Trong câu nói giản-dị nhất, ta giải một ý duy-nhất về một hoặc nhiều người hay vật : ta lập-thành một mệnh-đề.
Để làm nên một câu như thế, ta phải :
- Cho biết người hay vật được nói đến
- Trình-bày một việc xảy ra cho người hay vật ấy hoặc một ý-kiến của ta về người hay vật ấy.
Do đó, một mệnh-đề gồm có hai phần :
- Chủ-ngữ : chỉ người hay vật được nói đến.
- Tuyên-ngữ : những gì để nói về người hay vật ấy.
Ví-dụ :
- Tôi đọc sách. ( Tôi : chủ ngữ ; đọc sách : tuyên-ngữ).
- Loài hoa ấy rất quí. ( Loài hoa ấy : chủ ngữ ; rất quí : tuyên-ngữ)
II. CHỦ-NGỮ VÀ TUYÊN-NGỮ
1) CHỦ-NGỮ
Chủ-ngữ của một mệnh-đề có thể là một danh-từ, một đại-danh-từ, một động-từ hay một tĩnh-từ.
- DANH-TỪ : Người làm ruộng vác cuốc ra đồng.
- ĐẠI-DANH-TỪ : Tôi vẫn biết việc ấy rất khó-khăn.
- ĐỘNG-TỪ : Sống tức là tranh-đấu.
- TĨNH-TỪ : Nghèo không phải là cái tội.
*
CHỦ NGỮ HIỂU NGẦM : Trong vài trường-hợp, chủ-ngữ không nói ra mà vẫn hiểu được ; đó là chủ-ngữ hiểu-ngầm (hay ẩn thể) : « Trước đèn xem truyện Tây-Minh… » (Lục-Vân-Tiên)
Ta hiểu ngầm rằng chủ-ngữ, người xem truyện… là tác-giả : Không cần bàn-cãi nữa.
Hiểu-ngầm chủ-ngữ « chúng ta » : « Cuộc đời của gia-đình bác Lê cứ như thế mà lặng lẽ qua, ngày no rồi lại ngày đói. Tuy vậy cũng có những ngày vui-vẻ ». (Thạch-Lam)
Trong câu thứ nhì, hiểu ngầm chủ-ngữ « cuộc đời ấy »
Thường động-từ có không cần chủ-ngữ.
*
NHẬN-XÉT : Nói chung, chủ-ngữ của một mệnh-đề đơn-độc có thể được hiểu ngầm khi nào chủ-ngữ ấy chính là người đang nói hoặc khi nào đó là người hay vật mà không nói ra ta cũng đã biết rõ.
Các trường-hợp thông-thường của chủ-ngữ hiểu ngầm :
a) Câu biểu-diễn một hành-động hay một sự-kiện được xem như một thực-tế phổ-biến : Ăn cỗ đi trước, lội nước đi sau.
Chủ-ngữ có thể hiểu ngầm là : người ta, thiên hạ, một số người nào đó .
b) Câu nói thân-mật : Hai người bạn thân trò-chuyện với nhau :
- Đi dạo nhé !
- Không, còn bận làm bài.
- Thôi, không rủ nữa, cứ ở đấy mà học.
Hiểu ngầm :
- Chúng ta đi dạo nhé.
- Không, tôi còn bận làm bài.
- Thôi, tôi không rủ nữa ; anh cứ ở đấy mà học.
c) Chủ-ngữ của câu chính là tác-giả :
- Lời quê góp nhặt dông-dài… (Đoạn-Trường Tân-Thanh)
Hiểu ngầm : Lời quê tôi góp nhặt dông-dài.
d) Chủ-ngữ là nhân-vật chính của một câu chuyện đang kể :
- Sè-sè nấm đất bên đàng ;
Rầu-rầu ngọn cỏ nửa vàng nửa xanh.
Rằng : « Sao trong tiết Thanh-Minh
Mà đây hương-khói vắng-tanh thế mà ?
(Đoạn-Trường Tân-Thanh)
Hiểu ngầm : …Nàng (tức Thúy-Kiều) hỏi rằng :…
2) TUYÊN-NGỮ
Tuyên-ngữ của một mệnh-đề có thể là :
a) MỘT ĐỘNG-TỪ (viên-ý hoặc khuyết-ý) VỚI TẤT CẢ NHỮNG TRẠNG-TỪ HẠN-ĐỊNH NÓ VÀ TẤT CẢ CÁC TÚC-NGỮ CỦA NÓ :
- Trăm năm trong cõi người ta,
Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau.
