Văn Phạm Việt Nam Giản Dị Và Thực Dụng

Lượt đọc: 415 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 1
câu một mệnh-đề
i. ý-nghĩa và thành-phần

Trong câu nói giản-dị nhất, ta giải một ý duy-nhất về một hoặc nhiều người hay vật : ta lập-thành một mệnh-đề.

Để làm nên một câu như thế, ta phải :

- Cho biết người hay vật được nói đến

- Trình-bày một việc xảy ra cho người hay vật ấy hoặc một ý-kiến của ta về người hay vật ấy.

Do đó, một mệnh-đề gồm có hai phần :

- Chủ-ngữ : chỉ người hay vật được nói đến.

- Tuyên-ngữ : những gì để nói về người hay vật ấy.

Ví-dụ :

- Tôi đọc sách. ( Tôi : chủ ngữ ; đọc sách : tuyên-ngữ).

- Loài hoa ấy rất quí. ( Loài hoa ấy : chủ ngữ ; rất quí : tuyên-ngữ)

II. CHỦ-NGỮ VÀ TUYÊN-NGỮ

1) CHỦ-NGỮ

Chủ-ngữ của một mệnh-đề có thể là một danh-từ, một đại-danh-từ, một động-từ hay một tĩnh-từ.

- DANH-TỪ : Người làm ruộng vác cuốc ra đồng.

- ĐẠI-DANH-TỪ : Tôi vẫn biết việc ấy rất khó-khăn.

- ĐỘNG-TỪ : Sống tức là tranh-đấu.

- TĨNH-TỪ : Nghèo không phải là cái tội.

*

CHỦ NGỮ HIỂU NGẦM : Trong vài trường-hợp, chủ-ngữ không nói ra mà vẫn hiểu được ; đó là chủ-ngữ hiểu-ngầm (hay ẩn thể) : « Trước đèn xem truyện Tây-Minh… » (Lục-Vân-Tiên)

Ta hiểu ngầm rằng chủ-ngữ, người xem truyện… là tác-giả : Không cần bàn-cãi nữa.

Hiểu-ngầm chủ-ngữ « chúng ta » : « Cuộc đời của gia-đình bác Lê cứ như thế mà lặng lẽ qua, ngày no rồi lại ngày đói. Tuy vậy cũng có những ngày vui-vẻ ». (Thạch-Lam)

Trong câu thứ nhì, hiểu ngầm chủ-ngữ « cuộc đời ấy »

Thường động-từ không cần chủ-ngữ.

*

NHẬN-XÉT : Nói chung, chủ-ngữ của một mệnh-đề đơn-độc có thể được hiểu ngầm khi nào chủ-ngữ ấy chính là người đang nói hoặc khi nào đó là người hay vật mà không nói ra ta cũng đã biết rõ.

Các trường-hợp thông-thường của chủ-ngữ hiểu ngầm :

a) Câu biểu-diễn một hành-động hay một sự-kiện được xem như một thực-tế phổ-biến : Ăn cỗ đi trước, lội nước đi sau.

Chủ-ngữ có thể hiểu ngầm là : người ta, thiên hạ, một số người nào đó .

b) Câu nói thân-mật : Hai người bạn thân trò-chuyện với nhau :

- Đi dạo nhé !

- Không, còn bận làm bài.

- Thôi, không rủ nữa, cứ ở đấy mà học.

Hiểu ngầm :

- Chúng ta đi dạo nhé.

- Không, tôi còn bận làm bài.

- Thôi, tôi không rủ nữa ; anh cứ ở đấy mà học.

c) Chủ-ngữ của câu chính là tác-giả :

- Lời quê góp nhặt dông-dài… (Đoạn-Trường Tân-Thanh)

Hiểu ngầm : Lời quê tôi góp nhặt dông-dài.

d) Chủ-ngữ là nhân-vật chính của một câu chuyện đang kể :

- Sè-sè nấm đất bên đàng ;

Rầu-rầu ngọn cỏ nửa vàng nửa xanh.

Rằng : « Sao trong tiết Thanh-Minh

Mà đây hương-khói vắng-tanh thế mà ?

(Đoạn-Trường Tân-Thanh)

Hiểu ngầm : …Nàng (tức Thúy-Kiều) hỏi rằng :…

2) TUYÊN-NGỮ

Tuyên-ngữ của một mệnh-đề có thể là :

a) MỘT ĐỘNG-TỪ (viên-ý hoặc khuyết-ý) VỚI TẤT CẢ NHỮNG TRẠNG-TỪ HẠN-ĐỊNH NÓ VÀ TẤT CẢ CÁC TÚC-NGỮ CỦA NÓ :

- Trăm năm trong cõi người ta,

Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau.

