Larry tỉnh giấc, hơi men vẫn chưa tan hết, trong miệng có cái vị như thể vừa làm bô vệ sinh cho trẻ con, còn cảm giác trong đầu thì giống như vừa lạc đến một nơi đáng lẽ không nên đến.
Đây là một chiếc giường đơn, nhưng trên giường lại đặt hai cái gối. Anh ngửi thấy mùi thịt rán. Anh ngồi dậy, nhìn ra ngoài cửa sổ, New York lại là một bầu trời xám xịt. Việc đầu tiên anh nhớ tới là chuyện kinh khủng mà họ đã làm với Berkeley tối hôm trước: làm nó bẩn thỉu hỗn độn, khói bay mù mịt. Thế là cảnh tượng đêm qua bắt đầu hiện về, anh nhận ra trước mắt không phải Berkeley, mà là Fordham. Anh đang ở trong một căn hộ tầng hai trên đường Tremont, cách Quảng trường Trung tâm không xa, chắc hẳn mẹ anh đang thắc mắc tối qua anh đã chạy đi đâu. Anh có gọi điện cho bà không nhỉ? Lẽ ra phải kiếm đại một cái cớ nào đó, dù nó có vô lý đến đâu đi nữa.
Anh xoay người, vắt hai chân xuống mép giường, tìm thấy một bao thuốc lá Winston nhăn nhúm, bên trong còn sót lại điếu cuối cùng quý giá. Anh dùng chiếc bật lửa màu xanh lá cây châm thuốc. Một mùi phân ngựa xộc lên. Ngoài kia, tiếng thịt rán liên tục truyền đến từ nhà bếp, nghe như tiếng nhiễu sóng radio.
Cô gái tên là Maria, cô ấy nói cô ấy làm nghề... làm nghề gì nhỉ? Chuyên viên vệ sinh nha khoa, nghề đó phải không? Larry không biết cô ấy hiểu biết bao nhiêu về kiến thức chăm sóc sức khỏe, nhưng tài ăn nói của cô ấy thì cực kỳ đỉnh. Anh nhớ mang máng mình như một cái dùi trống bị ôm chặt một cách vội vàng trong phòng khách, trong chiếc máy hát nổi tồi tàn, Crosby, Stills và Nash đang hát về việc bao nhiêu nước đã trôi dưới cầu, chúng ta đã lãng phí bao nhiêu thời gian. Nếu anh nhớ không lầm, Maria chẳng lãng phí chút thời gian nào. Khi cô ấy phát hiện ra anh chính là Larry Underwood đó, cô ấy đã rất phấn khích. Trong một khoảnh khắc cuồng nhiệt đêm đó, chẳng phải họ đã chạy ra ngoài, muốn tìm một tiệm đĩa chưa đóng cửa để mua đĩa "Baby, can you dig your man?" sao?
Anh khẽ rên rỉ, cố gắng bỏ qua phần mở đầu nhạt nhẽo của ngày hôm qua, lao thẳng đến đoạn kết cuồng nhiệt, nóng vội.
Anh nhớ ra, nhà Yankee không có ở trong thị trấn. Lúc anh tỉnh dậy, mẹ đã đi làm. Nhưng trên bàn bếp có để lại một mẩu giấy, viết về lịch trình của nhà Yankee: "Larry: Mẹ bảo con biết, nhà Yankee đến ngày 1 tháng 7 mới về, ngày 4 tháng 7 họ có hai trận đấu. Nếu hôm đó con rảnh, đưa mẹ đi sân bóng chày thế nào? Mẹ chuẩn bị mua ít bia và xúc xích. Trong tủ lạnh có trứng và thịt xông khói, còn có bánh cuộn cà phê và bánh mì con thích hơn. Tự chăm sóc bản thân nhé, hôn con." Phía sau là lời nhắn mang đậm phong cách Alice Underwood: "Đám bạn hồ bằng cẩu hữu của con phần lớn đã đi rồi, thoát được đám vô lại đó là tốt nhất, nhưng mẹ nghĩ Buddy Marks có thể đang làm việc ở xưởng in phố Strickland."
Chỉ cần nghĩ đến mẩu giấy đó thôi cũng đủ làm anh sợ hãi. Trước tên anh không có ba chữ "con yêu", trước chữ ký của bà cũng không có ba chữ "mẹ yêu con". Bà không tin mấy lời nhảm nhí lừa người. Thứ thật sự nằm trong tủ lạnh. Đôi khi khi anh dùng giấc ngủ để xua tan sự mệt mỏi của chuyến đi, bà đã sớm đi mua tất cả những thứ anh thích. Trí nhớ của bà tốt đến kinh ngạc. Một hộp giăm bông thượng hạng, hai miếng bơ chính gốc, tiền lương ít ỏi của bà sao có thể mua nổi? Hai lốc Coca-Cola sáu lon. Còn có xúc xích chín. Thịt bò nướng ngâm trong nước sốt độc quyền của Alice, công thức loại nước sốt này bà ngay cả với con trai cũng không chịu tiết lộ; trong ngăn đông lạnh có một gallon kem của tiệm Barone. Ngoài ra còn có bánh phô mai, loại có dâu tây bên trên.
Trong lúc vội vã, anh vào phòng vệ sinh, ngoài việc giảm bớt gánh nặng cho bàng quang, anh còn muốn kiểm tra tủ thuốc. Trên giá treo một chiếc bàn chải đánh răng mới tinh, còn đặt tất cả những chiếc bàn chải anh từng dùng thời thơ ấu, cái này nối tiếp cái kia. Trong tủ có một gói dao cạo dùng một lần, một hộp kem cạo râu, thậm chí còn có một lọ nước hoa Cologne. "Giá không đắt." Bà sẽ nói như vậy. Larry như thể thực sự nghe thấy lời bà, nhưng so với số tiền bỏ ra, hương thơm của nó còn kém xa.
Anh đứng đó, nhìn những món đồ này, rồi lấy ra một tuýp kem đánh răng mới, nắm trong tay. Không có "con yêu", không có "mẹ yêu con", chỉ là một chiếc bàn chải mới, một tuýp kem đánh răng mới, một lọ nước hoa Cologne. Anh nghĩ, đôi khi, tình yêu chân chính là thầm lặng, cũng là khó mà nhận ra. Anh bắt đầu đánh răng, vừa thắc mắc liệu có ai đang hát ở đâu đó không.
Cô chuyên viên nha khoa đi vào, chỉ mặc một chiếc váy lót nylon màu hồng. "Chào, Larry." Cô chào. Cô dáng người rất thấp, trên người có chút phong thái của Sandra Dee, một đôi ngực kiêu hãnh hướng về phía anh, không hề có dấu hiệu chảy xệ. Câu đùa cũ rích đó nói thế nào nhỉ? Đúng rồi, trung úy, cô ấy có một cặp .38 và một khẩu súng thật sự. Ha ha, thật thú vị. Anh từ cách xa 3000 dặm chạy đến, chỉ để dây dưa một đêm với Sandra Dee.
"Chào." Anh đáp, sau đó ngồi dậy từ trên giường. Anh khỏa thân toàn bộ, nhưng quần áo ở ngay chân giường. Anh bắt đầu mặc quần áo.
"Em có một chiếc áo choàng, anh muốn mặc thì mặc. Em đang làm cá hun khói và thịt xông khói."
Cá hun khói và thịt xông khói? Dạ dày anh bắt đầu co thắt.
"Không, cưng à, anh phải đi rồi. Anh phải đi gặp một người."
"Ôi chào, anh không thể cứ thế bỏ mặc em, giống như..."
"Thật đấy, việc này rất quan trọng."
"Hừ, em cũng rất quan trọng!" Cô bắt đầu hét lên chói tai. Đầu Larry ong ong. Không hiểu sao, anh lại nhớ đến tiếng gào thét khản đặc của Fred Flintstone.
"Em đang thể hiện phong thái Bronx của mình đấy, cưng à." Anh nói.
"Anh có ý gì?" Cô chống tay lên hông, cái xẻng xúc lật trơn bóng chìa ra từ nắm tay, như một bông hoa sắt. Đôi ngực cô lắc lư đầy mê hoặc, nhưng Larry không bị mê hoặc. Anh mặc quần vào, cài cúc. "Vậy là em đến từ Bronx, anh cho rằng em rất đen tối à? Anh ghét Bronx điểm nào? Anh là loại người gì, kẻ phân biệt chủng tộc à?"
"Không có gì, anh không nghĩ vậy," anh đáp, đi chân trần đến trước mặt cô. "Nghe này, người anh phải đi gặp là mẹ anh. Anh đến thị trấn này đã hai ngày rồi, tối qua anh không gọi điện cho bà, cũng không bằng cách khác... không phải chứ?" Anh nói thêm câu cuối, ôm lấy một tia hy vọng.
"Anh không gọi cho bất cứ ai," cô giận dữ đáp, "Em dám chắc, người này không phải mẹ anh."
Anh đi trở lại bên giường, xỏ chân vào đôi dép lê. "Là mẹ anh, thật đấy. Bà làm việc ở tòa nhà Chemical Bank, là quản gia. Ôi, những ngày này bà có thể đang lau dọn sàn nhà."
"Em dám chắc, anh cũng không phải Larry Underwood thu âm bài hát đó."