(Truyện Kiều)
Tuyên-ngữ gồm có :
- Động từ : ghét .
- một trạng-từ chỉ sự tương-hỗ : nhau .
- một trạng-từ chỉ thế-cách : khéo là .
- một túc-ngữ chỉ thời gian : trăm năm .
- một túc-ngữ chỉ nơi-chốn : trong cõi người ta .
b) MỘT TĨNH-TỪ ĐƠN-ĐỘC : Mịt-mù dặm cát đồi cây.
c) MỘT TĨNH-TỪ VỚI NHỮNG TRẠNG-TỪ VÀ TÚC-NGỮ CỦA NÓ : Anh ấy giỏi hơn tôi nhiều.
Tuyên-ngữ gồm có :
- Một tĩnh-từ dùng theo tỷ-hiệu đẳng-cấp : giỏi hơn ;
- một túc-ngữ của tĩnh-từ : tôi ;
- một trạng-từ chỉ số-lượng : nhiều .
CHÚ-Ý : Đây là một điểm dị-đồng quan-trọng giữa mệnh-đề tiếng Việt và mệnh-đề trong Pháp-ngữ, Anh-ngữ chẳng hạn. Trong mệnh-đề tiếng Việt ở trường-hợp nầy, tĩnh-từ không cần được một động-từ thụ-trạng (tiếng Pháp : verbe d’état) gán vào cho chủ-ngữ.
d) MỘT ĐỘNG-TỪ THỤ-TRẠNG VÀ THUỘC-NGỮ CỦA CHỦ-TỪ : Người ấy là bạn của chúng ta. ( Bạn : thuộc-ngữ của chủ-ngữ người ấy ).
*
ĐỘNG-TỪ HIỂU NGẦM : Đôi khi, trong một mệnh-đề chỉ có chủ-ngữ và túc-ngữ hay thuộc-ngữ : động-từ được hiểu ngầm :
- Rêu xanh mấy lớp chung-quanh.
(Chinh-Phụ Ngâm-Khúc)
- chủ-ngữ : rêu xanh.
- túc-ngữ : mấy lớp chung-quanh.
Ta hiểu ngầm : « Rêu xanh đã trải mấy lớp chung-quanh ».
III. CÁC THỨ TÚC-NGỮ
1 ) TÚC-NGỮ CỦA DANH-TỪ
Giữa danh-từ và túc-ngữ của nó thường có một giới-từ nói ra hoặc hiểu ngầm. Túc-ngữ của danh-từ có thể là :
- một danh-từ : Nhà anh Ất (hiểu ngầm giới-từ của ).
- một đại-danh-từ : Làng tôi (hiểu ngầm giới-từ của ).
- một động-từ : Nhà cho thuê (giới-từ cho ).
- một trạng-từ : Thế-hệ sau nầy (không cần giới-từ).
Các trạng-từ làm túc-ngữ cho một danh-từ là trạng-từ chỉ thời gian và không cần được một giới-từ nối lại với danh-từ (vì chúng có tác-dụng tĩnh-từ).
Tùy nơi ý-nghĩa của những giới-từ, túc-ngữ của danh-từ có thể biểu-diễn các ý sau đây :
a) Chỉ sự sở-hữu , biểu-diễn bởi giới-từ của :
- Lòng dân (hiểu ngầm của )
- Con bò của tôi.
b) Chỉ chất , với giới-từ bằng hiểu ngầm :
- Chuông đồng = chuông (bằng) đồng.
- Nón sắt = nón (bằng) sắt.
- Cặp da = cặp (bằng) da.
c) Chỉ vị-trí , với các giới-từ trên, dưới, trong, ngoài,
- Đêm lạnh trong tù.
- Tình trên hoang đảo.
- Nắng ngoài song.
d) Chỉ sự chứa-đựng , với những giới-từ chứa, đựng (động-từ biến-thành) :
- Bình đựng rượu (bình rượu)
- Hồ chứa nước (hồ nước).
e) Chỉ mục-đích, công-dụng, với giới-từ để :
- Nhà để bán
- Gác cho thuê (hiểu ngầm : để cho thuê )
*
NHẬN-XÉT :
1 ) Trong nhiều trường-hợp, giới-từ được hiểu ngầm giữa danh-từ và túc-ngữ của nó. Do đó, nếu túc-ngữ là một danh-từ ta sẽ có hai danh-từ đứng kề nhau như trường-hợp của một danh-từ có một loại-từ đứng trước (loại-từ vốn là danh-từ biến-thành).
