Để cho việc sử-dụng ngôn-ngữ được kiến-hiệu, để cho các ý-kiến phát-biểu bằng lời nói cũng như bài văn được lãnh-hội một cách chính-xác, các qui-tắc văn-phạm cần được tôn-trọng.
Người giãi-bày tình-ý cần xếp-đặt lời-lẽ của mình đúng theo « cái khuôn của ngôn-ngữ ». Người tìm-hiểu những tình-ý được phát-biểu bằng ngôn-ngữ cũng phải khép mình trong văn phạm,
Khi hiểu văn cũng như khi viết hay nói, ta đều phải có ý-thức văn-phạm. Trước hết, cần bác-bỏ các ý-kiến, « nói thế nào cũng được », « hiểu thế nào cũng được ». Và, để có ý-thức văn-phạm, lại còn cần học-hỏi và luyện-tập về các quy-luật của ngôn-ngữ.
Thiếu ý-thức văn-phạm, người đọc văn có thể hiểu sai hoặc hiểu không đầy-đủ những tình-ý của người viết. Bất-chấp văn-phạm, người phát-biểu ý-kiến khiến kẻ khác không hiểu được mình hoặc hiểu không đúng những điều mình bày-tỏ.
I. KHI VIẾT VĂN
Trong sự giao-thiệp hằng ngày, trên báo-chí, trong sách-vở, kể cả những sách giáo-khoa, không thiếu các trường-hợp tình-ý không được diễn-đạt rõ-ràng, vì người sử-dụng ngôn-ngữ đã nói hay viết sai văn-phạm.
Người nói có thể nhờ giọng-điệu, nét mặt, cử-chỉ bổ túc cho lời-lẽ, khiến những lỗi văn-phạm thường không đến nỗi tai-hại.
Kẻ viết không có được các yếu-tố diễn-đạt phụ-thuộc kể trên, nên lắm khi vô-tình bắt-buộc người đọc phải hiểu sai hẳn hoặc không đầy-đủ những điều mình muốn tỏ-bày. Thậm-chí có khi người đọc dẫu cố gắng đến đâu vẫn không lãnh-hội được ý-tình của kẻ viết.
Sau đây là một số trường-hợp điển-hình.
Một học sinh Đệ Nhị A vào khoảng 1962-1963 viết trong bài Nghị-luận :
« Trong hiện-tại, đời sống chúng ta luôn-luôn bị chi-phối bởi tạo-hóa, dành cho ta ấm-no, sung-sướng là do một phần công-đức mà xưa kia ta đã làm hay đau-khổ, nghèo-đói cũng là một phần tội-ác mà ta đã gây ra » .
Đối với một học-sinh hay một người có biết qua về quan-niệm nhân-quả thông-thường trong văn-chương cổ-điển Việt-Nam nghĩa là, trong một phạm-vi nào đó, có trình-độ hiểu-biết ngang với người viết, ý-nghĩa của câu văn có thể cho là hiểu được. Đối với một giáo-sư Việt-văn hay một người có trình-độ văn-hóa cao hơn « tác giả », dĩ-nhiên ý-nghĩa của câu đã được lãnh-hội dễ-dàng.
Nhưng, một học sinh Đệ-Ngũ chẳng hạn sẽ không hiểu người viết muốn nói những gì mặc dầu biết đầy-đủ ý-nghĩa của từng tiếng sử-dụng trong câu. Sở-dĩ như thế là vì, không kể những lỗi về lý-luận, không kể những tiếng dùng sai, người viết đã không tôn-trọng nhiều quy-tắc văn-phạm.
Chính sự vi-phạm nầy sẽ khiến người không biết trước được những điều học sinh muốn giãi-bày sẽ tự hỏi :
- Ai ? Cái gì dành cho ta ấm-no ? (đời sống hay tạo-hóa ?)
- Sao lại dành cho ta ấm-no mà không : cho ta được ấm-no ?
- Ta đã làm hay đau-khổ nghĩa là gì ?