"Em tin vào nhu cầu của em đi. Anh phải đi rồi."
"Đồ khốn nạn!" Cô trợn mắt giận dữ, "Em làm nhiều đồ ăn thế này, anh bảo em phải làm sao?"
"Hay là ném ra ngoài cửa sổ?" Anh gợi ý.
Cô tức giận hét lên một tiếng, cái xẻng trong tay ném mạnh về phía anh. Nếu chuyện này xảy ra vào bất kỳ ngày nào khác trong cuộc đời anh, cái xẻng sẽ không trúng anh. Một trong những định luật vật lý sớm nhất là, nếu cái xẻng được ném ra từ tay một chuyên viên vệ sinh nha khoa đang giận dữ, thì quỹ đạo của cái xẻng chắc chắn không phải là đường thẳng. Chỉ lần này là ngoại lệ, mặc dù nó không hề trái với định luật này. Cái xẻng lộn nhào, bay lượn lên xuống, lao tới, trúng ngay trán Larry. Vết thương không nặng lắm, lúc anh cúi xuống nhặt cái xẻng thì nhìn thấy hai giọt máu nhỏ xuống thảm.
Anh bước lên trước hai bước, tay cầm cái xẻng. "Anh thật sự nên dùng cái thứ này đánh em một trận!" Anh gầm lên.
"Tất nhiên," cô vừa nói vừa lùi lại, khóc nức nở. "Sao lại không chứ? Ngôi sao lớn. Chiếm được tiện nghi rồi bỏ đi. Em còn tưởng anh là người tốt. Anh không phải người tốt." Vài giọt nước mắt lăn trên má cô, rồi rơi xuống cằm, rơi xuống ngực. Anh bị thu hút, mắt dõi theo một trong những giọt nước mắt, nhìn nó chảy qua bầu ngực bên phải, dừng lại ở đầu nhũ hoa. Giọt nước mắt này đóng vai trò như một chiếc kính lúp. Anh có thể nhìn thấy lỗ chân lông, còn có một sợi lông đen mọc ra từ phía trong quầng vú. Chúa ơi, mình sắp điên rồi, anh kinh ngạc nghĩ.
"Anh phải đi rồi." Anh nói. Chiếc áo khoác vải trắng của anh đặt ở chân giường. Anh nhặt nó lên, vắt lên vai.
"Anh không phải người tốt!" Lúc anh đi vào phòng khách, cô hét lên với anh. "Em chỉ coi anh là người tốt nên mới ở bên anh thôi!"
Cảnh tượng trong phòng khách khiến anh không nhịn được muốn rên rỉ. Trên ghế sofa đặt ít nhất hai chục đĩa "Baby, can you dig your man?", anh nhớ mang máng mình từng bị ôm chặt một cách vội vàng trên chiếc ghế đó. Trên mâm xoay của chiếc máy hát xách tay đầy bụi bặm, còn có ba cái đĩa tương tự. Trên tường đối diện là một tấm poster khổng lồ của Ryan O'Neal và Ali MacGraw. Được ôm lấy, có nghĩa là bạn không bao giờ phải nói lời xin lỗi, ha ha. Chúa ơi, mình sắp điên rồi.
Cô đứng ở cửa phòng ngủ, vẫn đang khóc, chiếc váy lót khiến cô càng lộ vẻ bi thương động lòng người. Anh nhìn thấy trên bắp chân cô có một vết cắt, đó là do cô cạo lông chân mà gây ra.
"Nghe này, gọi điện cho em," cô nói, "Em không có điên."
Lẽ ra anh nên nói "Nhất định", chuyện này coi như kết thúc. Nhưng anh không nói, anh nghe thấy miệng mình phát ra một tràng cười điên dại, rồi nói: "Cá hun khói của em cháy rồi."
Cô hét lên với anh, nhảy dựng lên chạy băng qua phòng, nhưng bị vấp ngã bởi chiếc đệm trên sàn. Cô bò lên phía trước vài bước, cánh tay hất đổ một chai sữa còn nửa, chai sữa lại đụng đổ chai rượu Scotch rỗng bên cạnh. Trời ạ, Larry nghĩ, sao tất cả lại dồn vào một lúc thế này?
Anh nhanh chóng thoát thân rời đi, bước nhanh xuống lầu. Khi anh chỉ còn cách cửa trước 6 bậc thang, nghe thấy cô ở trong sảnh trên lầu hét xuống dưới: "Anh không phải người tốt! Anh không phải!"
Anh đóng sầm cửa lại, làn sương mù và không khí ẩm ướt ấm áp bao vây lấy anh, xen lẫn hương thơm của cây cối mùa xuân và khí thải từ ô tô, sau khi thoát khỏi mùi thịt rán và mùi khói thuốc lá cũ kỹ, ngửi thật thơm. Điếu thuốc kỳ quái đó giờ chỉ còn lại đầu lọc, anh ném đầu thuốc vào rãnh đường, hít sâu một hơi không khí trong lành. Rời xa sự điên rồ thật là tuyệt. Về nhà với chúng ta, đừng để ý đến những ngày tốt đẹp trong trạng thái bình thường, khi chúng ta...
Sau lưng anh, một khung cửa sổ phía trên bật mở cái rầm, anh lập tức hiểu chuyện gì sắp xảy ra.
"Chúc anh gặp vận đen!" Cô hét lên chói tai về phía anh ở bên dưới. Đồ đàn bà đanh đá chửi bới kiểu Bronx chính hiệu. "Cầu cho anh bị tàu điện ngầm đâm chết! Anh không phải ca sĩ! Anh trên giường thật đê tiện! Anh thật đê hèn! Dùng cái này đập nát mông anh đi! Mang cái này về cho mẹ anh đi, đồ đê hèn!"
Chai sữa từ cửa sổ phòng ngủ tầng hai rít lên bay xuống. Larry né được. Chai rơi xuống đáy rãnh vỡ tan tành, như bom nổ, mảnh thủy tinh bay tứ tung. Ngay sau đó là chai rượu Scotch, bay lộn nhào nhanh chóng, đập vỡ ngay gần chân anh.
Nếu làm bất kỳ nghề nào khác, tài nhắm mục tiêu này của cô sẽ khiến người ta kinh hồn bạt vía. Anh cắm đầu chạy thục mạng, một tay che đầu. Sự điên rồ này không bao giờ kết thúc.
Phía sau truyền đến tiếng hét cuối cùng kéo dài như tiếng lừa kêu, là giọng điệu Bronx đầy uy lực, tiếng reo hò của người chiến thắng: "Hôn mông tôi đi, đồ tạp chủng đê tiện!" Lúc này anh đã vòng qua góc phố, đứng trên cầu vượt đường cao tốc, rướn người nhìn những chiếc xe cộ qua lại dưới cầu, cười đến run rẩy cả người như thể bị cuồng loạn.
"Cô không thể nắm bắt tốt hơn chút sao?" Anh nói, hoàn toàn không nhận ra mình đã hét thành tiếng. "Ôi, cô đấy, cô nên thể hiện tốt hơn một chút. Đó là một cảnh tượng không ra gì. Cô đấy, thật là một kẻ vô dụng." Anh nhận ra mình đã nói ra miệng, thế là lại bùng nổ một tràng cười lớn. Đột nhiên anh cảm thấy dạ dày cuộn lên một cơn buồn nôn, không nhịn được mà nhắm chặt mắt lại.
Buổi sáng sau khi quậy phá ở hội trường liên đoàn sinh viên, anh đối với cô gái đó như đối với một con điếm già.
Anh không phải người tốt.
Không đúng, không đúng.
Thế nhưng tại buổi tiệc chiêu đãi long trọng đó, khi những người đó phản đối quyết định rời đi của anh, anh đe dọa sẽ báo cảnh sát, mà anh thực sự muốn làm như vậy. Không phải sao? Đúng, đúng, anh muốn báo cảnh sát. Phần lớn bọn họ không quen biết nhau, đây là sự thật, nếu họ giẫm phải mìn, anh sẽ quan tâm. Wayne Stukey, cái đồ tạp chủng đó, đứng ở cửa, hai tay khoanh trước ngực, như một vị thẩm phán khiến bồi thẩm đoàn không thể đưa ra quyết định thống nhất trong một ngày quan trọng.
Anh mở mắt ra, rời khỏi cầu vượt, muốn tìm một chiếc taxi, ồ, đúng rồi. (Người bạn bị tổn thương đã mắc bẫy. Nếu Sal là một người bạn quan trọng như vậy, tại sao anh ta lại là người đầu tiên nhảy ra nịnh hót anh?) Mình là một thằng ngốc, chẳng ai thích nhìn một thằng ngốc trở nên thông minh cả. Đây mới là sự thật.
"Mình là người tốt," anh tức giận nói, "Mặc kệ nó, vấn đề là ai sẽ làm công việc kinh doanh này bây giờ?"
Một chiếc taxi chạy tới, Larry ra hiệu cho nó dừng lại. Chiếc taxi dường như hơi do dự trước khi dừng bên đường, Larry nhớ tới vết máu trên trán, nhân lúc tài xế chưa kịp đổi ý, anh mở cửa sau chui vào xe.
"Manhattan. Tòa nhà Chemical Bank trên đại lộ Park," anh nói.