(Truyện Kiều)

Tuyên-ngữ gồm có :

- Động từ : ghét .

- một trạng-từ chỉ sự tương-hỗ : nhau .

- một trạng-từ chỉ thế-cách : khéo là .

- một túc-ngữ chỉ thời gian : trăm năm .

- một túc-ngữ chỉ nơi-chốn : trong cõi người ta .

b) MỘT TĨNH-TỪ ĐƠN-ĐỘC : Mịt-mù dặm cát đồi cây.

c) MỘT TĨNH-TỪ VỚI NHỮNG TRẠNG-TỪ VÀ TÚC-NGỮ CỦA NÓ : Anh ấy giỏi hơn tôi nhiều.

Tuyên-ngữ gồm có :

- Một tĩnh-từ dùng theo tỷ-hiệu đẳng-cấp : giỏi hơn ;

- một túc-ngữ của tĩnh-từ : tôi ;

- một trạng-từ chỉ số-lượng : nhiều .

CHÚ-Ý : Đây là một điểm dị-đồng quan-trọng giữa mệnh-đề tiếng Việt và mệnh-đề trong Pháp-ngữ, Anh-ngữ chẳng hạn. Trong mệnh-đề tiếng Việt ở trường-hợp nầy, tĩnh-từ không cần được một động-từ thụ-trạng (tiếng Pháp : verbe d’état) gán vào cho chủ-ngữ.

d) MỘT ĐỘNG-TỪ THỤ-TRẠNG VÀ THUỘC-NGỮ CỦA CHỦ-TỪ : Người ấy là bạn của chúng ta. ( Bạn : thuộc-ngữ của chủ-ngữ người ấy ).

*

ĐỘNG-TỪ HIỂU NGẦM : Đôi khi, trong một mệnh-đề chỉ có chủ-ngữ và túc-ngữ hay thuộc-ngữ : động-từ được hiểu ngầm :

- Rêu xanh mấy lớp chung-quanh.

(Chinh-Phụ Ngâm-Khúc)

- chủ-ngữ : rêu xanh.

- túc-ngữ : mấy lớp chung-quanh.

Ta hiểu ngầm : « Rêu xanh đã trải mấy lớp chung-quanh ».

III. CÁC THỨ TÚC-NGỮ

1 ) TÚC-NGỮ CỦA DANH-TỪ

Giữa danh-từ và túc-ngữ của nó thường có một giới-từ nói ra hoặc hiểu ngầm. Túc-ngữ của danh-từ có thể là :

- một danh-từ : Nhà anh Ất (hiểu ngầm giới-từ của ).

- một đại-danh-từ : Làng tôi (hiểu ngầm giới-từ của ).

- một động-từ : Nhà cho thuê (giới-từ cho ).

- một trạng-từ : Thế-hệ sau nầy (không cần giới-từ).

Các trạng-từ làm túc-ngữ cho một danh-từ là trạng-từ chỉ thời gian và không cần được một giới-từ nối lại với danh-từ (vì chúng có tác-dụng tĩnh-từ).

Tùy nơi ý-nghĩa của những giới-từ, túc-ngữ của danh-từ có thể biểu-diễn các ý sau đây :

a) Chỉ sự sở-hữu , biểu-diễn bởi giới-từ của :

- Lòng dân (hiểu ngầm của )

- Con bò của tôi.

b) Chỉ chất , với giới-từ bằng hiểu ngầm :

- Chuông đồng = chuông (bằng) đồng.

- Nón sắt = nón (bằng) sắt.

- Cặp da = cặp (bằng) da.

c) Chỉ vị-trí , với các giới-từ trên, dưới, trong, ngoài,

- Đêm lạnh trong tù.

- Tình trên hoang đảo.

- Nắng ngoài song.

d) Chỉ sự chứa-đựng , với những giới-từ chứa, đựng (động-từ biến-thành) :

- Bình đựng rượu (bình rượu)

- Hồ chứa nước (hồ nước).

e) Chỉ mục-đích, công-dụng, với giới-từ để :

- Nhà để bán

- Gác cho thuê (hiểu ngầm : để cho thuê )

*

NHẬN-XÉT :

1 ) Trong nhiều trường-hợp, giới-từ được hiểu ngầm giữa danh-từ và túc-ngữ của nó. Do đó, nếu túc-ngữ là một danh-từ ta sẽ có hai danh-từ đứng kề nhau như trường-hợp của một danh-từ có một loại-từ đứng trước (loại-từ vốn là danh-từ biến-thành).