- Cái gì cũng là một phần tội-ác mà ta đã gây ra ? (nếu cho rằng đau-khổ, nghèo-đói cũng là một phần tội-ác… điều ấy hiển-nhiên phi-lý !)
Riêng đối với kẻ đã biết trước những điều mà người viết muốn tỏ-bày, không cần dựa vào văn-phạm, họ cũng có thể hiểu ngay :
- Đời sống hiện-tại của chúng ta bị chi-phối bởi tạo-hóa.
- Tạo-hóa dành cho ta (sự) ấm no, sung-sướng do công đức (tại sao lại một phần ?) mà xưa kia (kiếp trước) ta đã làm.
- Tạo-hóa (dành cho ta) (sự) đau-khổ, nghèo-đói cũng (một phần) do tội-ác mà ta đã gây ra.
Người theo quan-niệm « tiếng Việt không cần văn-phạm » sẽ cho rằng câu văn kể trên có nhiều tiếng dùng sai, có những chỗ vụng-về, lủng-củng (Nhưng làm sao tránh được những khuyết-điểm ấy ? Trong mỗi câu các tiếng dùng sai, những chỗ vụng-về, lủng-củng đều một khác, lấy gì làm tiêu-chuẩn để tránh dùng sai tiếng, để khỏi viết vụng-về lủng-củng ?)
Dựa vào quy-tắc văn-phạm, ta có thể vừa vạch rõ các khuyết-điểm của câu (dĩ-nhiên chỉ về phương-diện văn-phạm) vừa đặt ra những nguyên-tắc để tránh các khuyết-điểm ấy.
- Động từ dành không thể có chủ ngữ hiểu ngầm, vì đã được đặt liền sau một mệnh-đề trong đó có hai danh-từ đời sống và tạo-hóa ý-nghĩa quan-trọng ngang nhau, cả hai đều có thể làm chủ-ngữ ẩn-thể cho động-từ ấy.
- Các tĩnh-từ ấm - no , sung - sướng không thể làm sự vật túc-ngữ của động-từ dành (cần phải chuyển-loại chúng thành danh-từ).
- Tập-hợp liên-từ hay dùng để liên-kết các từ-ngữ ấm-no, sung-sướng và đau-khổ, nghèo-đói ; không thể xen vào giữa tập-hợp liên-từ ấy và từ-ngữ ấm-no sung-sướng cả một loạt 2 mệnh đề (là do… đã làm).
- Giữa tình-trạng đau-khổ, nghèo-đói và danh từ tội-ác có một mối tương-quan nhân-quả ; không thể dùng động-từ thụ-trạng là (động-từ thích-ứng sẽ là do ).
Nếu viết chỉ là để tỏ cho người đọc thấy rằng mình có học những điều họ đã biết, thì người viết có thể không cần văn-phạm.
Nhưng một học-sinh viết không phải chỉ để tỏ rằng mình có thuộc bài ; bằng các bài viết, học-sinh phải chứng-tỏ rằng mình có học, có hiểu và biết suy-nghĩ. Hơn thế nữa, một học-sinh còn phải được rèn-luyện thế nào để sau nầy có đủ khả-năng dùng ngôn-ngữ giãi-bày cho người khác hiểu những điều mình đã học và đã nghĩ, những điều mà người khác có thể chưa biết hay đã biết và đã nghĩ khác mình.
Muốn được vậy, không thể theo quan niệm « nói thế nào, viết thế nào cũng được ».
Có lẽ vì quan-niệm rằng văn-phạm Việt-Nam quá giản-dị, người viết có thể tùy hứng của mình mà « phun châu nhả ngọc », một nhà trí-thức thượng-lưu, trong một trường-hợp khá long-trọng đã hạ-bút :
« Chúng tôi vận-động thiết-lập Hội… mục-đích đứng ở ngoài các đảng-phái chính-trị để nghiên cứu một cách khách-quan quan-hệ văn-hóa giữa dân-tộc Việt-Nam với dân-tộc Á-Châu và thế-giới cùng tình-hình văn-hóa của chung các dân-tộc ấy » .
