Văn Phạm Việt Nam Giản Dị Và Thực Dụng

Lượt đọc: 382 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 7
trạng từ
mở đầu : ý-nghĩa, hình-thức và phân-loại

Trạng từ 42 là tiếng dùng để hạn-định ý-nghĩa của một tĩnh-từ, một động-từ và một trạng-từ khác hay cả một mệnh-đề.

- Cái nhà nầy hơi rộng ( hơi : hạn-định ý-nghĩa tĩnh-từ « rộng »).

- Chiếc xe ấy chạy rất mau ( mau : hạn-định ý-nghĩa động-từ « chạy », « rất » hạn-định ý nghĩa trạng-từ « mau »).

- Vâng , tôi sẽ hỏi ý-kiến anh (« vâng » : hạn-định ý-nghĩa toàn mệnh-đề).

Về hình-thức, ta có những trạng-từ đơn-vận và những trạng-từ tạo nên bằng nhiều cách ghép tùy trường-hợp.

Dựa vào ý-nghĩa của chúng, ta chia các trạng-từ ra làm nhiều loại : trạng-từ chỉ thể-cách, chỉ lượng-số, chỉ thời-gian, chỉ nơi-chốn, chỉ ý-kiến, trạng-từ biểu-diễn đẳng-cấp trong ý-nghĩa những tĩnh-từ và trạng-từ biểu-diễn các thời của động-từ và tĩnh-từ.

I. TRẠNG-TỪ CHỈ THỂ-CÁCH

1) Ý-NGHĨA

Trạng-từ chỉ thể-cách dùng để mô-tả một hành-động hay một tính-cách bằng một ý-nghĩa về thể-cách, bằng sự khêu-gợi một hình-ảnh, một âm-thinh.

Về ý-nghĩa, các trạng-từ chỉ thể-cách có thể chia làm ba loại :

- chỉ thể-cách của một hành-động hay một tính-cách : cũng, đều, đồng, mau, chậm, hoạt-bát, vụng-về, kỹ-lưỡng…

- gợi âm-thinh : ào-ào, ầm-ầm, đùng-đùng, vun-vút…

- gợi hình-ảnh : rải-rác, lảo-đảo, lác-đác, lao-xao…

2) NGUỒN-GỐC

Về nguồn-gốc, trạng-từ chỉ thể-cách gồm có :

a) những tiếng bản-nhiên là trạng-từ chỉ thể-cách : cũng, đều, đồng, nhau, thế, vậy, như nhau, lẫn nhau . 43

b) những tiếng do danh-từ biến-thành : ào-ào, đùng-đùng, bình-bịch… (đó là những danh-từ hài-thinh).

c) vài tiếng do động-từ biến-thành : lấy, lấy… để, qua (với nghĩa : qua-loa, sơ-sài ) :

- Những việc trong nhà, bà đều làm lấy.

- Ăn lấy ăn để.

- Trước khi thi-hành, anh nên bàn qua với ông ấy.

CHÚ-Ý : Việt-Nam Văn-phạm 44 cho rằng qua, lại, ra, vào, lên, xuống… là những trạng-từ trong : trải qua, nói lại, mở ra, đóng vào, nâng lên, hạ xuống… Chúng tôi thấy tách riêng những tiếng ấy ra như thế không hợp-lý và không có lợi gì. Nên kể trải qua, nói lại… là những động-từ ghép.

d) những tiếng do tĩnh-từ biến-thành : chậm, mau, to, nhỏ, dễ-dàng, khó-khăn…

*

CÁCH CHUYỂN TĨNH-TỪ THÀNH TRẠNG-TỪ CHỈ THỂ-CÁCH

Rất nhiều trạng-từ chỉ thể-cách do tĩnh-từ biến-thành : lớn nhỏ, cẩn-thận, dễ-dàng .

Những tiếng ấy có thể giữ nguyên hình-thức cũ.

- Nói năng hoạt-bát.

- Xem xét cẩn-thận.

Nhưng ta thường ghép vào các tĩnh-từ biến thành trạng-từ chỉ thể-cách ấy những tiếng : cho, một cách :

- Hãy làm việc cho siêng-năng.