Cần CHÚ-Ý để tránh lẫn-lộn :
- tờ giấy, hoa huệ, buồng cau ( giấy, huệ, cau, là những tiếng chính : tờ, hoa, buồng, đặt các danh-từ ấy để chỉ cái loại, cái thể : đó là những loại-từ).
- hồ nước, áo vải, dân thành, lương thợ : hồ, áo, dân, lương là những tiếng chính, nước, vải, thành, thợ là túc-ngữ của các danh-từ ấy. Ta hiểu ngầm : hồ chứa nước, áo bằng vải, dân ở thành, lương của thợ. (Nếu là loại-từ và danh-từ thì giữa hai tiếng ấy không có một giới-từ hiểu ngầm).
2 ) Nhiều danh-từ do động-từ biến-thành : các danh-từ ấy có thể có những túc-ngữ riêng của động-từ.
- Hy-sinh vì nước : nước túc-ngữ của động-từ hy-sinh
- Sự hy-sinh vì nước : nước túc-ngữ của danh-từ : sự hy-sinh.
- Họ mưu-toan thôn-tính nước ta : thôn-tính, túc-ngữ của động-từ mưu-toan.
- Mưu-toan thôn-tính ấy, chúng ta thấy rõ : ( thôn-tính túc-ngữ của danh-từ mưu-toan ).
PHỤ-THÍCH-NGỮ : Có khi để thêm nghĩa cho một danh-từ, ta dùng một hay nhiều tiếng đặt liền sau danh-từ ấy ; đó là phụ-thích-ngữ của danh-từ : Đó là làng tôi, một làng nho-nhỏ ở ven sông ( một làng nho-nhỏ ở ven sông : phụ-thích-ngữ của danh-từ làng đứng trước).
2 ) TÚC-NGỮ CỦA TĨNH-TỪ
Túc-ngữ của tĩnh-từ có thể là một danh-từ, một đại-danh-từ hay một động-từ :
- DANH-TỪ : Cái ly đầy nước.
- ĐẠI-DANH-TỪ : Đau-khổ vì chúng ta.
- ĐỘNG-TỪ : Tôi đã trót dại nghe các anh.
Ngoài những túc-ngữ cần-thiết để làm cho đủ nghĩa vài tĩnh-từ, các tĩnh-từ còn có thể có những túc-ngữ chỉ hoàn-cảnh : thời-gian, nơi-chốn, duyên-cớ, mục-đích…
- Nghèo-cực suốt đời (thời-gian).
- Đúng chỗ nầy , sai chỗ khác (nơi-chốn)
- Khỏe vì nước (duyên-cớ)
- Yên-lặng để nghe (mục-đích).
3 ) TÚC-NGỮ CỦA ĐỘNG-TỪ
Túc-ngữ của động-từ có thể là một danh-từ, một đại-danh-từ hay một động-từ khác. Động-từ có thể có các thứ túc-ngữ sau đây :
- Sự-vật túc-ngữ trực-tiếp hay gián-tiếp 48
- Phát-phó túc-ngữ.
- Tự-khởi và tương-hỗ túc-ngữ.
- Chủ-động túc-ngữ.
- Trường-hợp túc-ngữ (hay túc-ngữ chỉ hoàn-cảnh).
a) SỰ-VẬT TÚC-NGỮ : Sự-vật túc-ngữ chỉ người hay vật nhận chịu động-tác biểu diễn bởi động-từ. Nếu giữa động-từ và sự-vật túc-ngữ có một giới-từ, ta nói đó là một sự-vật túc-ngữ gián-tiếp. Nếu giữa động-từ và sự-vật túc-ngữ không có giới-từ, ta gọi đó là một sự-vật túc-ngữ trực-tiếp. Sự-vật túc-ngữ chỉ dùng cho các động-từ khuyết-ý. Ví-dụ :
- Tôi học bài (sự-vật túc-ngữ trực-tiếp).
- Tôi vẫn nghĩ đến các bạn (sự-vật túc-ngữ gián-tiếp).
b) PHÁT-PHÓ TÚC-NGỮ : Phát-phó túc-ngữ chỉ người hay vật được hưởng hay chịu thiệt trong hành-động biểu-diễn bởi động-từ :
- Bán cho tôi bó hoa này
- Tặng quà cho trẻ em.
Giữa phát-phó túc-ngữ và động-từ, thường có giới-từ cho. Nhưng trong nhiều trường-hợp giới-từ cho không cần-thiết :
- Tôi sẽ tặng anh quyển sách ấy
- Tôi cho nó một số tiền.