Chắc-chắn người viết muốn nói rằng mục-đích của Hội… là nghiên cứu một cách khách-quan …
Nhưng do lỗi văn-phạm, câu văn đã khiến người đọc có thể hiểu rằng mục-đích của Hội… là đứng ở ngoài các đảng-phái chính-trị trước đã, rồi sau đó mới nghiên-cứu… (Giới-từ để chỉ mục-đích, chỉ một sự-kiện sẽ đến sau một hành-động đang thực-hiện).
Ngoài ra, trong đoạn văn-hóa của chung các dân-tộc ấy , tiếng chung có thể khiến hiểu lầm rằng văn-hóa là của chung là tài-sản chung của các dân tộc ấy.
Dĩ-nhiên, sự hiểu sai nầy không xảy ra cho những người có được một trình-độ lý-luận nào đó.
Nhưng, nếu ta quan-niệm rằng Việt-ngữ phải có đủ khả-năng để lý-luận, để biện-bác, để phô-diễn những chỗ tế-nhị của tư-tưởng, những ý-niệm tinh-xác của khoa học, ngay cả giữa những người trí-thức thượng-lưu với nhau, sự quá dễ-dãi về văn-phạm sẽ làm tổn-thương đến tác-dụng phô-diễn của ngôn-ngữ. Đến như việc bày-tỏ ý-kiến với những kẻ trình-độ lý-luận kém mình hoặc có lối suy-luận không giống như mình, người viết lại càng phải thận-trọng hơn về văn-phạm.
Người thông-hiểu quy-tắc văn-phạm bởi quá chủ-quan, bởi không tự đặt vào hoàn-cảnh của kẻ sẽ phải hiểu mình, vẫn có thể viết hoặc nói những câu tối nghĩa (tối nghĩa vì sai văn-phạm).
Sự chủ-quan cũng đưa đến kết-quả tai-hại không kém trong trường-hợp của người tìm hiểu văn-chương.
II. KHI ĐỌC VĂN
Để tìm vài thí-dụ điển-hình nhất, có thể kể trường-hợp của những học-giả mà thẩm-quyền về văn-chương, nhất là văn-chương cổ-điển, không còn ai chối-cãi nữa. Thế mà, chỉ vì không quan-tâm đúng mức đến văn-phạm, các học-giả ấy vẫn không tránh được sai-lầm trong một vài điều chú-giải :
Trong TRUYỆN THÚY-KIỀU của NGUYỄN-DU do BÙI-KỶ và TRẦN-TRỌNG-KIM hiện khảo 53 ở trang 57, điều chú thích (2), câu : « Sắc đành đòi một, tài đành họa hai » đã được giảng như sau :
Ý nói là tài cô Kiều thì họa có người nữa sánh ngang với được chứ sắc thì thật không ai bằng.
Tiếng họa trong lời chú-thích có nghĩa là họa-chăng, họa-may, may ra. Và như vậy người chú-giải tất-nhiên khiến kẻ khác thấy rằng mình đã hiểu tiếng họa trong câu thơ của Nguyễn-Du theo nghĩa ấy.
Thật ra, tiếng họa ở đây là hòa , có nghĩa hòa-hợp, tương-xứng với…
Nhiều bản chú-giải Truyện Kiều đáng tín-nhiệm đã viết : « Sắc đành đòi một tài đành hòa hai » .
Chắc-chắn câu thích-nghĩa kể trên đã do sự chủ-quan tạo nên bởi ý-nghĩ rằng nàng Kiều là một « tuyệt thế giai nhân » : sắc ấy thì đã hẳn không ai bằng được !
Nhưng nếu chú-trọng đến văn-phạm nhiều hơn, ta sẽ thấy rằng tiếng họa trong câu thơ của Nguyễn-Du không thể hiểu theo nghĩa họa chăng và lời chú kể trên, đối với câu thơ, đã gần như phản-nghĩa.
Về văn-phạm, câu thơ gồm hai mệnh-đề độc-lập tịnh-trí.