Cần CHÚ-Ý để tránh lẫn-lộn :

- tờ giấy, hoa huệ, buồng cau ( giấy, huệ, cau, là những tiếng chính : tờ, hoa, buồng, đặt các danh-từ ấy để chỉ cái loại, cái thể : đó là những loại-từ).

- hồ nước, áo vải, dân thành, lương thợ : hồ, áo, dân, lương là những tiếng chính, nước, vải, thành, thợ là túc-ngữ của các danh-từ ấy. Ta hiểu ngầm : hồ chứa nước, áo bằng vải, dân thành, lương của thợ. (Nếu là loại-từ và danh-từ thì giữa hai tiếng ấy không có một giới-từ hiểu ngầm).

2 ) Nhiều danh-từ do động-từ biến-thành : các danh-từ ấy có thể có những túc-ngữ riêng của động-từ.

- Hy-sinh vì nước : nước túc-ngữ của động-từ hy-sinh

- Sự hy-sinh vì nước : nước túc-ngữ của danh-từ : sự hy-sinh.

- Họ mưu-toan thôn-tính nước ta : thôn-tính, túc-ngữ của động-từ mưu-toan.

- Mưu-toan thôn-tính ấy, chúng ta thấy rõ : ( thôn-tính túc-ngữ của danh-từ mưu-toan ).

PHỤ-THÍCH-NGỮ : Có khi để thêm nghĩa cho một danh-từ, ta dùng một hay nhiều tiếng đặt liền sau danh-từ ấy ; đó là phụ-thích-ngữ của danh-từ : Đó là làng tôi, một làng nho-nhỏ ở ven sông ( một làng nho-nhỏ ở ven sông : phụ-thích-ngữ của danh-từ làng đứng trước).

2 ) TÚC-NGỮ CỦA TĨNH-TỪ

Túc-ngữ của tĩnh-từ có thể là một danh-từ, một đại-danh-từ hay một động-từ :

- DANH-TỪ : Cái ly đầy nước.

- ĐẠI-DANH-TỪ : Đau-khổ vì chúng ta.

- ĐỘNG-TỪ : Tôi đã trót dại nghe các anh.

Ngoài những túc-ngữ cần-thiết để làm cho đủ nghĩa vài tĩnh-từ, các tĩnh-từ còn có thể có những túc-ngữ chỉ hoàn-cảnh : thời-gian, nơi-chốn, duyên-cớ, mục-đích…

- Nghèo-cực suốt đời (thời-gian).

- Đúng chỗ nầy , sai chỗ khác (nơi-chốn)

- Khỏe vì nước (duyên-cớ)

- Yên-lặng để nghe (mục-đích).

3 ) TÚC-NGỮ CỦA ĐỘNG-TỪ

Túc-ngữ của động-từ có thể là một danh-từ, một đại-danh-từ hay một động-từ khác. Động-từ có thể có các thứ túc-ngữ sau đây :

- Sự-vật túc-ngữ trực-tiếp hay gián-tiếp 48

- Phát-phó túc-ngữ.

- Tự-khởi và tương-hỗ túc-ngữ.

- Chủ-động túc-ngữ.

- Trường-hợp túc-ngữ (hay túc-ngữ chỉ hoàn-cảnh).

a) SỰ-VẬT TÚC-NGỮ : Sự-vật túc-ngữ chỉ người hay vật nhận chịu động-tác biểu diễn bởi động-từ. Nếu giữa động-từ và sự-vật túc-ngữ có một giới-từ, ta nói đó là một sự-vật túc-ngữ gián-tiếp. Nếu giữa động-từ và sự-vật túc-ngữ không có giới-từ, ta gọi đó là một sự-vật túc-ngữ trực-tiếp. Sự-vật túc-ngữ chỉ dùng cho các động-từ khuyết-ý. Ví-dụ :

- Tôi học bài (sự-vật túc-ngữ trực-tiếp).

- Tôi vẫn nghĩ đến các bạn (sự-vật túc-ngữ gián-tiếp).

b) PHÁT-PHÓ TÚC-NGỮ : Phát-phó túc-ngữ chỉ người hay vật được hưởng hay chịu thiệt trong hành-động biểu-diễn bởi động-từ :

- Bán cho tôi bó hoa này

- Tặng quà cho trẻ em.

Giữa phát-phó túc-ngữ và động-từ, thường có giới-từ cho. Nhưng trong nhiều trường-hợp giới-từ cho không cần-thiết :

- Tôi sẽ tặng anh quyển sách ấy

- Tôi cho một số tiền.