Chiếc taxi hòa vào dòng xe cộ. "Trán anh bị rách rồi, bạn ạ." Tài xế nói.
"Có một cô gái ném cái xẻng vào tôi," Larry thản nhiên đáp.
Tài xế kỳ quặc nở nụ cười không tự nhiên với anh để bày tỏ sự đồng cảm, rồi lái xe đi tiếp, Larry thoải mái dựa vào ghế, cố gắng suy nghĩ xem làm thế nào để giải thích tung tích đêm qua với mẹ.
Chương 11
Larry tìm thấy một người phụ nữ da đen ở hành lang, cô ấy vẻ mặt mệt mỏi nói với Larry rằng Alice Underwood có thể đang kiểm kê hàng hóa trên tầng 24. Lúc đi thang máy lên lầu, anh cảm nhận được ánh mắt của những người khác trong thang máy lặng lẽ, thận trọng lướt qua trán anh. Vết thương đã không còn chảy máu, nhưng trên trán lại để lại cục máu đông vô cùng khó coi.
Tầng 24 là nơi làm việc của một công ty máy ảnh Nhật Bản. Larry đi đi lại lại trong hành lang gần 20 phút, anh cảm thấy mình giống như một con ngựa chui ra từ đàn cừu. Trong tòa nhà có thể thấy các giám đốc phương Tây ở khắp nơi, nhưng người Nhật rất nhiều, vóc dáng cao 6.2 feet của anh càng giống như một con ngựa cao to trong đàn cừu. Những người đàn ông và phụ nữ thấp bé liếc mắt nhìn lên, liếc nhìn vệt máu đông trên trán anh và ống tay áo khoác dính máu, sự thờ ơ kiểu phương Đông khiến người ta cảm thấy rất bất an.
Sau một chậu cây dương xỉ cao lớn lộ ra một cánh cửa, trên cửa viết "Quản lý bảo quản và nhà ở", Larry cuối cùng khẳng định đây là nơi anh cần tìm. Anh thử vặn tay nắm cửa, cửa không khóa, anh đẩy cửa đi vào trong. Mẹ anh đang ở bên trong, mặc một bộ đồng phục màu xám nhăn nhúm, chân đi tất chun và giày vải, tóc được bao chặt bởi một chiếc lưới đen. Bà quay lưng về phía Larry, một tay cầm bảng kẹp giấy, xem ra đang kiểm kê những chai nước tẩy rửa dạng xịt đặt trên giá cao.
Một sự thôi thúc tội lỗi mãnh liệt khiến Larry chỉ muốn xoay người chạy ra ngoài. Quay lại gara cách căn hộ của mẹ hai dãy phố, lấy lại hai tháng tiền thuê nhà anh vừa giao cho Fack. Cứ thế đi vào, lắc lư cơ thể nhảy múa. Đi đâu để nhảy đây? Bất cứ nơi nào. Bar Harbor, Maine, Tampa, Florida, Salt Lake City, Utah. Bất cứ nơi nào cũng là nơi tốt, chỉ cần rời khỏi căn phòng nhỏ tỏa ra mùi xà phòng này một cách thoải mái. Không biết là do ánh đèn huỳnh quang chiếu rọi hay là vết thương trên trán, anh cảm thấy một cơn đau đầu chết tiệt.
Ôi, đừng cằn nhằn nữa, đồ nhát gan đáng ghét.
"Chào mẹ." Anh nói.
Bà giật mình nhẹ, nhưng không quay người lại. "Vậy ra, Larry, con đã tìm được đường đến khu dân cư rồi."
"Vâng," anh dùng chân cọ qua cọ lại trên sàn, "Con rất xin lỗi. Tối qua con nên gọi điện cho mẹ."
"Chứ sao nữa, ý kiến hay đấy."
"Con ở cùng Buddy. Chúng con... ừm... chúng con đi thăm người quen. Đi vào thị trấn."
"Mẹ đoán là chuyện này, không thì cũng chẳng chênh lệch bao nhiêu." Bà dùng chân móc lấy một chiếc ghế đẩu nhỏ, bước lên, bắt đầu đếm những chai sáp đánh sàn đặt trên tầng cao nhất của giá, vừa đếm vừa dùng đầu ngón cái và ngón trỏ của tay phải điểm nhẹ. Bà phải cố hết sức nhón chân mới chạm tới những cái chai đó, quần áo cũng theo đó kéo lên, để lộ mép màu nâu của đôi tất dài. Qua lớp tất lưới, anh có thể nhìn thấy đôi chân trắng nõn của bà. Anh quay mắt đi, dòng suy nghĩ phóng túng đột nhiên đưa anh đến với người con trai thứ ba của Noah, tưởng tượng ra chuyện xảy ra khi người con trai nhìn thấy người cha già nua của mình nằm trần truồng trên chiếc giường nhỏ tồi tàn đó. Sau đó, người đàn ông đáng thương đó chỉ có thể sống bằng nghề đốn củi và bán nước. Anh ta và hậu duệ của mình. Đây chính là lý do tại sao hôm nay xảy ra bạo loạn chủng tộc. Con trai, hãy ca ngợi Chúa đi.
"Con đến chỉ để nói với mẹ những điều này sao?" Bà hỏi, lần đầu tiên quay đầu nhìn anh.
"Ôi, con là muốn nói cho mẹ biết tối qua con đã đi đâu, và nói lời xin lỗi với mẹ. Con quên nói với mẹ thật là tệ hại."
"Vậy sao," bà nói tiếp, "Đúng vậy, con rất tệ hại, Larry. Con nghĩ mẹ sẽ quên sao?"
Anh đỏ mặt. "Mẹ, mẹ nghe con nói."
"Con đang chảy máu. Vũ nữ thoát y ném cái tấm che thân của cô ta vào con à?" Bà lại quay người hướng về phía giá, điểm lại những cái chai trên tầng cao nhất, làm một dấu hiệu trên bảng kẹp giấy. "Tuần trước có người lấy mất hai chai sáp đánh sàn," bà nói, "Kẻ may mắn."
"Con đến để xin lỗi mẹ!" Larry lớn tiếng. Bà không nhảy dựng lên, mà anh lại có chút không kiềm chế được.
"Vậy sao, vậy con xin lỗi xong rồi. Sáp đánh sàn chết tiệt, nếu lại có người tiện tay dắt dê, ông Johan sẽ ăn thịt chúng ta mất."
"Con không phải đánh nhau trong quán bar, cũng không đi xem thoát y vũ gì cả. Chẳng liên quan gì đến chuyện này, đó chỉ là..." Giọng anh thấp xuống.
Bà quay mặt lại, lông mày nhướng lên như hai vầng trăng khuyết, đây là cách mỉa mai quen thuộc của bà, Larry không thể quen thuộc hơn. "Chỉ là cái gì?"
"Cái này...", anh nhất thời không nghĩ ra một lời nói dối thuyết phục (khả năng phản ứng nhanh để nói dối vẫn chưa tới nơi tới chốn). "Là một cái xẻng xúc lật."
"Có người coi con là trứng rán à? Con và Buddy đi vào thị trấn vui vẻ cả một đêm nhỉ?"
Anh luôn quên rằng mình còn lâu mới là đối thủ của bà, quá khứ không phải, tương lai e rằng cũng vĩnh viễn không bao giờ là.
"Là một cô gái, mẹ. Cô ấy ném vào con."
"Cô ta tám phần là một tay súng thiện xạ nhỉ," Alice Underwood nói, sau đó lại quay mặt đi. "Con Consuela đáng ghét đó lại giấu phiếu điều chuyển đi đâu rồi. Không phải họ làm tốt đến mức nào; những thứ chúng ta cần không bao giờ có thể gom đủ, thứ không xử lý được thì lại có một đống."
"Mẹ, mẹ giận con à?"
Bà đột ngột đặt tay lên eo, hai vai chùng xuống.
"Đừng giận con," anh nói khẽ, "Đừng giận, được không? Ừm?"
Bà quay mặt đi, Larry nhìn thấy trong mắt bà một ánh sáng không tự nhiên, có lẽ đã đủ tự nhiên rồi, nhưng đó chắc chắn không phải ánh sáng phản chiếu từ đèn huỳnh quang, anh lại một lần nữa nghe thấy lời kết luận như đóng đinh của cô chuyên viên nha khoa: Anh không phải người tốt. Nếu chỉ để nói với bà những lời nhảm nhí này, anh còn tự chuốc lấy phiền phức về nhà làm gì... Thái độ của bà tốt hay xấu thì có ý nghĩa gì chứ...
"Larry," bà nói khẽ, "Larry, Larry, Larry."
Có một khoảnh khắc, anh tưởng rằng bà không định nói gì thêm nữa; anh thậm chí cho phép mình hy vọng như vậy.
"Con chỉ biết nói những lời này thôi sao? 'Đừng giận con, cầu xin mẹ, đừng giận'? Mẹ nghe thấy con hát trên radio, mặc dù mẹ không thích bài hát đó, nhưng mẹ vẫn tự hào về con. Người ta hỏi mẹ đó có thực sự là con trai mẹ không, mẹ nói đúng vậy, đó là Larry. Mẹ nói với họ con luôn biết hát, đây không phải nói dối, đúng không?"