- Sắc đành đòi một : chủ-ngữ ; sắc : tuyên-ngữ ; động-từ đòi có bổ-túc-ngữ một và trạng-từ đành (theo nghĩa đã đành , đã hẳn chỉ sự xác-định).
- Tài đành họa hai : chủ ngữ : tài ; tuyên-ngữ : đành họa hai .
Nếu hiểu theo nghĩa « họa chăng », tiếng họa sẽ là một trạng-từ chỉ sự hoài-nghi và tiếng đành sẽ phải là động-từ (với nghĩa cam nhận chịu : đành lòng) mới có thể làm tuyên-ngữ cho mệnh-đề.
Người chú-trọng đến văn-phạm sẽ thấy ngay rằng họa , trạng-từ chỉ sự hoài-nghi (với nghĩa họa chăng ), không bao giờ đứng sau động-từ (sau động-từ đành theo cách giảng đã kể) mà luôn-luôn đứng trước động-từ được nó thêm nghĩa, hoặc đứng trước cả chủ-ngữ của động-từ ấy.
Ta nói : Sự kiên-nhẫn họa chăng sẽ giúp anh thành công.
Hay : Với một phương - pháp khác họa chăng anh sẽ thành - công.
Và không thể nói : Sự kiên - nhẫn sẽ giúp anh thành - công họa chăng ; Sự kiên-nhẫn sẽ giúp họa chăng anh thành-công.
Hoặc : Với một phương-pháp khác anh sẽ thành-công họa chăng.
Vậy, giảng như đã kể là sai quy-tắc văn-phạm.
Người thích-nghĩa mặc dầu dùng tiếng họa với nghĩa họa chăng ở câu chú-thích vẫn có thể hiểu tiếng họa trong câu thơ theo nghĩa hòa, hòa - hợp :
Về sắc thì chỉ có một nàng Kiều được như thế không ai bì kịp ; về tài nàng còn có thể hòa với, ngang hàng với một kẻ thứ hai.
Nhưng giảng theo cách nầy vẫn chưa hết sai văn-phạm. Cái lỗi sẽ chuyển sang cách hiểu trạng-từ đành .
Câu thơ vẫn gồm hai mệnh-đề :
- Sắc đành đòi một : tuyên-ngữ do động-từ đòi làm cốt.
- Tài đành họa hai : tuyên-ngữ do động-từ họa làm cốt.
Và như thế, trạng-từ đành đặt vào hai vị-trí đối-ứng với nhau trong hai mệnh-đề có cấu-thức và tác-dụng hoàn-toàn tương-đồng, lại có hai nghĩa trái-ngược nhau : trong mệnh-đề 1, đành sẽ chỉ sự xác-định ( đã đành, đã hẳn ), trong mệnh-đề 2, đành lại chỉ sự hoài-nghi ( họa chăng, có lẽ ).
Đúng ra, trong câu thơ của Nguyễn-Du tiếng đành ở cả hai vế chỉ có một nghĩa duy-nhất (chỉ sự xác-định = đã đành, đã hẳn) và đã được lặp lại, cốt để nhấn-mạnh trên ý-nghĩa ấy. Với những màu-sắc ý-nghĩa tương-đối rất gần nhau, hai động-từ đòi và hòa trong câu đều có thể hiểu là : tương-xứng với. Một và hai không có ý-nghĩa về thứ-bậc mà lại có ý-nghĩa về số-lượng :
Đã đành rằng sắc nàng tương-xứng với một mà tài nàng lại tương-xứng với hai, sắc nàng một phần thì tài nàng phải kể là hai phần .
Cách hiểu theo đúng văn-phạm nầy được xác-nhận do thi-pháp, do mạch-lạc của đoạn-văn cũng như do chủ-đề của tác-phẩm :
Về thi-pháp, câu thơ 8 chữ của Nguyễn-Du chia làm hai vế đối nhau (đối về ý, về loại tiếng, nghĩa tiếng nhưng không thể đối về thinh, theo lề-lối thường áp-dụng trong thơ lục-bát)
- Sắc danh-từ đối với tài danh-từ.