- Cư-xử một cách tàn-nhẫn.

II . TRẠNG-TỪ CHỈ LƯỢNG-SỐ

1) Ý-NGHĨA

Trạng-từ chỉ lượng-số là những trạng-từ hạn-định ý-nghĩa của tiếng khác bằng một ý-niệm về lượng-số, về chừng-mực.

- Thứ hoa ấy đẹp lắm .

- Màu nó hơi đỏ.

- Anh ấy đã hoạt-động nhiều .

Những trạng-từ chỉ lượng-số thường dùng là : hơi, ít, khá, nhiều, rất, thật, lắm, quá, càng, cực, thậm, bằng, như, ngang, hơn, kém, thua, thêm, bớt, cực-kỳ, càng thêm, vô kể, biết bao, biết bao nhiêu, biết ngần nào…

2) CÁCH SỬ-DỤNG

a) Nhiều trạng-từ chỉ lượng-số được dùng để chỉ tỷ-hiệu đẳng-cấp của tĩnh-từ (xem Đẳng-cấp của Ý-nghĩa tiếng tĩnh-từ trang 81).

Các tiếng ấy cũng được dùng để chỉ tỷ-hiệu đẳng-cấp và tối-cao đẳng-cấp của trạng-từ :

- Giáp học nhiều hơn Ất : trạng từ nhiều, dùng ở tỷ-hiệu đẳng-cấp (bậc hơn).

- Những người ấy đã chịu thiệt rất ít : trạng-từ ít ở tối-cao đẳng-cấp tuyệt-đối.

(Nhưng, như chúng tôi đã nhận-xét về tĩnh-từ, sự phân-biệt các đẳng-cấp nầy không cần-thiết trong văn-phạm Việt-Nam).

b) Các tiếng ít, khá, nhiều, quá, biết bao nhiêu vừa dùng với động-từ vừa dùng với tĩnh-từ. Những tiếng khác chỉ dùng với tĩnh-từ :

- Buồn nhiều (hay ít ).

- Làm việc nhiều (hay ít ).

- Rất tử-tế (nhưng không thể nói rất khóc, chẳng hạn).

c) Những trạng-từ chỉ lượng số thường dùng với tĩnh-từ có thể được dùng để hạn-định ý-nghĩa một trạng-từ khác :

- Hy-sinh rất nhiều.

- Chết nhiều lắm .

d) Trạng-từ chỉ lượng-số khi đứng trước danh-từ thì biến-thành lượng-số chỉ-định-từ : Tổ-quốc đã hy-sinh nhiều đứa con yêu-quý ( nhiều : lượng-số chỉ định-từ, chỉ-định danh-từ đứa con ).

e) Trạng-từ chỉ lượng-số khi biến thành lượng-số chỉ-định-từ vẫn có thể được một trạng-từ khác hạn-định : Anh ấy có rất nhiều sách quý ( rất : hạn-định ý-nghĩa của nhiều , lượng-số chỉ-định-từ).

f) Lượng-số chỉ-định-từ những có thể được dùng làm trạng-từ để hạn-định ý-nghĩa một lượng-số chỉ-định-từ (số đếm) : Cày xong những hai công đất ( những lượng-số chỉ-định-từ dùng làm trạng-từ chỉ lượng-số, hạn-định ý-nghĩa của lượng-số chỉ-định-từ hai ).

III . TRẠNG-TỪ CHỈ THỜI-GIAN

1) Ý NGHĨA

Trạng-từ chỉ thời-gian là những trạng-từ chỉ lúc xảy ra hay thời-hạn của các hành-động và trạng-thái :

- « Mai sau dù có bao giờ . Đốt lò hương ấy so tơ phím nầy… » (Đoạn-Trường Tân-Thanh) : Mai sau bao giờ (= lúc nào) chỉ lúc xảy ra của các hành-động.

- Cười người chớ khá cười lâu… (ca-dao) : Lâu : chỉ thời-hạn.