Anh lắc đầu đáng thương, không để mình mở miệng.
Tôi bảo họ, hồi cấp hai, có lần cầm cây đàn ghi-ta của Donny Roberts, chỉ học nửa tiếng đã đánh hay hơn nó, dù nó đã tập từ năm lớp hai. Anh có tài năng đó, Larry, chưa từng có ai nói với tôi điều này, và anh càng không bao giờ nhắc đến. Tôi tin là anh cũng biết, bởi vì chỉ có chuyện này là tôi chưa từng nghe anh than phiền. Rồi anh bỏ đi, tôi có trách anh vì điều đó không? Không. Những chàng trai trẻ và cô gái trẻ, họ đều ra đi. Đó là quy luật tự nhiên của thế gian. Có lúc nó tệ hại vô cùng. Nhưng đó là điều tất yếu. Rồi anh trở về, có ai giải thích cho tôi tại sao không? Không. Anh trở về bởi vì, dù đĩa nhạc của anh có gây chấn động hay không, tóm lại là anh gặp rắc rối gì đó ở Bờ Tây."
"Tôi không gặp rắc rối gì hết!" Anh ta tức tối phản bác.
"Anh đừng chối, tôi thấy rõ dấu hiệu rồi. Tôi làm mẹ anh không phải ngày một ngày hai, anh giấu không nổi tôi đâu, Larry. Rắc rối là ở chỗ, có một thứ gì đó, dù anh có tìm kiếm khắp nơi, nhưng anh không thể quay đầu lại nhìn. Đôi lúc tôi nghĩ, anh bước qua đường cũng sẽ giẫm phải cứt chó. Chúa sẽ tha thứ cho tôi vì đã nói thế, bởi vì Chúa biết đó là sự thật. Tôi có điên không? Không. Tôi có thất vọng không? Có. Tôi tưởng anh sẽ hối cải. Nhưng anh không. Lúc anh đi đã không còn là trẻ con, nhưng bên trong vẫn còn trẻ con lắm; lúc anh về điều đó vẫn không thay đổi, chỉ khác mỗi kiểu tóc. Anh có biết tôi nghĩ gì về lý do anh trở về không?"
Anh nhìn bà, muốn nói, nhưng anh biết, nếu thực sự nói ra, sẽ khiến cả hai mất kiểm soát. "Đừng khóc, mẹ, được chứ?"
"Theo tôi thấy, anh về nhà bởi vì không còn chốn nào khác để đi. Anh không nghĩ ra còn ai chứa chấp anh nữa. Tôi chưa từng nói gì về anh với bất kỳ ai khác, Larry, kể cả chị gái ruột của tôi, nhưng vì anh ép tôi nói, tôi sẽ nói thẳng thắn cho anh biết tôi nghĩ gì về anh. Anh chỉ biết lấy, anh từ trước đến nay chỉ biết lấy. Như thể khi tôi mang thai anh, Chúa đã để mất phần kia của anh rồi. Anh không xấu, tôi không nói vậy. Sau khi cha anh mất, chúng ta từng phải sống ở những nơi tồi tệ, nếu trong người anh có gen xấu, thì anh đã hư từ lâu rồi, Chúa biết. Hồi ở Queens, lần anh viết một từ bẩn thỉu ở hành lang tầng dưới trên phố Castille, tôi nghĩ đó là điều tồi tệ nhất tôi từng thấy anh làm. Anh còn nhớ không?"
Anh nhớ. Bà dùng phấn viết từ đó lên trán anh, bắt anh đi vòng quanh khu phố đó ba lượt. Từ đó về sau, anh không bao giờ viết từ đó hay bất kỳ từ nào khác lên tường các tòa nhà nữa.
"Tệ nhất là, Larry, ý anh tốt. Có lúc tôi nghĩ, nếu anh trở nên xấu một chút, thì đó lại là một điều may mắn. Vâng, anh dường như biết điều gì là sai, nhưng anh không hiểu cách trừng phạt cái sai. Tôi cũng không hiểu. Lúc anh còn nhỏ, tôi đã thử mọi cách tôi biết, kể cả việc viết từ đó lên trán anh... Từ lúc đó, tôi bắt đầu tuyệt vọng, nếu không tôi sẽ không bao giờ làm điều tồi tệ như vậy với anh. Anh về nhà thăm tôi bởi vì anh hiểu tôi không thể không cho, không phải cho mọi người, mà chỉ cho một mình anh thôi."
"Con định dọn ra ngoài," anh nói, từng chữ một, nói mỗi chữ như nhả ra một cục bông khô. "Chiều nay con sẽ dọn."
Vừa thốt ra câu đó, anh chợt nhận ra giờ anh thậm chí không có tiền để chuyển nhà, ít nhất là cho đến khi Warner gửi cho anh tấm séc tiền bản quyền tiếp theo, hoặc sau khi anh trả xong lũ chó săn đói nhất Los Angeles, thì gửi phần còn lại cho anh. Trước mắt có hai khoản phải thanh toán: tiền thuê bãi đỗ xe Mitsubishi, và một số tiền lớn phải nộp trước thứ Sáu, trừ khi anh muốn người hàng xóm thân thiện kia đi khắp nơi đòi nợ anh, và anh không mong điều đó xảy ra. Anh lại nhớ ra cuộc vui đêm qua đã bắt đầu thật trong sáng, với anh và Buddy, vị hôn thê của Buddy, và bạn của vị hôn thê Buddy, cô nha sĩ phòng bệnh răng miệng, một cô gái tốt từ Bronx, Larry, anh sẽ yêu cô ấy, khiếu hài hước tuyệt vời. Sau cuộc vui, anh càng rỗng túi. Không, nói chính xác, hiện tại anh không có một đồng xu nào cả. Nghĩ đến đây, anh không khỏi sợ hãi. Rời khỏi mẹ, giờ anh có thể đi đâu? Đến nhà trọ? Chỉ cần một khách sạn hơi khá hơn nhà trọ cấp thấp, nhân viên trực cửa sẽ cười vào mặt anh, bảo anh đến nhầm chỗ. Dù bây giờ vẫn ăn mặc chỉnh tề, nhưng người ta sẽ biết, lũ chó đẻ ấy lúc nào cũng biết, chúng có thể ngửi thấy cái ví rỗng.
"Đừng đi," bà dịu dàng giữ lại, "Hy vọng con đừng đi, Larry. Mẹ đã cố tình mua ít đồ ăn, chắc con đã thấy. Mẹ nghĩ tối nay chúng ta có thể chơi bài gin rummy."
"Mẹ ơi, mẹ biết chơi gin gì đâu." Anh nói, khẽ cười.
"Mỗi điểm một xu, mẹ có thể khiến thằng nhãi nhà con thua sạch túi."
"Cũng có thể, nếu con cho mẹ 400 điểm trước."
"Nghe thằng nhỏ này nói kìa," bà nhẹ nhàng mỉa mai, "Nếu tao cho mày 400 điểm trước. Ở lại đi, Larry. Thế nào?"
"Được thôi," anh nói. Suốt cả ngày hôm đó, đây là lần đầu tiên anh cảm thấy ổn, thực sự ổn. Một giọng nói yếu ớt trong lòng anh thì thầm: Mày lại đòi hỏi rồi, đồ Larry không biết chừa, lấy tự do ra đánh cược. Nhưng anh không muốn nghe. Dù sao thì, đó vẫn là mẹ anh, và bà đã cầu xin anh ở lại. Dĩ nhiên, trước khi cầu xin anh ở lại, bà đã nói vài câu khá nặng lời, nhưng đã cầu xin thì đúng là cầu xin, phải không? "Để con nói, trận đấu ngày 4 tháng 7 con mua vé. Con chỉ cần lấy một phần nhỏ từ tiền thắng của con tối nay thôi."
"Mày chẳng thắng được một xu nào đâu," bà thân mật nói, vừa quay người về phía giá để đồ, "Nhà vệ sinh nam ở hành lang tầng dưới, sao không xuống rửa vết máu trên trán đi? Rồi lấy 10 đô-la từ ví mẹ, đi xem phim đi. Đường số 3 vẫn còn vài rạp chiếu hay, chỉ cần con đừng đến mấy chỗ bẩn thỉu gần phố 49 và Broadway là được."
"Vài ngày nữa con sẽ trả tiền," Larry nói, "Đĩa nhạc của con đứng thứ 18 trên bảng xếp hạng tuần này. Con vừa tra báo."
"Thế thì tốt quá. Đã giàu thế, sao không mua một bản sao phim, còn phải đi rạp làm gì?"
Cổ họng anh bỗng nghẹn lại. Anh hắng giọng, nhưng thứ đó vẫn ngoan cố không chịu đi.
"Thôi, không sao," bà nói, "Cái lưỡi của mẹ cứ như con ngựa xấu tính, hễ bắt đầu chạy là phải chạy cho đến khi kiệt sức mới thôi. Con biết rồi đấy. Lấy 15 đô-la đi, Larry, coi như là vay. Mẹ nghĩ thế nào cũng sẽ thu hồi được, bằng cách này hay cách khác."
"Mẹ sẽ," anh nói. Anh bước tới, như một cậu bé, kéo nhẹ vạt áo bà. Bà cúi nhìn anh. Larry kiễng chân hôn lên má bà. "Con yêu mẹ."