- Đành , trạng-từ xác-định, ứng với đành , cùng từ-loại.
- Đòi động-từ đối với họa cùng từ-loại ( họa theo nghĩa hòa hợp , đối-ứng với …)
Vậy là không thể có tiếng họa theo nghĩa họa-chăng . Cũng không thể có việc hai tiếng đành trong hai vế thuộc hai từ-loại khác nhau.
Về mạch-lạc đoạn-văn :
1. Kiều càng sắc-sảo mặn-mà.
2. So bề tài-sắc lại là phần hơn.
3. Làn thu-thủy, nét xuân-sơn,
4. Hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh.
5. Một hai nghiêng nước nghiêng thành,
6. Sắc đành đòi một tài đành họa hai.
7. Thông-minh vốn sẵn tính trời,
8. Pha nghề thi họa, đủ mùi ca ngâm ;
9. Cung thương, làu bậc ngũ-âm,
10. Nghề riêng ăn-đứt hồ-cầm một chương,
11. Khúc nhà tay lựa nên trương,
12. Một thiên bạc-mệnh lại càng não-nhân.
Trong đoạn 12 câu thơ vừa kể, Nguyễn-Du tả sắc và tài của Thúy-Kiều :
Câu 1 đến câu 5 : Sắc.
Câu 7 đến câu 12 : Tài.
Câu Sắc đành đòi một tài đành họa hai là một câu chuyển-mạch. Sau khi giới-thiệu nhan-sắc và trước khi giới-thiệu tài-năng của Thúy-Kiều, Nguyễn-Du đã so-sánh sắc và tài của nhân-vật ấy. Độ dài của hai phần kế-tiếp và các chi-tiết được trình-bày trong mỗi phần cho thấy rõ tác-giả chú trọng đến tài nhiều hơn sắc : đành rằng Thúy-Kiều là một « tuyệt-thế-giai-nhân » thật đấy, nhưng nếu đem sắc nàng mà đối-chiếu với tài thì sắc một phần tài phải 2 phần. Chính vì vậy mà trước khi nói nhiều đến tài của Kiều, Nguyễn-Du đã chuyển-mạch bằng cách nhấn mạnh ở tỷ lệ 1/2 giữa hai yếu-tố sắc-tài của nàng Thúy.
Nếu quả tài nàng Kiều « họa có người nữa sánh ngang với được, chứ sắc thì thật không ai bằng », thi-sĩ sẽ nói đến sắc sau khi đã giới-thiệu về tài hoặc sẽ trình-bày nhận-xét nầy trong phần kết-luận. Nếu quả đúng như lời chú-giải, cách chuyển-mạch cũng như bố-cục đoạn văn sẽ hóa vụng-về. Dựa vào bố-cục rất rõ-ràng khéo-léo của đoạn giới-thiệu Thúy-Vân rồi mới đến Thúy-Kiều, ta không tin rằng một sự vụng-về như thế lại có thể có được ở tác-giả Đoạn-Trường Tân-Thanh .
Chắc-chắn người chú-giải đã có nghĩ đến vấn-đề kỹ-thuật chuyển-mạch vừa trình-bày nên đã đảo-ngược trật-tự của câu :
Sắc đành đòi một, tài đành họa hai , để giảng rằng :
Tài cô Kiều thì họa có người nữa sánh ngang với được, chứ sắc thì thật không ai bằng.
Sau cùng, căn-cứ vào chủ-đề của tác-phẩm, ta thấy rằng nhấn mạnh về tài của Thúy-Kiều là điều hợp-lý. Trong đoạn mở đầu, Nguyễn-Du đã viết :
Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau .
Đành rằng Thúy-Kiều đẹp « nghiêng nước nghiêng thành », nhưng trong tác-phẩm nàng là điển-hình của hạng người có tài hơn là hạng người có sắc.