- Các bạn đã giúp tôi tất cả những phương-tiện.
Các động-từ có phát-phó túc-ngữ luôn-luôn cần một sự-vật túc ngữ trực-tiếp.
Ta có thể dựa vào đặc-tính nầy để phân-biệt phát-phó túc-ngữ (không có giới từ cho ) với sự-vật túc-ngữ trực-tiếp.
- Ông hỏi ai ?
- Người ấy đã giúp anh.
Ai và anh là những sự-vật túc-ngữ trực-tiếp (ngoài các túc-ngữ ấy hỏi và giúp không có một túc-ngữ nào khác).
- Ông hỏi anh ấy điều chi ?
- Những người ấy đã giúp chúng ta thi-hành kế-hoạch. ( anh ấy và chúng ta : phát-phó túc-ngữ ; điều và thi hành : sự-vật túc-ngữ).
c ) CHỦ-ĐỘNG TÚC-NGỮ : Chủ-động túc-ngữ chỉ người hay vật chủ-động trong trạng-thái biểu-diễn bởi một động-từ thụ-thể.
- Giáp bị thầy phạt. ( Thầy : chủ-động túc-ngữ, chỉ người chủ-động trong trạng-thái bị phạt mà chủ-ngữ Giáp thụ-nhận).
Vị-trí đặc-biệt của chủ-động túc-ngữ :
- Nếu chủ-động túc-ngữ không dài quá, ta đặt túc-ngữ ấy giữa chủ-ngữ và động-từ thụ-thể mà không dùng giới-từ giữa hai tiếng : Anh bị các bạn đồng-hương chế-nhạo. (Không nên viết : anh bị chế-nhạo bởi các bạn đồng-hương )
- Nếu chủ-động túc-ngữ dài quá, ta để túc-ngữ ấy sau động-từ và biểu-diễn sự liên-hệ bằng giới-từ bởi .
Không thể viết : « Từ khi cha tôi bị quân giặc bạo-tàn chỉ gieo-rắc sự kinh-khủng trên mỗi bước đường của chúng giết… » Như thế động-từ thụ-trạng bị sẽ quá cách xa động-từ giết .
Để tránh khuyết-điểm này, ta sẽ viết : « Từ khi cha tôi bị giết bởi quân giặc bạo-tàn chỉ gieo-rắc sự kinh-khủng trên mỗi bước đường của chúng … »
- Trong trường-hợp không dùng các động-từ thụ-trạng bị , được … ta vẫn có thể dùng chủ-động túc-ngữ và biểu-diễn thụ-thể của động-từ bởi các giới-từ do , của :
- Việc ấy do các anh quyết-định ( quyết-định : động-từ thụ-thể ; các anh : chủ-động túc-ngữ).
- Nhà nầy của tôi cất ( cất : động-từ thụ-thể ; tôi : chủ-động túc-ngữ).
4) TRƯỜNG-HỢP TÚC-NGỮ
Trường-hợp túc-ngữ là những túc-ngữ chỉ các yếu-tố thuộc về hoàn-cảnh trong đó đã xảy ra việc do động-từ biểu-diễn. Các trường-hợp túc-ngữ có thể chỉ : thời-gian, nơi-chốn, duyên-cớ, hậu-quả, mục-đích, thể-cách, phương-tiện, sự so-sánh, sự đối-chọi, sự nhượng-bộ. Ví-dụ :
- Vì tằm phải chạy dâu ( tằm : túc-ngữ chỉ duyên-cớ)
- Ở đầu làng có một cây đa ( đầu làng : túc-ngữ chỉ nơi-chốn)
Trường-hợp túc-ngữ thường được nối với động-từ bởi một giới-từ. Nhưng trong nhiều trường-hợp giới-từ không cần-thiết hoặc để hiểu ngầm.
- Chiều chiều ra đứng bờ ao… (giới-từ không cần-thiết).
- Nàng ơi ! Ở lại nuôi con… (hiểu ngầm : ở lại để nuôi con).
5) TỰ-KHỞI TÚC-NGỮ
Khi chủ-ngữ của một động-từ được lặp lại để làm sự-vật túc-ngữ cho chính động-từ ấy, ta gọi đó là một tự-khởi túc-ngữ :
- Mình khen mình
- Lòng dặn lòng chớ say bóng-sắc.
- Anh nên tự xét
- Tôi tự bảo…
*
CHÚ-Ý :
Trong trường-hợp tiếng tự được kết-hợp với một động-từ để làm tiếng ghép, không nên tách riêng tiếng ấy ra làm tự-khởi túc-ngữ của động-từ Hán-Việt đứng sau :
- tự-tử, tự-hạ, tự-hào… là những động-từ ghép.