Bà dường như hơi sửng sốt, không phải vì nụ hôn, cũng không phải vì lời nói hay giọng điệu của anh.
"Ừ, mẹ biết, Larry," bà nói.
"Về mấy câu mẹ vừa nói, chuyện gặp rắc rối bây giờ ấy, con có, một chút, nhưng không phải là..."
Giọng bà lập tức trở nên lạnh lẽo và nghiêm khắc, lạnh đến mức anh giật mình. "Mẹ không muốn nghe mấy chuyện đó."
"Thôi được," anh nói, "Con hỏi mẹ, quanh đây rạp nào tốt nhất?"
"Loew's Twin," bà trả lời, "Nhưng mẹ không biết đang chiếu phim gì."
"Không sao. Mẹ biết quan điểm của con không? Có ba thứ, Mỹ ở đâu cũng có, nhưng muốn thứ ngon nhất thì chỉ có New York."
"Thế à, nhà phê bình tờ New York Times? Ba thứ gì?"
"Phim ảnh, bóng chày, và xúc xích Nathan's."
Bà cười. "Con không ngốc, Larry. Con chưa bao giờ ngốc."
Thế rồi anh xuống cầu thang vào nhà vệ sinh, rửa sạch vết máu trên trán, rồi quay lên lầu, lại hôn mẹ một lần nữa. Sau đó lấy 15 đô-la từ chiếc ví đen cũ kỹ đã sờn của bà. Rồi anh đến rạp Loew's, xem một bộ phim về con quỷ điên tên Freddy Krueger. Con quỷ hút những đứa trẻ vào cát lún trong giấc mơ của chính chúng, cuối cùng, ngoại trừ nhân vật chính, tất cả đều chết. Freddy Krueger dường như cũng chết, nhưng cũng khó nói, tên phim còn có số La Mã, không biết còn bao nhiêu phần tiếp theo nữa. Larry thấy gã có dao móc ở đầu ngón tay có thể sẽ quay lại, nhưng anh không biết rằng, một âm thanh liên tục phát ra từ hàng ghế sau đã tuyên bố sự kết thúc của mọi thứ: sẽ không có kết thúc cho bộ phim, thậm chí chẳng bao lâu nữa, sẽ chẳng còn phim nữa.
Ở hàng ghế sau Larry, một người đàn ông đang ho.
Ở góc sâu trong phòng khách có một chiếc đồng hồ ông cụ. Franny Goldsmith đã lớn lên cùng với tiếng tích tắc nhịp nhàng của chiếc đồng hồ ấy. Nó phán xét căn phòng này, căn phòng mà Franny chưa bao giờ thích, căn phòng có thể khiến cô căm ghét ngay cả trong những ngày như hôm nay.
Căn phòng cô thích nhất là xưởng làm việc của bố, một nơi nhỏ, nối liền giữa nhà chính và nhà kho, cửa cũng nhỏ xíu, cao nhất cũng chỉ 5 feet, gần như bị che khuất bởi nhà kính gỗ cổ kính từ nhà bếp. Chỉ riêng cánh cửa ấy đã gợi lên vô vàn ảo tưởng: nó nhỏ bé và khuất lấp đến thế, phía sau dường như là những câu chuyện thần thoại và xứ sở kỳ diệu trong tưởng tượng. Sau này cô lớn lên, cao hơn, khi qua cánh cửa nhỏ này cũng phải cúi đầu như bố. Trừ phi bất đắc dĩ, mẹ cô tuyệt đối không bước chân vào xưởng làm việc dù chỉ nửa bước. Đó là một cánh cửa của Alice ở xứ sở thần tiên, đã có một thời, "trò chơi" của cô - một bí mật cô không nói cho cả bố biết - là tưởng tượng vào một ngày nọ, khi mở cánh cửa ấy, cô sẽ thấy xưởng làm việc của Peter Goldsmith đột nhiên biến mất không còn tăm hơi. Rồi cô sẽ tìm thấy một con đường ngầm khác từ xứ sở thần tiên đến Hobbiton, một đường hầm thấp nhưng ấm cúng, vách và trần hình vòm đều bằng đất, những rễ cây cứng đan xen trên trần, va phải cái nào cũng để lại dấu ấn trên đầu. Trong đường hầm không có mùi đất ẩm và không khí, cũng không có sâu bọ và giun dơ dáy, mà tràn ngập hương thơm của cây long não và mùi bánh táo nướng, mùi hương ấy sẽ dẫn cô đến phòng đựng thức ăn phía trước, nơi ông Bilbo Baggins đang tổ chức tiệc sinh nhật 101 tuổi cho mình...
...Dĩ nhiên, đường hầm ấm cúng chưa bao giờ xuất hiện, nhưng đối với Franny Goldsmith lớn lên trong ngôi nhà này, có xưởng làm việc ấy (có lúc bố gọi là "phòng dụng cụ", còn mẹ thì gọi là "cái xó bẩn thỉu để bố mày uống bia") là đủ rồi. Ở đó có những dụng cụ kỳ quái và đồ chơi nhỏ hình thù kỳ lạ, có những chiếc tủ lớn với hàng nghìn ngăn kéo, mỗi ngăn nhồi nhét đầy ắp, đinh, ốc vít, lưỡi dao, giấy nhám (ba loại giấy nhám: mịn, trung bình và thô), bào, thước thủy, và đủ thứ đồ mà lúc ấy cô không thể gọi tên, đến nay vẫn không thể gọi tên. Ánh sáng trong xưởng làm việc rất tối, chỉ có một bóng đèn 40 watt phủ đầy mạng nhện từ trần nhà rủ xuống, ánh sáng luôn chiếu vào bóng người bố đang làm việc. Trong phòng tràn ngập mùi bụi, mùi dầu mỡ, và mùi khói từ tẩu thuốc, giờ đây cô dường như suy ra một quy luật: bất kỳ người bố nào cũng nhất định phải hút thuốc. Tẩu, xì gà, thuốc lá, cần sa, cần sa Ấn Độ, thuốc lá rau diếp, tóm lại không thoát khỏi chữ thuốc, bởi vì mùi thuốc là một phần không thể thiếu trong tuổi thơ của cô.
"Đưa cái cờ-lê đó cho bố, Franny. Không phải cái nhỏ. Hôm nay ở trường làm gì thế? ... Thế à? ... Thế thì tại sao Rhodes lại xô con ngã? ... Ừ, vết xước hơi nặng. Nhưng màu nó hợp với áo con đấy, con không thấy sao? Bây giờ con chỉ cần tìm Rhodes, bảo nó xô con ngã thêm lần nữa, cọ vào chân kia, thế là cân đối. Đưa cho bố cái tuốc-nơ-vít lớn được không? ... Không, cái cán vàng ấy."
"Franny Goldsmith! Mày ra khỏi cái xó bẩn thỉu đó ngay cho tao! Thay đồng phục ra! Ngay—lập—tức! Lại sắp bẩn như một con lợn rồi!"
Thậm chí bây giờ, khi đã 21 tuổi, thỉnh thoảng cô vẫn cúi người qua cánh cửa ấy, đứng giữa bàn làm việc của bố và cái lò Ben Franklin cổ đâm sưởi ấm áp đến buồn ngủ trong mùa đông, để bắt lấy những mảnh ký ức vụn vặt về cô bé Franny Goldsmith đã lớn lên trong căn phòng này. Đó là một cảm giác hư ảo, hầu như luôn mang nỗi buồn nhẹ nhàng, gợi nhớ về người anh trai Fred đã chết yểu mà cô hiếm khi nhớ đến, người đã từng lớn lên khỏe mạnh biết bao, rồi cuối cùng như con diều đứt dây bay mất. Cô đứng đó, ngửi mùi dầu mỡ thấm đẫm, mùi ẩm mốc, và mùi khói nhẹ từ tẩu của bố. Cô hầu như không thể nhớ nổi cô đã từng là một cô bé nhỏ xíu, nhỏ xíu thế nào, nhưng khi rời khỏi nơi này, đôi khi cô lại nhớ ra, và cảm giác ấy thật dễ chịu.
Nhưng bây giờ hãy nói về phòng khách.
Phòng khách.
Nếu xưởng làm việc giống như mùi hương ảo giác từ tẩu thuốc của bố (thỉnh thoảng khi cô bị đau tai, bố nhẹ nhàng thổi khói vào tai cô, nhưng trước đó luôn bắt cô hứa không nói với Cara, vì nếu mẹ biết nhất định sẽ nổi trận lôi đình), là biểu tượng của hạnh phúc tuổi thơ, thì phòng khách lại đại diện cho tất cả những ký ức tuổi thơ mà bạn hy vọng sẽ quên đi mãi mãi. Không nói thì ngậm miệng lại! Đã ăn vạ xong lại quên ngay! Lên lầu thay quần áo ngay, con không thấy mặc thế này không phù hợp à? Đầu óc con làm bằng gỗ à? Franny, đừng xoắn xuýt quần áo nữa, người ta còn tưởng con có bọ chét đấy. Chú Andrew và dì Carlena sẽ nghĩ thế nào? Mặt mũi mẹ tiêu hết cả rồi—... Ở phòng khách, con phải im lặng; ở phòng khách, con muốn gãi cũng không được; ở phòng khách, không ngớt là những mệnh lệnh độc đoán và những cuộc nói chuyện nhàm chán, họ hàng véo má con đau điếng; không được hắt hơi, không được cười, và tệ nhất là phải nín ngáp.
