đại-danh-từ.

- Mệnh-đề phụ bổ-túc làm chủ-ngữ, hay túc-ngữ của một động-từ, túc-ngữ của danh-từ hoặc tĩnh-từ hay thuộc-ngữ.

- Mệnh-đề phụ chỉ trường-hợp làm các thứ trường-hợp túc-ngữ chỉ thời-gian, duyên-cớ, mục-đích, kết-quả, điều-kiện, thể-cách, sự nhượng-bộ (hay sự đối-chọi), sự so-sánh.


Nguồn: TVE 4U
Được bạn:Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 18 tháng 11 năm 2025

« Lùi
Tiến »