- tự-thị, tự-kiêu, tự-đắc … là những tĩnh-từ ghép.
Có khi ý tự-khởi được biểu-diễn không phải bằng cách lặp lại chủ-ngữ mà bằng cách dùng trạng-từ lấy .
- Học lấy .
- Làm lấy .
- Viết lấy .
6) TƯƠNG-HỖ TÚC-NGỮ
Ý tương-hỗ thường được biểu-diễn bởi các tiếng nhau, lẫn nhau .
Việt-Nam Văn-phạm 49 cho rằng nhau , lẫn nhau là những đại-danh-từ.
Hợp-lý hơn, nhau là một trạng-từ chỉ sự tương-hỗ. Không thể cho đó là một đại-danh-từ vì tiếng ấy không có khả-năng thay-thế một danh-từ :
- Giáp vừa cãi nhau với Ất : ( nhau không thể thay-thế các danh-từ Giáp và Ất)
- Ta hãy giúp-đỡ lẫn nhau : ( lẫn nhau không thể thay-thế đại-danh-từ ta )
IV. THUỘC-NGỮ
Thuộc-ngữ 50 chỉ một tính-cách, một danh-nghĩa mà ta dùng một động-từ để gán vào cho người hay vật ; người hay vật ấy được biểu-diễn bởi một danh-từ hoặc một đại-danh-từ. Có hai thứ thuộc-ngữ :
1 ) THUỘC-NGỮ CỦA CHỦ-NGỮ : Tiếng được thuộc-ngữ thêm nghĩa là một chủ-ngữ :
- Anh là một nông-dân : ( nông-dân : thuộc-ngữ của chủ-ngữ anh ).
- Việc ấy kể như hoàn-thành : ( hoàn-thành : thuộc-ngữ của chủ-ngữ việc ).
2 ) THUỘC-NGỮ CỦA TÚC-NGỮ : Tiếng được thuộc-ngữ thêm nghĩa là một túc-ngữ :
- Tôi xem anh như ruột-thịt : ( ruột-thịt : thuộc-ngữ của túc-ngữ anh ).
- Cầm như chẳng đỗ những ngày còn xanh. (Đoạn-Trường Tân-Thanh) ( chẳng đỗ : thuộc-ngữ của túc-ngữ ngày còn xanh ).
V. MỆNH-ĐỀ TỈNH-LƯỢC
Trong khi trò chuyện, ta thường dùng một hoặc vài ba tiếng để thay-thế cho cả một mệnh-đề. Những tiếng được dùng như thế thường là những tiếng quan-trọng hơn hết của mệnh-đề ; các tiếng khác ta để hiểu ngầm. Đó là những mệnh-đề tỉnh-lược :
- Quyển sách ấy của ai ?
- Của tôi. ( Của tôi : mệnh-để tỉnh-lược. Hiểu ngầm : « Quyển cách ấy » của tôi ) .
- Anh thích đi dạo không ?
- Không. ( Không : mệnh-đề tỉnh-lược. Hiểu ngầm : « tôi » không « thích đi dạo »).
*
TÓM-TẮT : Câu đơn-giản nhất là câu có một mệnh-đề. Mệnh-đề là một tập-hợp những tiếng để diễn-tả trọn một ý về người hay vật. Mệnh-đề gồm có : chủ-ngữ và tuyên-ngữ :
Chủ-ngữ chỉ người hay vật được nói đến.
Tuyên-ngữ gồm tất cả những tiếng dùng để nói về chủ-ngữ.
Tuyên-ngữ có thể là một tĩnh-từ hoặc động-từ đơn-độc hay là tĩnh-từ hoặc động-từ có kèm theo những túc-ngữ và thuộc-ngữ.
Có nhiều thứ túc-ngữ : túc-ngữ của danh-từ, của tĩnh-từ và của động-từ. Riêng động-từ có thể có : sự-vật túc-ngữ, phát-phó túc-ngữ, chủ-động túc-ngữ, trường-hợp-túc-ngữ, tự-khởi túc-ngữ và tương-hỗ túc-ngữ. Thuộc-ngữ gồm có : thuộc-ngữ của chủ-ngữ và thuộc-ngữ của túc-ngữ.
Mệnh-đề tỉnh-lược là mệnh-đề chỉ gồm vài tiếng quan-trọng, các tiếng khác được hiểu ngầm.