Về văn-phạm, sự phân-tích có hai mục-đích :
- Kiểm-soát những câu đã viết để tránh lỗi văn-phạm
- Dựa vào văn-phạm để tìm-hiểu ý-nghĩa tinh-xác của một câu văn.
Để đạt hai mục-đích ấy, các bài học văn-phạm phải thường được ứng-dụng trong lúc giảng-văn và tập làm văn.
Việc phân-tích gồm có hai phần : phân-tích từ-loại và phân-tích mệnh-đề.
Dưới đây sẽ có một số tỷ-dụ về phân-tích nhắm mục-đích tìm-hiểu ý-nghĩa tinh-xác của một câu văn và một số tỷ-dụ khác nhắm mục-đích kiểm-soát một câu văn để vạch ra lỗi văn-phạm.
I . PHÂN-TÍCH TỪ-LOẠI
Phân-tích từ-loại tức là khảo-sát một ngữ-từ (ngữ-từ là một tiếng đơn hay ghép có thể thuộc về một từ-loại nhất-định), về hai phương-diện :
- từ-loại.
- nhiệm-vụ văn-phạm.
Bởi trong Việt-ngữ một tiếng có thể thuộc về nhiều từ-loại tùy trường-hợp sử-dụng, sự phân-biệt từ-loại của mỗi tiếng rất là quan-trọng.
Trái lại, những chi-tiết về giống đực, giống cái, số nhiều, số ít… không có lợi-ích thiết-thực trong văn-phạm Việt-Nam.
1) PHÂN-TÍCH ĐỂ HIỂU RÕ NGHĨA MỘT CÂU
a) NGÀY XUÂN CON ÉN ĐƯA THOI (Đoạn-Trường Tân-Thanh) :
- Ngày xuân : danh từ, túc-ngữ chỉ thời-gian của động-từ đưa thoi. 51
- Con én : danh-từ, chủ-ngữ của động-từ đưa thoi. 52
- Đưa thoi : động-từ, làm tuyên-ngữ cho mệnh-đề.
Ở đây, phân-tích riêng từng tiếng, ta sẽ làm sai ý-nghĩa câu văn. Nếu cho là :
- Đưa : động-từ.
- Thoi : danh-từ, sự-vật túc-ngữ của động-từ « đưa », câu văn sẽ có nghĩa : con én đưa thoi (!) Thật ra đưa thoi chỉ có nghĩa là : bay qua bay lại, nhiều và nhanh như thoi đưa. Có thể thấy nghĩa ấy qua câu thơ sau đây : « Trên không man-mác trận nhàn thoi » . (Tiêu-Tương bát-cảnh, Nguyễn-xung-Xác)
b) GIA-TƯ NGHĨ CŨNG THƯỜNG-THƯỜNG BẬC TRUNG (Đoạn-Trường Tân-Thanh) :
Nếu hiểu nghĩ là động-từ (viết với dấu ngã), câu thơ có nghĩa : gia-tư xét ra cũng thường thường…
Và hiểu nghỉ (viết với dấu hỏi) là nhân-vật đại-danh-từ, câu thơ sẽ có nghĩa : gia tư của người ấy cũng… ( nghỉ = người ấy nói ríu).
Nếu hiểu thường thường là trạng-từ, thêm nghĩa cho tĩnh-từ ghép bậc trung , ta sẽ làm cho câu thơ trở-thành vô-nghĩa. Thường thường ở đây là một tĩnh-từ có nghĩa là tầm thường, không lớn mà cũng không nhỏ, không nhiều lắm mà cũng không ít quá.
2) PHÂN-TÍCH ĐỂ KIỂM-SOÁT VỀ VĂN-PHẠM
Sau đây là vài câu đã lượm-lặt trong vài bài luận của học-sinh.
a) BÀI NÀY TÁC-GIẢ THUẬT LÚC BIỆT-LY CỦA HAI VỢ CHỒNG :
Bài : danh-từ, túc-ngữ chỉ nơi-chốn của động-từ thuật .
Do-đó, phải có một giới-từ để chỉ sự tương-quan ý-nghĩa giữa động-từ và túc-ngữ.
Phải viết : « Trong bài này, tác-giả thuật… »
b) ĐÓ LÀ Ý-NGHĨ CHUNG CỦA NHIỀU NGƯỜI HAY MỘT NGƯỜI ?
Hay : tập-hợp liên-từ liên-kết hai tiếng, hai đoạn câu hoặc hai mệnh-đề có giá-trị ngang nhau về văn-phạm.