Trong Thi-Văn Việt-Nam (từ đời Trần đến cuối đời Mạc) do Hoàng-xuân-Hãn biên-tập và trích-dẫn, Nghiêm-Toản chú-thích 54 , về bài Viễn-phố qui phàm trong Tiêu-Tương bát cảnh có câu chú-giải sau đây :
- Lèo ăn gió dầu dùi-thẳng ,
- Cánh bíu mây mặc lộng khơi
Dầu dùi-thẳng : Dùi thẳng cũng nói là dùi-dẳng hay dùi-dắng nghĩa là không quyết-định một phương nào (Kiều có câu : Khi vào dùi-thẳng khi ra vội-vàng). Đây nghĩa là mặc dầu theo chiều gió mà lượn qua lại.
Định-nghĩa tiếng dùi-thẳng đúng theo cách giảng của Đại-Nam Quấc-Âm Tự-Vị (Huỳnh-Tịnh Paulus Của, ấn-bản của Imprimerie Rey, Curiol et Cie, Sàigòn. Năm 1895) :
Dùi-thẳng : chìu theo sự thế, lần hồi, không quyết bề nào.
Chú-thích-gia còn cẩn-thận viện-dẫn câu của Truyện Kiều để biện-minh cho cách giảng của mình.
Nhưng người đọc thấy không thỏa-mãn, nhất là với câu tóm-kết của lời chú-giải : Đây nghĩa là mặc dầu theo chiều gió mà lượn qua, lại.
Hai câu thơ dẫn trên là cặp trạng của bài thơ Đường-luật đã kể.
Nếu hiểu theo chú-thích-gia, ý của hai câu 3 và 4 sẽ trùng-điệp với nhau.
Trong câu 4, các chú-thích (7) và (8), vẫn ở trang 86 của sách đã dẫn, cho biết :
- Lộng : Phía nước gần bờ
- Khơi : Phía nước xa bờ
(Đối-chiếu với Đại-Nam Quấc-Âm Tự-Vị : Vào lộng ra khơi : vào dựa mé, ra ngoài khơi).
Vậy hai câu thơ 3 và 4 có nghĩa là :
- vì được gió, đúng hướng gió thổi (vẫn theo lời chú-thích trong sách đã dẫn) nên thuyền mặc-tình lượn qua lượn lại.
- Bởi cánh buồm bám lấy mây, gió xuôi thuận nên tùy ý cho thuyền vào lộng hoặc ra khơi.
Ý trùng-điệp, vì cả hai câu đều sẽ có nghĩa thuyền mặc-tình theo hướng nào cũng được.
Mặt khác, nếu hiểu theo lời chú-thích trên, hai câu trạng sẽ đối không chỉnh :
- Dùi-thẳng là tiếng ghép : lộng và khơi là tiếng đơn, không thể đối với nhau.
- Dùi thẳng là một tĩnh-từ duy-nhất không thể đối với lộng và khơi là hai trạng-từ chỉ thể-cách (cũng có thể được kể như dùng làm động-từ).
Đành rằng các thi-sĩ của thời nho-học chỉ phân biệt các loại tiếng làm thực-tự, hư-tự, bán-thực-tự, bán-hư-tự, nhưng trong văn-chương cổ-điển, rất ít khi thấy những tiếng mà nay ta gọi là tĩnh-từ đối với những tiếng mà nay ta gọi là trạng-từ hoặc động-từ.
Trước hết, người có ý-thức văn-phạm vững-chắc sẽ ĐỂ Ý rằng trong Hồng-Đức Quốc-Âm Thi-Tập (xuất-xứ của bài thơ kể trên) không thể có cái gạch nối giữa hai chữ nôm dùi-thẳng cũng như không thể có cái phết giữa hai chữ nôm lộng khơi . Vậy, hiểu rằng dùi-thẳng (cũng như lộng khơi) là một tiếng ghép hoặc là hai tiếng đơn, điều ấy hoàn-toàn do các nhà biên-soạn và chú-giải.
Ta đành phải dựa vào ý-tứ, văn-phạm và thi-pháp mà hiểu thế nào cho hợp-lý.
