NHỮNG DẤU CHẤM CÂU LÀ : chấm, phết (hay phẩy), chấm phết, hai chấm, chấm hỏi, chấm nhểu ( hay chấm than), dấu ngoặc đơn, dấu ngoặc kép, gạch dài, ba chấm.
I . CHẤM (.)
Chấm đặt ở cuối một câu đã đủ nghĩa. Ví-dụ : « Với cô Tú, cuộc đời giờ đã hết tất cả xán-lạn rồi. Bởi vì đời đã sớm đòi-hỏi cô nhiều về bổn-phận. Cô nhất-định không đi lấy chồng và vui lòng sống vậy » . (Nguyễn-Tuân)
Mặc dầu có liên-từ bởi vì đứng đầu câu thứ nhì, ý của câu thứ nhất tự mình nó cũng đủ rồi. Liên-từ bởi vì chỉ diễn-giải một sự tiếp-nối ; câu thứ nhất không cần đến câu thứ nhì mới đủ nghĩa.
II . PHẾT (,)
Phết thường dùng để phân-chia những mệnh-đề hoặc những từ-ngữ đồng một nhiệm vụ với nhau ; ta cũng dùng cái phết sau một trường-hợp túc-ngữ của động-từ và sau một mệnh-đề phụ chỉ trường-hợp. Ví-dụ :
- Này chồng, này mẹ, này cha ;
Này là em ruột, này là em dâu.
(Đoạn-Trường Tân-Thanh)
Câu gồm có năm mệnh-đề độc-lập tịnh-trí ; ta để cái phết ở sau mỗi mệnh-đề (ba mệnh-đề ở câu đầu đều có động-từ là ẩn-thể).
- Trăng, sao, gió là những danh-từ. (Ta đã dùng cái phết để giữa các danh-từ trăng, sao, gió cùng làm chủ-ngữ của động-từ là ) .
- « Đột-nhiên, chàng như thấy thần chết đứng rình ở góc buồng, bộ xương trắng bệch nổi lên trong xó tối, cái lưỡi hái sáng quắc lăm-lẳm trong tay » . (Đỗ-đức-Thu) (Tác-giả đã để cái phết sau trạng-từ đột-nhiên, túc-ngữ chỉ thời-gian của động-từ thấy và trước các từ-ngữ bộ xương trắng-bệch nổi lên… cái lưỡi hái sáng quắc… những túc-ngữ chỉ thể-cách của động-từ đứng rình ) .
- « Sau khi con đã ngủ rồi, một mình nàng lại thao-thức canh khuya, nương thân với bóng ». (Nghiêm-Toản) (Giữa mệnh-đề phụ chỉ thời-gian sau khi con đã ngủ rồi và mệnh-đề chánh một mình nàng… tác-giả đã để cái phết).
III . CHẤM PHẾT (;)
Ta dùng chấm phết giữa hai phần của một câu dài. Mỗi phần đều đủ nghĩa nhưng giữa hai phần có một sự nối-tiếp với nhau rõ-rệt. Ví-dụ : « Nàng hạ mâm cơm cúng xuống, xới cơm nóng mời chồng ăn ; chàng không động đũa, cơm trong bát nguội dần ; nàng ngồi đợi, lặng im, nỗi chua-xót thật là vô-hạn » . (Nghiêm-Toản)
ĐỂ Ý : Trong khi đọc, sau cái chấm phết, ta ngừng lâu hơn sau cái phết nhưng mau hơn sau cái chấm.
IV. HAI CHẤM (:)
Hai chấm dùng giữa hai phần câu, khi nào phần sau chỉ một sự giải-thích hay một hậu-quả của phần trước. Ví-dụ :
- « Bác nhớ lại cảnh sang-trọng ấm-cúng trong nhà ông Bá : những chậu sứ, câu đối thếp vàng sáng-chói » . (Thạch-Lam) (Phần thứ nhì của câu giải-thích các danh-từ ghép cảnh sang trọng ấm-cúng trong phần thứ nhất).
- « Đến đêm chàng thắp đèn : ở trên tường bóng hiện ra ». (Nghiêm-Toản) (Phần thứ nhì chỉ một hậu-quả của việc được trình-bày trong phần thứ nhất).
V . CHẤM HỎI (?)
Ta để chấm hỏi sau tất cả các câu hỏi, trừ trường-hợp của các câu nghi-vấn gián-tiếp. Ví-dụ :
- Việc gì thế ? (câu nghi-vấn trực-tiếp).
- Ông X… biển-thủ công-nho ?
VI . CHẤM NHỂU (!)