Do đó, trong câu trên, về văn-phạm, một người có giá-trị ngang với nhiều người nghĩa là cũng làm túc-ngữ cho danh-từ ý-nghĩ ; mà ý-nghĩ ở đây lại là… ý-nghĩ chung !
Đáng lý phải viết : « Đó là ý-nghĩ chung của nhiều người hay riêng của một người ? »
Tập-hợp liên-từ hay không liên-kết nhiều người với một người nữa, mà liên-kết ý-nghĩ chung với riêng (hiểu ngầm : ý nghĩ riêng).
c) ĐÂY LÀ MỘT BẰNG-CỚ CỦA SỰ ĐOÀN-KẾT GIỮA GIA-ĐÌNH VÀ HỌC-ĐƯỜNG, ĐOÀN-KẾT ĐƯỢC NHƯ VẬY, CON EM CÁC NGÀI SẼ ĐƯỢC HỌC TẬP CÓ HIỆU QUẢ HƠN :
Về văn-phạm, tiếng đoàn kết ở đầu câu nhì là một động-từ dùng làm tĩnh-từ, thêm nghĩa cho danh-từ con em . Nhưng về ý-nghĩa, chính là gia-đình và học-đường đoàn kết như vậy.
Để tránh lỗi văn-phạm, phải viết : « Đây là một bằng-cớ của sự đoàn-kết giữa gia-đình và học-đường. Có được sự đoàn-kết ấy con em các ngài sẽ học tập… »
d) CHÚNG TA ĐƯỢC CHA MẸ VUI-MỪNG VÀ THẦY YÊU CHUỘNG :
Được ở đây là một trợ-động-từ. Trợ-động-từ được chỉ dùng trước một động-từ thụ-thể hay một tĩnh-từ chỉ một trạng-thái do chủ-ngữ thụ-nhận.
- Yêu-chuộng là động-từ thụ-thể, chỉ một trạng-thái do chủ-ngữ chúng ta thụ-nhận.
- Vui-mừng là một tĩnh-từ ; nhưng người thụ-nhận trạng-thái biểu-diễn bởi tĩnh-từ ấy không phải là chúng ta.
Do đó, phải viết : « Chúng ta làm cho cha mẹ vui-mừng và được thầy yêu-chuộng » .
II . PHÂN-TÍCH MỆNH-ĐỀ
Phân-tích mệnh-đề một câu, tức là tìm xem :
- Câu ấy có bao nhiêu mệnh-đề,
- Mỗi mệnh-đề thuộc loại nào,
- Nhiệm-vụ văn-phạm của mỗi mệnh đề.
Ví-dụ :
1) PHÂN-TÍCH ĐỂ HIỂU RÕ NGHĨA MỘT CÂU
a) Trước đèn xem truyện Tây-minh,
Nực cười hai chữ nhân-tình éo-le.
(Lục-Vân-Tiên)
Trọn câu có ba mệnh-đề :
- Nực cười : mệnh-đề chánh, chủ-ngữ hiểu ngầm là tác-giả .
- Trước đèn xem truyện Tây-minh : mệnh-đề phụ chỉ trường-hợp, túc-ngữ chỉ thời-gian của mệnh-đề chánh, hiểu ngầm chủ-ngữ tác-giả và phụ-thuộc liên-từ nhân (nhân xem truyện Tây-Minh ở trước đèn).
- Hai chữ nhân-tình éo-le : mệnh-đề phụ chỉ trường-hợp, túc-ngữ chỉ duyên-cớ của mệnh-đề chánh, hiểu ngầm phụ-thuộc liên-từ vì (nực cười vì hai chữ nhân-tình éo-le).
b) Chốc là mười mấy năm trời ;
Còn ra khi đã da mồi tóc sương.
(Đoạn-Trường Tân-Thanh)
Trong câu thơ sau có hai mệnh-đề :
- Khi đã da mồi tóc sương : mệnh-đề chánh, chủ-ngữ hiểu ngầm là huyên cỗi xuân già chỉ cha mẹ Thúy-Kiều ; thành-ngữ da mồi tóc sương có giá-trị như một tĩnh-từ làm tuyên-ngữ. ( Khi trong câu nầy không phải là một phụ-thuộc liên-từ mà là một trạng-từ chỉ sự hoài-nghi ; khi nghĩa là : có khi, có lẽ ).