Trung tâm của phòng khách là chiếc đồng hồ, chiếc đồng hồ khiến mẹ cô mê mẩn. Chiếc đồng hồ này được ông cố của Cara là Tobins Bowen mang về nhà vào năm 1889, và từ đó gần như ngay lập tức được tôn làm bảo vật của gia đình, qua nhiều năm thăng trầm, mỗi lần đều được gói cẩn thận, mua bảo hiểm kỹ càng, theo cả nhà từ nơi này sang nơi khác (quê hương của chiếc đồng hồ này là Buffalo, New York, một xưởng tên là Tobias, mùi khói và sự bẩn thỉu ở đó chẳng kém gì xưởng của Peter, dù nếu bị Cara nghe thấy sự so sánh này chắc chắn sẽ bị mắng là vô duyên), đôi khi khi một người trong gia đình chết vì ung thư, bệnh tim hay tai nạn, chiếc đồng hồ lại được chuyển từ vị trí này sang vị trí khác trong nhà. Kể từ khi Peter và Cara chuyển vào ngôi nhà này khoảng 36 năm trước, chiếc đồng hồ luôn đứng trong phòng khách, trung thành canh giữ vị trí của mình, tích tắc, tích tắc, chia cắt thời gian bình thường vô vị thành những mảnh vụn nhỏ nhặt. Nếu cô muốn, chiếc đồng hồ này một ngày nào đó sẽ là của cô, khi Franny nhìn vào khuôn mặt tái nhợt, sững sờ của mẹ, cô đã từng nghĩ rất nghiêm túc. Nhưng con không muốn! Con không muốn, và con cũng sẽ không lấy!
Trong căn phòng này, dưới chiếc lồng kính là một ít hoa khô, dưới sàn trải một tấm thảm màu xám bồ câu với những hoa văn hoa hồng đỏ sẫm chìm, một khung cửa sổ lồi tao nhã nhìn xuống Quốc lộ 1 bên dưới, giữa quốc lộ và khu vườn là một hàng rào cây thủy lạp cao lớn. Đó là thứ, ngay khi trạm xăng vừa mới xuất hiện ở góc đường, Cara đã thúc giục chồng trồng xuống với một sự nhiệt tình không thể lay chuyển. Một khi hàng rào đã được trồng, bà lại càng nhiệt tình hơn thúc giục chồng tìm cách cho cây nhanh cao lên. Franny nghĩ thầm, ngay cả phân bón phóng xạ mà có thể giúp cây lớn nhanh, mẹ cô cũng sẽ không ngần ngại dùng. Khi hàng rào càng ngày càng cao, tiếng ồn phản đối của Cara về chuyện cây thủy lạp giảm dần, ước chừng thêm hai năm nữa, tiếng ồn này sẽ hoàn toàn biến mất, bởi vì lúc đó chiều cao của hàng rào sẽ che khuất hoàn toàn cái trạm xăng đáng ghét, khiến phòng khách thiêng liêng này từ nay không bị xâm phạm nữa.
Ít nhất, tiếng ồn về chủ đề này sẽ biến mất.
Hoa văn lá xanh hoa đỏ to trên giấy dán tường gần như cũng ảm đạm chẳng kém hoa hồng trên thảm. Đồ nội thất kiểu Mỹ thời kỳ đầu và một bộ tủ gỗ gụ hai cánh. Một lò sưởi chỉ để trưng bày, bên cạnh lò sưởi, trên mặt gạch đỏ luôn sạch bóng, bất di bất dịch để một khúc gỗ bạch dương. Trong mắt Franny, khúc gỗ ấy e rằng đã khô như báo, một chấm lửa là cháy. Ph
Phòng khách cũng là nơi đặt quan tài của anh trai cô, trên giá đỡ bày hoa hồng, hoa cúc và linh lan, hương thơm lan tỏa khắp phòng. Ở góc đó, chiếc đồng hồ quả lắc vô cảm vẫn kiên trì với vị trí của mình, tích tắc, tích tắc, chia cắt thời gian thành từng mảnh vụn nhạt nhẽo.
"Con mang thai rồi." Carla lặp lại lần nữa.
"Vâng, thưa mẹ." Giọng cô khô khốc, nhưng cô không cho phép mình liếm đôi môi nứt nẻ, trái lại, cô mím chặt chúng lại. Cô nghĩ: Trong xưởng làm việc của cha tôi, có một cô bé mặc áo đỏ, con bé sẽ mãi ở đó, mỉm cười, trốn dưới gầm bàn, trốn sau tủ dụng cụ với hàng ngàn ngăn kéo, đầu gối đóng vảy tì sát vào ngực. Đó là một cô bé hạnh phúc. Nhưng trong phòng khách của mẹ tôi, có một cô bé nhỏ hơn nhiều, con bé không thể nhịn được mà tiểu ra thảm như một con chó nhỏ đáng ghét. Một con chó cái đáng ghét. Nó cũng sẽ mãi ở đó, bất kể tôi khao khát nó biến mất đến nhường nào.
"Ồ, Frannie," mẹ cô nói, tốc độ rất nhanh. Bà chống một tay lên má, tựa như một thiếu nữ bị xúc phạm. "Chuyện này xảy ra như thế nào?"
Câu hỏi này giống hệt câu hỏi của Jesse. Cô thực sự nổi giận, câu hỏi của bà lại trùng hợp với anh đến thế.
"Mẹ đã sinh hai đứa con rồi, mẹ thừa biết nó xảy ra thế nào mà."
"Con bớt ngụy biện cho ta!" Carla hét lên. Bà trợn mắt, trong mắt như sắp phun ra lửa, cái khí thế đó từng khiến Frannie lúc nhỏ kinh hồn bạt vía. Bà đứng dậy với tốc độ cực nhanh (động tác này cũng từng khiến Frannie kinh hồn bạt vía). Bà là một người phụ nữ cao ráo, mái tóc xám búi cao thanh lịch trên đỉnh đầu, cài phụ kiện, thường là tác phẩm nghệ thuật của những thợ làm tóc khéo tay. Dáng người cao gầy, mặc chiếc áo khoác xanh thời thượng cùng chiếc quần dài màu be hoàn hảo. Bà bước đến trước bệ lò sưởi, đây là thói quen của bà mỗi khi gặp chuyện phiền lòng. Bà đứng đó. Bên dưới khẩu súng hỏa mai là một cuốn sổ lưu niệm lớn. Carla là một nhà phả hệ học nghiệp dư, cả gia tộc của bà đều nằm trong cuốn sổ đó... ít nhất là tính từ năm 1638 xa xôi, khi tổ tiên đầu tiên có ghi chép của gia tộc này đã bắt đầu nổi danh từ đám dân thường ở London, một nhà thờ cổ đã ghi tên ông: Merton Downs, Freemason. Bốn năm trước, phả hệ của bà được đăng trên tờ "New England Genealogist", và chính Carla là người biên soạn.
Giờ đây, bà dùng ngón tay lật giở cuốn sách dày công gây dựng đó, nơi an toàn mà không ai có thể xâm phạm. Chẳng lẽ trong số những cái tên đó không có kẻ trộm sao? Không có kẻ nghiện rượu sao? Không có bà mẹ đơn thân sao? Frannie cảm thấy nghi ngờ.
"Sao con có thể làm chuyện này với ta và cha con?" Cuối cùng bà hỏi, "Là do Jesse đó sao?"
"Vâng. Jesse là cha của đứa bé."
"Sao con có thể làm chuyện này?" Carla lặp lại, "Chúng ta đã cố hết sức nuôi dạy con đi đúng đường. Thật là... thật là..."
Bà lấy tay che mặt, nức nở.
"Sao con có thể làm chuyện này?" Bà khóc, "Dù sao đi nữa, chúng ta đã bỏ ra bao nhiêu cho con, chẳng lẽ đây là cách con báo đáp? Con lại đi ra ngoài với... với một người đàn ông... như một con chó cái đang động dục? Con thật không biết xấu hổ! Thật không biết xấu hổ!"
Tiếng nức nở của bà chuyển thành tiếng nghẹn ngào, thân hình dựa vào bệ lò sưởi, một tay che mắt, tay kia vẫn mân mê bìa vải xanh của cuốn sổ lưu niệm. Chiếc đồng hồ quả lắc ở góc phòng vẫn chạy như thường lệ, tích tắc, tích tắc.
"Mẹ!"
"Đừng nói chuyện với ta! Con nói đủ nhiều rồi!"
Frannie đứng cứng đờ. Nếu gỗ biết run, thì hai chân cô chính là hai khúc gỗ đúng nghĩa. Nước mắt bắt đầu trào ra từ hốc mắt, cô mặc kệ chúng tuôn rơi. Cô không muốn căn phòng này đè bẹp mình thêm nữa. "Con đi đây."
"Con ăn cơm của chúng ta!" Carla đột nhiên gầm lên với cô, "Chúng ta yêu con như vậy... nuôi nấng con... đây là cách chúng ta được báo đáp sao! Đồ không biết xấu hổ! Đồ không biết xấu hổ!"