Các trạng-từ chỉ thời-gian thường dùng :

- chỉ lúc xảy ra : bỗng, thoạt, ngay, ban đầu, bây giờ, bấy giờ, chừ, rày, mai, nay, xưa, trước, thường, sau, rốt cuộc, sau này, mai sau, về sau…

- chỉ thời-hạn : mau, lâu, mãi, mãi mãi, luôn luôn…

2) VÀI NHẬN-XÉT

a) Có những trạng-từ có một khái-niệm về thời-gian nhưng khái-niệm ấy lại được dùng để chỉ thể-cách : Âm-mưu ấy một ngày một rõ-ràng. Một ngày một, mặc dầu có khái-niệm thời-gian, đã được dùng để mô-tả cái tính-cách rõ-rệt : rõ rệt cách nào ? Một ngày một rõ-rệt. Đó là một trạng-từ chỉ thể-cách.

b) Một số danh-từ khái-quát hợp với chỉ-thị chỉ-định-từ kia hoặc các trạng-từ nay, trước, tạo-thành trạng-từ chỉ thời-gian : hôm kia, ngày kia, hôm nay, ngày nay, hôm trước, ngày trước, thuở trước…

Tuy-nhiên, trong trường-hợp danh-từ còn giữ ý-nghĩa của một đơn-vị thời-gian rõ-rệt và tiếng chỉ ý-niệm thời-gian có tác-dụng của một tĩnh-từ, ta vẫn có thể cho rằng tiếng trước là danh-từ tiếng sau là tĩnh-từ hay chỉ-định-từ :

- Bữa qua (= bữa vừa qua ; qua : tĩnh-từ)

- Lúc này ( nầy : chỉ-thị chỉ-định-từ).

- Thời ấy ( ấy : chỉ-thị chỉ-định-từ)

(Đối-chiếu với ngày xưa chẳng hạn, ta không thể hiểu tách riêng ngày xưa : ngày không chỉ một đơn-vị thời-gian nhất-định).

IV . TRẠNG-TỪ CHỈ NƠI-CHỐN

1) Ý-NGHĨA

Các trạng-từ chỉ nơi-chốn diễn-giải một ý-nghĩa về :

- chỗ mình đang ở : đây, ở đây, đây này…

- nơi mình trông thấy hay đang chỉ vào đấy : đó, đấy, tê, kìa, kia, đằng kia, kia kìa, ở đó…

- những nơi khác so-sánh với chỗ mình đang ở hoặc đang nói đến : gần, xa, gần bên, kế bên, chung-quanh, đâu đây, xa xa, đằng xa, ngoài xa, ở trên, ở dưới, ở trong, ở ngoài.

2) CHUYỂN-LOẠI

Nhiều trạng-từ chỉ nơi-chốn có thể chuyển-loại thành chỉ-thị đại-danh-từ hay giới-từ.

a) TRẠNG TỪ CHỈ NƠI-CHỐN BIẾN-THÀNH CHỈ-THỊ ĐẠI-DANH-TỪ :

- Đó với đây không dây mà buộc (ca-dao).

- Đàng ấy đã nói thế thì đây cứ nhận.

- Này chồng, này mẹ, này cha,

- Này là em ruột, này là em dâu.

(Đoạn-Trường Tân-Thanh)

Đó, đây, đàng ấy, này thay thế cho những danh từ (chỉ người) với một ý nghĩa về vị trí : vậy đó là những chỉ-thị đại-danh-từ. 45

b) TRẠNG-TỪ CHỈ NƠI-CHỐN BIẾN-THÀNH GIỚI-TỪ :

- Chung-quanh chùa có nhiều cây to bóng mát.

- Gần miền có một mụ nào.

(Đoạn-Trường Tân-Thanh)

Chung-quanh : chỉ sự tương-quan ý-nghĩa giữa động-từ và túc-ngữ chùa .

Gần : chỉ sự tương-quan ý-nghĩa giữa động-từ và túc-ngữ miền.

V . TRẠNG-TỪ CHỈ Ý-KIẾN

Trạng-từ chỉ ý-kiến gồm có : trạng-từ chỉ sự nghi-vấn, trạng-từ chỉ sự xác-định, trạng-từ chỉ sự phủ-định, trạng-từ chỉ sự giới-hạn, trạng-từ chỉ sự hoài-nghi.