Về ý-tứ và thi-pháp, ta đã thấy rằng xem dùi thẳng như một tĩnh-từ ghép là điều không ổn.
Về văn-phạm, ý-nghĩa của các tiếng dùi-thẳng bị chi-phối bởi tiếng dầu ở trước. Vậy, hãy tìm xem nghĩa của tiếng ấy thời xưa :
Trong Đại-Nam Quấc-Âm Tự-Vị , ở phần định-nghĩa tiếng Dầu , ta thấy :
- Dầu lòng : mặc ý, mặc-thích.
- Mặc dầu : mặc lòng, mặc tình.
Ở phần định-nghĩa tiếng Mặc , ta có :
Mặc lòng, Mặc tình, Mặc thích : Tùy ý, thong-thả, không cãi ý.
(Lời soạn-giả : thong-thả ở đây hiểu theo nghĩa : tự-do, không bị ràng-buộc chỗ nào cả).
Vậy, dầu trong câu 3 và mặc trong câu 4 đều là những hình-thức rút gọn của mặc dầu , một tĩnh-từ xưa đồng nghĩa với các tĩnh-từ mặc-tình , tùy-ý ngày nay.
Nếu hiểu dùi-thẳng là một tĩnh-từ, phần sau của câu 3 sẽ có nghĩa :
Người đi thuyền được mặc-tình dùi-thẳng nghĩa là cứ tùy-ý trong tình-trạng không nhất-quyết một phương nào .
Ý-nghĩa của tiếng dù ( mặc dù ) sẽ thừa, vì đã được dùi-thẳng , đã ở trong tình-trạng không nhất-quyết theo một phương-hướng nào, tất đã được mặc-ý rồi. Ý-nghĩa tiếng dùi-thẳng hiểu là một tĩnh-từ duy-nhất đã bao-hàm sẵn ý-nghĩa tiếng dầu ( mặc-dầu ).
Vậy, đúng theo phép đối trong 2 câu trạng của bài thơ Đường-luật, ta thử tìm hiểu :
Câu 3 : mặc-tình dùi hay thẳng.
Câu 4 : mặc-tình lộng hoặc khơi .
Nếu ý-nghĩa của các tiếng dùi và thẳng cho phép hiểu như vậy, thì đó là cách hiểu hợp-lý nhất.
Đại-Nam Quấc-Âm Tự-Vị nhân định-nghĩa tiếng Dùi , có ghi :
Dây dùi : dây dùn, dây không săn, không thẳng .
Do đó, câu Lèo ăn gió dầu dùi thẳng có nghĩa : vì buồm ăn gió nên thuyền mặc-tình đi lèo dùi hay lèo thẳng , nghĩa là thả dây lèo dùi cho buồm bọc gió ít hay kéo dây lèo thẳng cho buồm bọc gió nhiều, để đi chậm hoặc đi mau.
Để xác-nhận ý-nghĩa vừa tìm được, ta có thể kể câu ca-dao :
« Thuyền anh mỏng ván, bóng láng, nhẹ chèo.
Xin anh bớt ngọn, thả lèo chờ em » .
Ta càng quả-quyết hiểu theo cách vừa tìm được, vì hiểu như thế ý của hai câu thơ lại đối nhau rất chỉnh (thay vì trùng-điệp, như trong lời chú-giải kể trên)
Câu 3 : Vì thuận buồm nên thuyền mặc-tình để lèo dùi hay lèo thẳng (đi chậm hoặc đi mau).
Câu 4 : Vì xuôi gió nên thuyền tùy-ý vào lộng hoặc ra khơi (đi cặp theo bờ hoặc tách xa bờ).
Trong các trường-hợp vừa kể, văn-phạm không phải là yếu-tố độc-nhất giúp ta tìm-hiểu văn-chương, nhưng nó vẫn giữ một vai trò trọng-yếu bên cạnh các yếu-tố ý-nghĩa từ-ngữ, mạch-lạc đoạn văn và thi-pháp.