Nước mắt làm nhòe tầm nhìn của Frannie. Cô lảo đảo bước về phía trước, chân phải vấp vào cổ chân trái, cơ thể mất thăng bằng. Cô ngã nhào xuống đất, đầu đập vào bàn cà phê, tay cô quờ trúng một chiếc bình hoa khiến nó rơi xuống thảm. Bình hoa không vỡ, nhưng nước trong đó chảy ra ròng ròng, tấm thảm màu xám bồ câu biến thành màu xám đậm.
"Con nhìn đi!" Carla thét lên, vẻ mặt đắc thắng. Nước mắt tạo thành những vũng đen dưới hai mắt bà, để lại hai vệt dài trên khuôn mặt đã trang điểm. Bà trông phờ phạc, có chút cuồng loạn. "Con nhìn đi! Con hủy hoại tấm thảm rồi, đó là thảm của bà ngoại con đấy!"
Frannie ngồi trên sàn nhà, ngẩn ngơ lấy hai tay ôm đầu, vẫn đang khóc. Cô muốn nói với mẹ rằng đó chỉ là nước thôi, nhưng cô giờ đã mất sạch tự tin, không dám chắc đó có thực sự chỉ là nước hay không. Chỉ là nước thôi sao? Hay là nước tiểu? Rốt cuộc là cái gì?
Lại là kiểu cử động nhanh đầy thần kinh đó, Carla chộp lấy chiếc bình hoa, khua khoắng trước mặt Frannie. "Tiếp theo con định làm gì, cô nương? Con muốn ở lì đây sao? Con định dựa vào chúng ta để ăn, để ở, rồi đi khắp thị trấn để tìm thú vui sao? Ta nghĩ con đã tính toán như vậy. Hừ, đừng hòng! Đừng hòng! Ta sẽ không đồng ý đâu. Ta sẽ không đồng ý!"
"Con không muốn ở lại đây," Frannie lẩm bẩm, "Mẹ nghĩ con muốn sao?"
"Con đi đâu? Đi ở với hắn ta? Ta đoán là vậy."
"Đến Dorchester tìm Bobby Lungleton, hoặc đến Somersworth tìm Debbie Smith, con nghĩ là vậy." Frannie chậm rãi lấy lại tinh thần, đứng dậy. Cô vẫn đang rơi lệ, nhưng đồng thời cũng bắt đầu mất đi lý trí. "Chuyện này không liên quan gì đến mẹ cả."
"Không liên quan đến ta?" Carla lặp lại, bình hoa vẫn nắm chặt trong tay. Mặt bà trắng bệch như tờ giấy, "Không liên quan đến ta? Con ở dưới mái nhà của ta, mà nói không liên quan đến ta? Đồ chó cái nhỏ vô ơn bạc nghĩa này!"
Bà tát Frannie một cái, rất mạnh. Đầu Frannie hất ngược ra sau. Cô bỏ tay đang ôm đầu ra, che lấy má mình, nhìn mẹ bằng ánh mắt không thể tin nổi.
"Chúng ta cho con đi học trường tốt, đây là thứ chúng ta nhận được," Carla nói, nở nụ cười lạnh lùng đáng sợ, "Giờ con không còn cơ hội tốt nghiệp nữa rồi. Sau khi con lấy hắn..."
"Con không định lấy anh ấy. Và con cũng không định bỏ học."
Carla trợn tròn mắt. Bà nhìn chằm chằm Frannie, như thể não của cô có vấn đề. "Con nói cái gì? Phá thai? Ý con là phá thai? Con định giết đứa bé như một con điếm sao?"
"Con muốn sinh đứa bé ra. Học kỳ mùa xuân này con chỉ có thể bảo lưu, nhưng con có thể hoàn thành việc học vào mùa hè năm sau."
"Con muốn dựa vào cái gì để hoàn thành việc học? Tiêu tiền của ta? Nếu con định tính toán thế thì thật là mơ tưởng. Cô gái hiện đại như con không cần cha mẹ nuôi dưỡng, phải không?"
"Con có cách tự nuôi sống mình," Frannie nói nhẹ nhàng, "Còn tiền... con có thể tự kiếm."
"Con thật trơ trẽn! Chẳng nghĩ cho người khác chút nào, chỉ biết nghĩ đến bản thân!" Carla hét lên, "Lạy Chúa, con làm chuyện này thì sau này tôi và cha con còn mặt mũi nào nhìn ai nữa! Con chẳng quan tâm chút nào! Cha con sẽ đau lòng vì con lắm, và..."
"Không nghiêm trọng đến thế đâu." Giọng nói bình thản của Peter Goldsmith vang lên từ cửa, cả hai đồng loạt quay đầu nhìn ông. Ông đứng xa ở cửa, gần nơi tiếp giáp giữa tấm thảm cũ kỹ ở sảnh và tấm thảm quý giá trong phòng khách, đôi chân đi ủng lao động dừng lại bất động. Frannie đột nhiên nhận ra, đó chính là nơi cô đã vô số lần nhìn thấy cha dừng chân. Lần cuối cùng ông vào phòng khách là khi nào? Cô không nhớ nổi nữa.
"Ông làm gì ở đây?" Carla quát hỏi, nỗi lo lắng về tim mạch của chồng lúc nãy lập tức bay sạch. "Tôi cứ tưởng chiều nay ông phải làm việc muộn chứ."
"Tôi và Harry Master đã tắt máy rồi," Peter nói, "Frannie đã nói với tôi rồi, Carla. Chúng ta sắp có cháu ngoại rồi."
"Có cháu ngoại!" Bà thét lên. Tiếp đó, từ cổ họng bà bùng phát một tiếng cười khủng khiếp, ú ớ. "Ông lại đá bóng sang cho tôi. Nó nói với ông trước, mà ông lại giấu tôi. Được. Đây mới là người chồng tốt của tôi. Nhưng bây giờ tôi muốn đóng cửa lại, để hai chúng ta giải quyết chuyện này."
Bà nhếch mép cười khinh bỉ với Frannie.
"Chỉ có... chúng ta, những 'người phụ nữ'."
Bà nắm lấy tay nắm cửa phòng khách, đóng cửa lại. Frannie trố mắt nhìn, vẫn ngẩn ngơ, cô không thể hiểu nổi sự giận dữ và ác độc đột ngột bùng phát của mẹ mình.
Peter chậm rãi, miễn cưỡng đưa tay ra, chặn cánh cửa đang đóng một nửa lại.
"Peter, tôi muốn ông giao cho tôi xử lý."
"Tôi biết bà muốn thế. Trước đây tôi luôn chiều theo bà. Nhưng lần này thì không, Carla."
"Đây không phải chuyện ông cần quản."
"Bà sai rồi." Ông đáp lại bình thản.
"Cha!"
Carla quay sang cô, gò má đỏ ửng nổi bật trên khuôn mặt trắng bệch như giấy. "Không được nói chuyện với ông ấy!" Bà hét lên, "Lần này người con phải đối phó không phải là ông ấy! Ta biết, dù ý tưởng quái đản đến đâu, con cũng có cách khiến ông ấy tin con, con có chọc thủng trời, cũng sẽ dùng lời ngon tiếng ngọt lừa ông ấy ủng hộ con, nhưng hôm nay người con phải đối phó không phải là ông ấy đâu, cô nương!"
"Thôi nào, Carla."
"Ra ngoài!"
"Tôi có vào đâu. Bà xem này."
"Ông dám chế giễu tôi! Ông cút khỏi phòng khách của tôi ngay!"
Lời chưa dứt, bà đã bắt đầu đẩy cửa. Bà cúi đầu khom lưng, hai vai dùng sức, dáng vẻ giống như một con bò tót hung hăng. Ban đầu, ông dễ dàng chặn cửa lại, sau đó phải dùng chút sức lực, cuối cùng đến mức gân cổ nổi lên, mặc dù bà chỉ là một người phụ nữ, một người phụ nữ nhẹ hơn ông 70 pound.
Frannie muốn hét lên, để họ dừng lại, để cha rời khỏi đây, để hai người không phải đối diện với bộ dạng này của Carla: nỗi oán hận phi lý đang cận kề trong cõi u minh phút chốc nhấn chìm cô, đôi môi cô mím chặt, như bản lề rỉ sét trên cửa.
"Ra ngoài! Cút khỏi phòng khách của tôi! Cút! Cút! Cút! Đồ tạp chủng, buông cái cửa chết tiệt này ra, cút ra ngoài cho tôi!"
Ngay khoảnh khắc đó, ông đã đánh bà.
Âm thanh không mấy giòn giã, gần như không gây chú ý. Đồng hồ quả lắc không vì tiếng động này mà loạn nhịp, nó vẫn tích tắc, tích tắc, tích tắc như thường lệ, bước đi không bao giờ thay đổi. Đồ đạc cũng không vì tiếng động này mà rên rỉ. Nhưng tiếng gầm của Carla đột ngột dừng lại, như thể tiếng gầm đó chạm phải một con dao phẫu thuật sắc bén. Bà quỳ xuống đất, cánh cửa mất đi ngoại lực hoàn toàn mở ra, chạm nhẹ vào chiếc ghế cao tựa lưng kiểu Victoria có thêu hoa văn ở tay vịn.