1) TRẠNG-TỪ CHỈ SỰ NGHI-VẤN

Trạng-từ chỉ sự nghi-vấn dùng để hỏi về thể-cách, duyên-cớ, lượng-số, thời gian, nơi-chốn…

THỂ-CÁCH : làm sao, thế nào, cách nào.

- Đau làm sao ?

- Học cách nào ?

DUYÊN-CỚ : sao, tại sao, sao lại, làm sao, tại làm sao.

- Sao anh không đến ?

- Sao lại bỏ đi ?

LƯỢNG-SỐ : mấy, bao nhiêu.

- Công kia đáng mấy ?

- Bán bao nhiêu ?

THỜI-GIAN : bao giờ, chừng nào, bao lâu.

- Bao giờ anh trở lại ?

- Họ ở đấy bao lâu ?

NƠI-CHỐN : đâu, ở đâu, bao xa.

- Người xưa cảnh cũ bây giờ là đâu ?

CHUYỂN-LOẠI : Vài tiếng trạng-từ chỉ sự nghi-vấn có thể chuyển-loại thành nghi-vấn chỉ-định-từ và nghi-vấn đại-danh-từ.

- NGHI-VẤN CHỈ-ĐỊNH-TỪ : Anh học lớp mấy ? Anh được bao nhiêu tuổi ? « Mấy » và « bao nhiêu » chỉ-định các danh-từ « lớp » « tuổi » . Đó là những nghi-vấn chỉ-định-từ.

- NGHI-VẤN ĐẠI-DANH-TỪ : Anh nói sao ? (anh nói cái gì ?) Sao thay-thế cho một danh-từ để làm sự-vật túc-ngữ trực-tiếp cho động-từ nói . Đó là một nghi-vấn đại-danh-từ.

2) TRẠNG-TỪ CHỈ SỰ XÁC-ĐỊNH

Các trạng-từ chỉ sự xác-định dùng để chỉ sự có mặt (khi đáp lời gọi), sự ưng-thuận, sự quả-quyết.

SỰ CÓ MẶT : dạ , ơi.

SỰ ƯNG-THUẬN : ừ, dạ, vâng, phải, được…

- Dạ, tôi đã làm xong.

- Được, tôi sẽ làm vừa lòng các anh.

SỰ QUẢ QUYẾT : ắt, ắt là, tất là, ắt hẳn, ắt phải, tất phải, ắt là phải, tất là phải, chắc, hẳn, quyết, tất-nhiên, quyết-nhiên, quả-nhiên, quả thật.

3) TRẠNG-TỪ CHỈ SỰ PHỦ-ĐỊNH

Các trạng-từ chỉ sự phủ-định có thể biểu-diễn sự phủ-định theo nhiều cấp-bực, mạnh yếu khác nhau :

PHỦ-ĐỊNH THƯỜNG : Không.

PHỦ-ĐỊNH MẠNH : chẳng, chả, không, cả, không… suốt cả, chẳng hề, há, đâu, há lại, nọ ( hay nõ ), lọ, mựa, cần chi.

- Đâu dám quên ơn.

- Mựa phải cầu-xin.

- Cần chi van-lạy.

PHỦ-ĐỊNH YẾU : chưa (tiếng nói trại : chửa = chưa + có) chỉ việc không có hiện-thời, nhưng có thể sẽ có : Hoa chưa nở, quả chưa chín.

Ý CAN-NGĂN : chớ, đừng : chớ bi-quan, đừng lo-sợ.

4) TRẠNG-TỪ CHỈ SỰ GIỚI-HẠN

Các trạng-từ chỉ sự giới-hạn thêm một ý giới-hạn cho những hành-động hay trạng-thái đã có.

Các trạng-từ chỉ sự giới-hạn thường dùng là : chỉ thôi, mà thôi, chỉ… mà-thôi, có… thôi (hay mà thôi).

- Còn bấy nhiêu thôi.

- Tôi chỉ biết bao nhiêu đó.