- Còn ra : mệnh-đề phụ chỉ trường-hợp, túc-ngữ chỉ điều-kiện của mệnh-đề chánh, hiểu ngầm chủ-ngữ (cùng chủ-ngữ với mệnh-đề chánh) và phụ-thuộc liên từ nếu.
Phân-tích như thế, ta thấy rằng câu thơ có nghĩa : nếu may mà còn sống, có lẽ cha mẹ đã da mồi tóc sương.
Giá như lầm-lẫn mà cho rằng khi đã da mồi tóc sương là một mệnh-đề phụ chỉ trường-hợp, câu thơ sẽ trở thành vô-nghĩa.
c) Sửa xiêm dạo bước tiền-đường ;
Ngửa trông xem vẻ thiên-chương thẫn thờ.
(Chinh-Phụ Ngâm-Khúc)
Trong câu thơ sau, có ba mệnh-đề :
- ngửa trông,
- xem vẻ thiên-chương,
- thẫn-thờ.
Cả ba đều là mệnh-đề độc lập. Ba mệnh-đề đặt như thế phải có chung một chủ-ngữ : chủ-ngữ ấy hiểu ngầm là chinh-phụ tự xưng.
Nếu hiểu lầm rằng câu có hai mệnh-đề :
- ngửa trông
- xem vẻ thiên-chương thẫn-thờ (thẫn-thờ , tĩnh-từ, thêm nghĩa cho danh-từ vẻ thiên-chương ), ta sẽ làm cho câu trở-thành vô-nghĩa : vẻ thiên-chương không thể thẫn-thờ được !
d) Phòng khi động đến cửu-trùng,
Giữ sao cho được má hồng như xưa
(Cung-Oán Ngâm-Khúc)
Câu có hai mệnh-đề :
- Giữ sao cho được má hồng như xưa : mệnh-đề chánh, chủ-ngữ hiểu ngầm là người cung-phi tự nhủ.
- Phòng khi động đến cửu trùng : mệnh-đề phụ chỉ trường-hợp có chủ-ngữ hiểu ngầm (cùng chủ-ngữ với mệnh-đề chánh),
Mệnh-đề phụ chỉ mục-đích được nối với mệnh-đề chánh bởi phụ-thuộc liên-từ phòng khi. Phòng khi chỉ một sự liên-hệ về mục-đích hàm-ý đề-phòng, dự-bị ; do đó mệnh-đề chánh phải trình-bày một việc định làm, chứ không thể là một câu hỏi hướng về « cửu-trùng » với ý oán-trách (như nhiều người đã hiểu). Đọc lại mấy câu trước của tác-phẩm, ta lại càng thấy rõ ý-nghĩa của phụ-thuộc liên-từ phòng khi ở đây :
« Bóng câu thoáng bên mành mấy nỗi ;
Những hương sầu phấn tủi bao xong ?
Phòng khi động đến cửu-trùng,
Giữ sao cho được má hồng như xưa » .
Cuộc đời như « bóng câu thoáng bên mành », không mấy chốc. Đang sầu-khổ mà nghĩ đến sự ngắn-ngủi của cuộc đời, tất là đã tìm được một nguồn an-ủi. Với nguồn an-ủi ấy, từ sự « sầu hương tủi phấn », tình-cảm của người cung-phi đã chuyển sang sự ẩn-nhẫn cho qua ngày. Chính vì ẩn-nhẫn mà nàng mới miễn-cưỡng hy-vọng ngày vua động lòng thương lại. Định-mệnh trớ-trêu đã bắt nàng phải đề-phòng đến cả cái ngày được thương lại ấy ! Thế nên nàng đành phải gắng-gượng… giữ sao cho được má hồng như xưa .
2) PHÂN-TÍCH ĐỂ KIỂM-SOÁT VỀ VĂN-PHẠM
Sau đây là những câu đã lượm-lặt trong vài bài luận của học-sinh.
a) SAU KHI THI ĐỖ, CHA TÔI CHO TÔI LÊN TỈNH HỌC : Câu có ba mệnh-đề :
- Cha tôi cho : mệnh-đề chánh.
- Tôi lên tỉnh học : mệnh-đề phụ bổ-túc, sự-vật túc-ngữ của động từ cho.
- Sau khi thi đỗ : mệnh-đề phụ chỉ trường-hợp, túc-ngữ chỉ thời-gian của mệnh-đề chánh, có chủ-ngữ hiểu ngầm.