- Các bạn đã giúp tôi tất cả những phương-tiện.

Các động-từ có phát-phó túc-ngữ luôn-luôn cần một sự-vật túc ngữ trực-tiếp.

Ta có thể dựa vào đặc-tính nầy để phân-biệt phát-phó túc-ngữ (không có giới từ cho ) với sự-vật túc-ngữ trực-tiếp.

- Ông hỏi ai ?

- Người ấy đã giúp anh.

Ai anh là những sự-vật túc-ngữ trực-tiếp (ngoài các túc-ngữ ấy hỏi giúp không có một túc-ngữ nào khác).

- Ông hỏi anh ấy điều chi ?

- Những người ấy đã giúp chúng ta thi-hành kế-hoạch. ( anh ấy và chúng ta : phát-phó túc-ngữ ; điều thi hành : sự-vật túc-ngữ).

c ) CHỦ-ĐỘNG TÚC-NGỮ : Chủ-động túc-ngữ chỉ người hay vật chủ-động trong trạng-thái biểu-diễn bởi một động-từ thụ-thể.

- Giáp bị thầy phạt. ( Thầy : chủ-động túc-ngữ, chỉ người chủ-động trong trạng-thái bị phạt mà chủ-ngữ Giáp thụ-nhận).

Vị-trí đặc-biệt của chủ-động túc-ngữ :

- Nếu chủ-động túc-ngữ không dài quá, ta đặt túc-ngữ ấy giữa chủ-ngữ và động-từ thụ-thể mà không dùng giới-từ giữa hai tiếng : Anh bị các bạn đồng-hương chế-nhạo. (Không nên viết : anh bị chế-nhạo bởi các bạn đồng-hương )

- Nếu chủ-động túc-ngữ dài quá, ta để túc-ngữ ấy sau động-từ và biểu-diễn sự liên-hệ bằng giới-từ bởi .

Không thể viết : « Từ khi cha tôi bị quân giặc bạo-tàn chỉ gieo-rắc sự kinh-khủng trên mỗi bước đường của chúng giết… » Như thế động-từ thụ-trạng bị sẽ quá cách xa động-từ giết .

Để tránh khuyết-điểm này, ta sẽ viết : « Từ khi cha tôi bị giết bởi quân giặc bạo-tàn chỉ gieo-rắc sự kinh-khủng trên mỗi bước đường của chúng … »

- Trong trường-hợp không dùng các động-từ thụ-trạng bị , được … ta vẫn có thể dùng chủ-động túc-ngữ và biểu-diễn thụ-thể của động-từ bởi các giới-từ do , của :

- Việc ấy do các anh quyết-định ( quyết-định : động-từ thụ-thể ; các anh : chủ-động túc-ngữ).

- Nhà nầy của tôi cất ( cất : động-từ thụ-thể ; tôi : chủ-động túc-ngữ).

4) TRƯỜNG-HỢP TÚC-NGỮ

Trường-hợp túc-ngữ là những túc-ngữ chỉ các yếu-tố thuộc về hoàn-cảnh trong đó đã xảy ra việc do động-từ biểu-diễn. Các trường-hợp túc-ngữ có thể chỉ : thời-gian, nơi-chốn, duyên-cớ, hậu-quả, mục-đích, thể-cách, phương-tiện, sự so-sánh, sự đối-chọi, sự nhượng-bộ. Ví-dụ :

- Vì tằm phải chạy dâu ( tằm : túc-ngữ chỉ duyên-cớ)

- Ở đầu làng có một cây đa ( đầu làng : túc-ngữ chỉ nơi-chốn)

Trường-hợp túc-ngữ thường được nối với động-từ bởi một giới-từ. Nhưng trong nhiều trường-hợp giới-từ không cần-thiết hoặc để hiểu ngầm.

- Chiều chiều ra đứng bờ ao… (giới-từ không cần-thiết).

- Nàng ơi ! Ở lại nuôi con… (hiểu ngầm : ở lại để nuôi con).

5) TỰ-KHỞI TÚC-NGỮ

Khi chủ-ngữ của một động-từ được lặp lại để làm sự-vật túc-ngữ cho chính động-từ ấy, ta gọi đó là một tự-khởi túc-ngữ :

- Mình khen mình

- Lòng dặn lòng chớ say bóng-sắc.

- Anh nên tự xét

- Tôi tự bảo…

*

CHÚ-Ý :

Trong trường-hợp tiếng tự được kết-hợp với một động-từ để làm tiếng ghép, không nên tách riêng tiếng ấy ra làm tự-khởi túc-ngữ của động-từ Hán-Việt đứng sau :

- tự-tử, tự-hạ, tự-hào… là những động-từ ghép.