5) TRẠNG-TỪ CHỈ SỰ HOÀI-NGHI

Trạng-từ chỉ sự hoài-nghi dùng để tỏ ý không chắc-chắn, nghi-ngờ về một trạng-thái hay một việc xảy ra.

Các trạng-từ chỉ sự hoài-nghi thường dùng là : có lẽ, dễ thường, vị-tất, chăng, họa chăng, hay đâu, biết đâu, chắc gì, âu hẳn, âu cũng, không biết chừng, cũng không biết chừng, biết đâu rằng…

- « Lòng tơ dù chẳng dứt tình,

Gió mưa âu hẳn tan-tành nước-non ».

(Đoạn-Trường Tân-Thanh)

*

VÀI NHẬN-XÉT

1 ) Những trạng-từ chỉ sự xác-định chắc, hẳn tùy nơi ý-nghĩa của lời nói có thể biến-thành trạng-từ chỉ sự hoài-nghi :

- Cách đây mười năm, hẳn anh còn nhớ, đã có lần tôi bàn với anh việc thành-lập một nhà xuất-bản.

- Anh quên rồi chắc ?

2 ) Tiếng đâu trong trạng-từ biết đâu là một trạng-từ chỉ sự phủ-định (ý phủ-định nhẹ) ; bởi thế nó mới hợp với động-từ biết để chỉ sự hoài-nghi. Không nên lẫn-lộn với tiếng đâu, trạng-từ chỉ nơi-chốn, đặt sau động-từ biết.

- « Biết đâu Hợp-phố mà mong châu về ». (Đoạn-Trường Tân-Thanh) ( Biết : động-từ ; đâu : trạng-từ chỉ nơi-chốn có nghĩa : nơi nào).

- « Biết đâu đó chẳng là sự thật ? » ( Biết đâu : trạng-từ chỉ sự hoài-nghi, không thể hiểu tách riêng hai tiếng biết đâu).

6) TRẠNG-TỪ BIỂU-DIỄN CÁC THỜI CỦA ĐỘNG-TỪ VÀ TĨNH-TỪ

Ta đã thấy rằng ngoài những trạng-từ chỉ thời-gian còn có các trạng-từ đặc-biệt dùng để biểu-diễn các thời của động-từ đang, còn, vẫn, hãy còn, đã, rồi, vừa, sắp, sẽ…)

Các trạng-từ nầy cũng được dùng với tĩnh-từ để chỉ trạng-thái biểu-diễn bởi tĩnh-từ xuất-hiện vào các thời hiện-tại, quá-khứ hay vị-lai :

- Tài-nghệ của anh hãy còn non-nớt.

- Địa-vị của ông ấy đã vững-vàng.

- Ông sắp giàu to.

Đối với tĩnh-từ, những trạng-từ đặc-biệt để biểu-diễn các thời gian có tác-dụng giống như đối với động-từ.

*

TÓM-TẮT : Trạng-từ là tiếng dùng để hạn-định ý-nghĩa của một động-từ, một tĩnh-từ, một trạng-từ khác hay của cả một mệnh-đề. Có sáu loại trạng-từ :

- Trạng-từ chỉ thể cách.

- Trạng-từ chỉ lượng-số (có một số dùng để biểu-diễn tỷ-hiệu đẳng-cấp và tối-cao đẳng-cấp).

- Trạng-từ chỉ thời-gian.

- Trạng-từ chỉ nơi-chốn.

- Trạng-từ chỉ ý-kiến (chỉ sự nghi-vấn, sự xác-định, sự phủ-định, sự giới-hạn và sự hoài-nghi).

- Trạng-từ biểu-diễn các thời của động-từ và tĩnh-từ.

Đối với những tiếng mà nó thêm nghĩa, trạng-từ không có một vị-trí nhất-định : nó có thể đứng sau hay đứng trước.

Nhiều trạng-từ có thể thuộc loại nầy hay loại khác tùy trường-hợp. Nhiều trạng-từ do từ-loại khác biến-thành và có thể biến-thành từ-loại khác.

Cần dựa vào ý-nghĩa của mỗi trạng-từ tùy trường-hợp, để tránh những sự lầm-lẫn về từ-loại.

« Lùi
Tiến »