- Ta dùng chấm nhểu sau một câu chứa-đựng nhiều tình-cảm (buồn, vui, nhớ, tiếc, giận…) sau một mệnh-lệnh vắn-tắt hay sau một thán-từ.
- Trăm năm còn có gì đâu ;
Chẳng qua một nấm cỏ khâu xanh rì !
(Cung-Oán Ngâm-Khúc)
Nếu không có chấm nhểu thì ta chỉ trình-bày một sự nhận-xét khách quan.
Thêm chấm nhểu, ta đã thêm vào sự nhận-xét một sự buồn-thương cho số-phận con người.
- Hãm lại, hãm ngay lại !
- Hỡi ôi ! Thương thay ! (những cảm-thán-từ)
- Trời ôi ! Sao tôi khổ thế này ? (sau một giao-thán-từ)
- Đoành ! Đoành ! Súng nổ… (sau những hài-thinh thán-từ)
VII . DẤU NGOẶC ĐƠN (…)
Khi muốn giải-thích một phần nào của một câu nói mà sự giải-thích ấy không trực-tiếp lệ-thuộc vào ý của câu thì ta để những lời giải-thích vào giữa hai dấu ngoặc đơn. Ví-dụ : « Tôi vẫn ghi tâm chuyện xưa, ngươi Địch-Thông cho sự « sinh nhi bất văn quá » (trong đời mà không nghe ai chỉ điều lỗi cho mình) là một sự không may. (Hoàng-xuân-Hãn)
Lời giải-thích trong đời mà không nghe ai chỉ điều lỗi cho mình không cần-thiết cho mạch-lạc câu văn, nghĩa là về phương-diện văn-pháp ; nên tác-giả đã để nó vào giữa hai dấu ngoặc đơn.
VIII . DẤU NGOẶC KÉP (« … »)
Ta dùng dấu ngoặc kép khi nhắc lại nguyên-văn lời nói của một nhân-vật trong lúc kể chuyện, hoặc khi dùng những từ-ngữ không phải là của mình. Ví-dụ :
- Trước khi nhắm mắt, mẹ tôi gọi tôi đến gần trối lại : « Khải ! Con trông gương cha con đấy ! Con hãy thề cùng mẹ không bao giờ uống rượu ».
- Kết-tập thành đoàn, ta sẽ có một lực-lượng tăng theo cấp-số nhân, làm nổi những việc « lấp biển, vá trời » vì đúng như lời tục « góp gió nhỏ làm ra bão lớn » (Nghiêm-Toản)
IX. GẠCH DÀI (–) và (– … –)
Một gạch dài đặt ở đầu câu chỉ sự thay-đổi nhân-vật trong một cuộc đối-thoại. Hai gạch dài để ở đầu và cuối một đoạn của câu, khi nào đó là một đoạn dùng để giải-thích một tiếng hay một mệnh-đề. Công-dụng của hai gạch dài tương-tợ như dấu ngoặc đơn. Nhưng ta thường dùng hai gạch dài khi muốn chỉ rằng ý-nghĩa của đoạn ở giữa, mặc dầu không quan-hệ đến mạch-lạc của toàn câu, vẫn quan-hệ mật-thiết đối với một bộ-phận của câu. Ví-dụ :
- Thế nào ? Quý hữu dáng chừng muốn ta giúp việc.
- Bẩm quả vậy ! Ngài có lòng nâng-đỡ, thật là ơn sánh biển trời.
- Lại về chuyện cái cầu bị hỏng ! Quý hữu cần lắm hay sao ? (Nghiêm-Toản)
Gạch dài đã được dùng để chỉ sự thay-đổi nhân-vật trong đoạn tường-thuật cuộc trò-chuyện giữa hai người.
Dưới đây là một ví-dụ về cách dùng gạch dài ở đầu và cuối một phần câu :
Trong ngày hè nóng-nực con bác Lê đứa nào cũng lở đầu – bác ta bảo là một bệnh gia-truyền từ đời ông tam-đại – nên bác lấy phẩm xanh bôi cho chúng. (Thạch-Lam)
X . BA CHẤM (…)
Ta dùng ba chấm sau một câu chưa dứt, nhưng tạm ngưng để tỏ một sự cảm-động, một sự ngạc-nhiên, hay ngưng hẳn vì không cần nói hết. Ví-dụ :
- Chuyện đời… còn biết nói chi hơn ? (tạm ngưng vì cảm-động).
- Ánh nắng đã gay-gắt. Tiếng trống càng làm thêm nóng ruột… Trong miếu những áo thụng lam bạc màu đi lại tấp-nập. (Nguyễn-công-Hoan)
(Ngưng hẳn vì không cần nói rõ làm cho ai thêm nóng ruột).