- tự-thị, tự-kiêu, tự-đắc … là những tĩnh-từ ghép.

Có khi ý tự-khởi được biểu-diễn không phải bằng cách lặp lại chủ-ngữ mà bằng cách dùng trạng-từ lấy .

- Học lấy .

- Làm lấy .

- Viết lấy .

6) TƯƠNG-HỖ TÚC-NGỮ

Ý tương-hỗ thường được biểu-diễn bởi các tiếng nhau, lẫn nhau .

Việt-Nam Văn-phạm 49 cho rằng nhau , lẫn nhau là những đại-danh-từ.

Hợp-lý hơn, nhau là một trạng-từ chỉ sự tương-hỗ. Không thể cho đó là một đại-danh-từ vì tiếng ấy không có khả-năng thay-thế một danh-từ :

- Giáp vừa cãi nhau với Ất : ( nhau không thể thay-thế các danh-từ Giáp và Ất)

- Ta hãy giúp-đỡ lẫn nhau : ( lẫn nhau không thể thay-thế đại-danh-từ ta )

IV. THUỘC-NGỮ

Thuộc-ngữ 50 chỉ một tính-cách, một danh-nghĩa mà ta dùng một động-từ để gán vào cho người hay vật ; người hay vật ấy được biểu-diễn bởi một danh-từ hoặc một đại-danh-từ. Có hai thứ thuộc-ngữ :

1 ) THUỘC-NGỮ CỦA CHỦ-NGỮ : Tiếng được thuộc-ngữ thêm nghĩa là một chủ-ngữ :

- Anh là một nông-dân : ( nông-dân : thuộc-ngữ của chủ-ngữ anh ).

- Việc ấy kể như hoàn-thành : ( hoàn-thành : thuộc-ngữ của chủ-ngữ việc ).

2 ) THUỘC-NGỮ CỦA TÚC-NGỮ : Tiếng được thuộc-ngữ thêm nghĩa là một túc-ngữ :

- Tôi xem anh như ruột-thịt : ( ruột-thịt : thuộc-ngữ của túc-ngữ anh ).

- Cầm như chẳng đỗ những ngày còn xanh. (Đoạn-Trường Tân-Thanh) ( chẳng đỗ : thuộc-ngữ của túc-ngữ ngày còn xanh ).

V. MỆNH-ĐỀ TỈNH-LƯỢC

Trong khi trò chuyện, ta thường dùng một hoặc vài ba tiếng để thay-thế cho cả một mệnh-đề. Những tiếng được dùng như thế thường là những tiếng quan-trọng hơn hết của mệnh-đề ; các tiếng khác ta để hiểu ngầm. Đó là những mệnh-đề tỉnh-lược :

- Quyển sách ấy của ai ?

- Của tôi. ( Của tôi : mệnh-để tỉnh-lược. Hiểu ngầm : « Quyển cách ấy » của tôi ) .

- Anh thích đi dạo không ?

- Không. ( Không : mệnh-đề tỉnh-lược. Hiểu ngầm : « tôi » không « thích đi dạo »).

*

TÓM-TẮT : Câu đơn-giản nhất là câu có một mệnh-đề. Mệnh-đề là một tập-hợp những tiếng để diễn-tả trọn một ý về người hay vật. Mệnh-đề gồm có : chủ-ngữ và tuyên-ngữ :

Chủ-ngữ chỉ người hay vật được nói đến.

Tuyên-ngữ gồm tất cả những tiếng dùng để nói về chủ-ngữ.

Tuyên-ngữ có thể là một tĩnh-từ hoặc động-từ đơn-độc hay là tĩnh-từ hoặc động-từ có kèm theo những túc-ngữ và thuộc-ngữ.

Có nhiều thứ túc-ngữ : túc-ngữ của danh-từ, của tĩnh-từ và của động-từ. Riêng động-từ có thể có : sự-vật túc-ngữ, phát-phó túc-ngữ, chủ-động túc-ngữ, trường-hợp-túc-ngữ, tự-khởi túc-ngữ và tương-hỗ túc-ngữ. Thuộc-ngữ gồm có : thuộc-ngữ của chủ-ngữ và thuộc-ngữ của túc-ngữ.

Mệnh-đề tỉnh-lược là mệnh-đề chỉ gồm vài tiếng quan-trọng, các tiếng khác được hiểu ngầm.


Nguồn: TVE 4U
Được bạn:Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 18 tháng 11 năm 2025

« Lùi
Tiến »