Theo quy-tắc văn-phạm, nếu chủ-ngữ của mệnh-đề phụ chỉ trường-hợp để hiểu ngầm, thì chủ-ngữ ấy chính là tiếng đã làm chủ-ngữ trong mệnh-đề chánh. Vậy ở đây, ta có thể hiểu : Cha tôi thi đỗ . Nhưng kỳ thật là : tôi thi đỗ .
Câu sai văn-phạm.
b) NÀNG LẠI ĐA-TÌNH KHI MỚI GẶP KIM-TRỌNG LẦN ĐẦU-TIÊN THÌ ĐÃ VẤN-VƯƠNG TÌNH-CẢM : Câu có ba mệnh-đề :
- Nàng lại đa tình : mệnh-đề độc-lập.
- Thì lại vấn-vương tình-cảm : mệnh-đề chánh, chủ-ngữ hiểu ngầm là nàng .
- khi mới gặp Kim-Trọng lần đầu-tiên : mệnh-đề phụ chỉ trường-hợp túc-ngữ chỉ thời-gian của mệnh-đề chánh.
Về văn-phạm, giữa mệnh-đề thứ nhất (độc-lập) và các mệnh-đề sau, không có sự liên-hệ nào cả. Đó là điều không hợp-lý. Thật ra, ý phô-diễn trong mệnh-đề chánh ( thì đã vấn-vương tình-cảm ), chính là một hậu-quả của ý nàng lại đa-tình . Vậy là câu đã sai văn-phạm. Đáng lý phải viết : « Nàng lại đa-tình đến nỗi khi mới gặp Kim-Trọng lần đầu-tiên thì đã vấn-vương tình-cảm ».
- Nàng lại đa-tình : mệnh-đề chánh.
- đến nỗi (thì) đã vấn-vương tình-cảm : mệnh đề phụ chỉ trường-hợp, túc-ngữ chỉ hậu-quả của mệnh-đề chánh ( đến nỗi : phụ-thuộc liên-từ).
- Khi mới gặp Kim-Trọng lần đầu-tiên : mệnh-đề phụ chỉ trường-hợp, túc ngữ chỉ thời-gian của động-từ vấn-vương.
(Dĩ-nhiên các tiếng khi, thì có sẵn không làm cho câu văn được thanh-thoát. Nhưng ta chỉ xét về văn-phạm. Nghệ thuật hành-văn lại là một vấn-đề khác nữa).
c) CUỘC ĐỜI LUÂN-LẠC CỦA THÚY-KIỀU CÓ NHỮNG LÚC THĂNG TRẦM VINH NHỤC VÀ KẾT-CUỘC THÌ ĐƯỢC ĐOÀN-TỤ VỚI GIA-ĐÌNH : Câu có hai mệnh-đề :
- Cuộc đời luân lạc của Thúy-Kiều có những lúc thăng trầm vinh nhục : mệnh- đề độc-lập .
- Và kết-cuộc thì được đoàn-tụ với gia đình : mệnh-đề độc-lập tập-hợp với mệnh-đề trước, có chủ-ngữ hiểu ngầm.
Theo đúng qui-tắc văn-phạm, chủ-ngữ của mệnh-đề sau phải hiểu ngầm là cuộc đời (chủ-ngữ của mệnh-đề trước). Nhưng cuộc-đời lại không thể… đoàn-tụ với gia-đình được.
Đáng lý phải viết : « Cuộc đời luân-lạc của Thúy-Kiều có những lúc thăng trầm vinh nhục và kết-cuộc nàng được đoàn-tụ với gia-đình » . (Dĩ nhiên, về phương-diện mạch-lạc, câu văn vẫn chưa được ổn).
d) VÌ THÂN ĐÃ MANG LẤY NGHIỆP NÊN NÀNG ĐÃ MẤY PHEN CỐ VÙNG-VẪY ĐỂ THOÁT KIẾP ĐỌA ĐÀY : Câu có hai mệnh-đề :
- Nên nàng đã mấy phen cố vùng-vẫy để thoát kiếp đọa-đày : mệnh-đề chánh.
- Vì thân đã mang lấy nghiệp ; mệnh-đề phụ chỉ trường-hợp, túc-ngữ chỉ duyên-cớ của mệnh-đề chánh.
Đó là hiểu theo văn-phạm.
Đúng ra, sự-kiện thân đã mang lấy nghiệp không phải là duyên-cớ của việc mấy phen vùng-vẫy để thoát kiếp đọa-đày.
Sự phân-tích văn-phạm đã làm cho hiện rõ cái khuyết-điểm của câu văn về lý-luận.