"Không, ôi không." Frannie nói nhỏ, như một chú chim bị thương.
Carla dùng một tay che má, nhìn trừng trừng vào chồng.
"Tôi đã nhẫn nhịn 10 năm, hoặc có lẽ lâu hơn, tôi không thể nhịn được nữa," Peter nói. Giọng ông hơi run. "Tôi luôn tự nhủ, tôi không đánh bà vì tôi không tán thành việc đánh phụ nữ. Tôi luôn không làm như vậy. Nhưng khi một người, dù là đàn ông hay phụ nữ, trở thành một con chó và bắt đầu cắn người, thì người khác không thể không tránh xa nó. Tôi chỉ hy vọng, Carla, tôi có thể có đủ can đảm để rời xa bà sớm hơn. Như vậy tổn thương cho bà và tôi đều sẽ ít hơn."
"Cha!"
"Suỵt, Frannie!" Ông nhẹ nhàng ngăn lại. Cô im lặng.
"Bà nói nó ích kỷ," Peter vừa nói vừa tiếp tục cúi đầu nhìn khuôn mặt tĩnh lặng, vô cùng chấn động của vợ. "Thực ra người ích kỷ chính là bà. Kể từ sau khi Fred chết, bà không còn quan tâm đến Frannie nữa, vì bà kết luận rằng, càng dành nhiều sự quan tâm thì càng nhận lại nhiều tổn thương, thế là bà cảm thấy, cứ sống cho riêng mình là an toàn nhất. Đây chính là xuất phát điểm của bà, xuất phát điểm của mọi việc bà làm. Căn nhà này. Bà quan tâm đến từng người chết trong gia tộc, nhưng lại bỏ mặc người còn sống. Khi nó bước vào căn nhà này để nói cho bà biết khó khăn của nó, tìm kiếm sự giúp đỡ của bà, tôi dám cá, điều đầu tiên trong đầu bà là các quý bà trong câu lạc bộ làm vườn sẽ nói gì, hoặc liệu việc này có ảnh hưởng đến việc bà tham dự đám cưới của Amy Loud hay không. Tổn thương có thể là lý do để thay đổi, nhưng tất cả tổn thương trên thế giới cộng lại cũng không thể thay đổi được sự thật. Bà luôn luôn ích kỷ."
Ông đưa tay đỡ bà. Bà đứng dậy, như kẻ mộng du. Trên mặt vẫn còn biểu cảm lúc nãy; đôi mắt vẫn mở to, viết đầy vẻ khó tin. Sự lạnh lùng tạm thời chưa quay lại khuôn mặt này, nhưng Frannie lờ mờ cảm thấy, đó chỉ là chuyện trong phút chốc.
Quả nhiên.
"Luôn chiều theo bà là lỗi của tôi, vì tôi muốn tránh mọi sự không vui, vì tôi muốn giữ vững con tàu hôn nhân này. Bà thấy đấy, tôi cũng ích kỷ. Sau đó Frannie đi học, tôi nghĩ, thế là tốt rồi, Carla có thể tùy ý làm những gì mình muốn, và bà làm thế sẽ không làm tổn thương bất cứ ai nữa, ngoại trừ chính bà. Mặc dù người ta khi làm tổn thương người khác thì chính họ cũng không biết, ồ, có lẽ họ tưởng rằng mình không làm tổn thương ai cả. Nhưng tôi đã sai. Trước đây tôi cũng luôn sai, nhưng chưa bao giờ nghiêm trọng như lần này." Ông vươn hai tay, nhẹ nhàng nhưng kiên quyết nắm lấy hai vai Carla. "Nghe đây: Bây giờ tôi đang nói chuyện với bà với tư cách là một người chồng. Nếu Frannie cần một nơi trú chân, nó có thể ở đây, không khác gì trước đây. Nếu nó cần tiền, nó có thể lấy từ ví của tôi, không khác gì trước đây. Nếu nó quyết định giữ đứa bé, vậy thì bà hãy nhìn xem, nó cũng sẽ có buổi tiệc mừng em bé chào đời của riêng mình. Có lẽ bà nghĩ sẽ không có ai đến, nhưng thực tế nó có rất nhiều bạn bè, những người bạn thân thiết, họ chắc chắn sẽ đến. Tôi còn muốn nói với bà một chuyện nữa. Nếu nó muốn đứa bé được làm lễ rửa tội, lễ rửa tội sẽ được tổ chức trong căn nhà này. Ngay tại phòng khách chết tiệt này."
Carla há miệng, bắt đầu có âm thanh phát ra. Ban đầu đó là một âm thanh kỳ lạ, như ấm trà trên lửa đang xì xì, sau đó biến thành tiếng kêu thảm thiết chói tai.
"Peter, trong quan tài của căn nhà này đang nằm đứa con trai ruột thịt của ông đấy!"
"Vâng. Cho nên tôi không nghĩ ra nơi nào tốt hơn để làm lễ rửa tội cho một sinh mệnh mới," ông nói, "Máu mủ của Fred, máu mủ còn sống. Còn về Fred, nó đã chết từ nhiều năm trước rồi, Carla. Thân xác nó đã sớm biến thành thức ăn cho sâu bọ."
Bà nghe xong liền hét lên, hai tay bịt chặt tai. Ông cúi xuống gỡ tay bà ra.
"Nhưng sâu bọ vẫn chưa ăn thịt con gái bà và con của con gái bà. Đứa bé này đến từ đâu không quan trọng, quan trọng là đó là một sinh mệnh đang sống. Hành vi của bà giống như muốn đuổi con gái đi vậy, Carla. Nếu bà làm thế, bà còn lại gì? Ngoài căn nhà này và một người chồng vì điều đó mà hận bà, bà sẽ chẳng còn gì cả. Nếu bà đuổi con gái mình, bà sẽ mất cả ba người chúng tôi, bà sẽ mất tôi và Frannie giống như đã mất Fred vậy."
"Tôi muốn lên lầu nằm một lát," Carla nói, "Tôi thấy buồn nôn. Tôi nghĩ tốt hơn là nên nằm một lát."
"Để tôi đỡ bà." Frannie nói.
"Đừng chạm vào ta. Tìm cha con đi. Xem ra con và ông ấy có thể giải quyết mọi chuyện rất mỹ mãn. Ở cái thị trấn này, con coi như đã hủy hoại ta rồi. Sao con không xông vào phòng khách của ta, ném bùn lên thảm, nhét tro lò vào đồng hồ của ta đi, Frannie? Tại sao lại không làm thế? Tại sao chứ?"
Bà cười lên, đẩy Peter ra rồi đi qua, vào đại sảnh. Bà đi xiêu vẹo như một kẻ say rượu. Peter muốn dùng tay ôm lấy vai bà, bà nhe răng ra, rít lên với ông như một con mèo.
Dựa vào tay vịn bằng gỗ hồng sắc, bà từng bước chậm rãi leo lên cầu thang, tiếng cười rợn người dần biến thành tiếng nghẹn ngào; tiếng nghẹn ngào đó pha lẫn vài phần tan nát và bất lực, nghe mà Frannie muốn hét lên, muốn nôn mửa. Khuôn mặt cha cô trắng bệch như một tấm vải lanh xám. Trên cầu thang, Carla quay người lại, dáng vẻ lảo đảo khiến tim Frannie như treo lên cổ họng, có một khoảnh khắc, Frannie thậm chí cảm thấy bà sắp lăn nhào xuống. Bà nhìn họ, như muốn nói gì đó, nhưng cuối cùng bà lại quay người đi. Một lát sau, cửa phòng ngủ khép lại cùng tiếng khóc đau đớn tuyệt vọng của bà.
Frannie và Peter ngẩn ngơ nhìn nhau, chiếc đồng hồ quả lắc ở góc phòng vẫn tích tắc như không có chuyện gì xảy ra.
"Để mọi chuyện tự nhiên đi," Peter nói bình thản, "Bà ấy sẽ đổi ý thôi."
"Sẽ sao ạ?" Frannie hỏi. Cô chậm rãi bước đến bên cha, dựa vào ông, Peter đưa tay ôm lấy cô. "Con không nghĩ vậy."
"Không sao đâu. Bây giờ chúng ta đừng nghĩ đến nó nữa."
"Con phải rời khỏi đây thôi. Bà ấy không muốn con ở lại."
"Con phải ở lại. Khi bà ấy vạn nhất nghĩ thông suốt, phát hiện ra mình vẫn cần con ở lại, bà ấy sẽ có thể nhìn thấy con ngay lập tức." Ông ngừng một chút, "Còn về phần cha, Frannie, bây giờ cha cần con ở lại."
"Cha!" Cô nói, tựa đầu vào ngực ông. "Ôi, cha, con xin lỗi cha, con thực sự xin lỗi cha."
"Suỵt," ông dùng tay xoa tóc cô, không cho cô nói tiếp. Ánh mắt nhìn qua đỉnh đầu cô, ông có thể thấy ánh nắng buổi chiều dịu dàng xuyên qua cửa sổ lồi chiếu vào trong nhà, như mọi ngày trước đây, ánh nắng vàng óng, tĩnh lặng, chiếu lên bảo tàng, cũng chiếu lên thiên đường. "Suỵt, Frannie; cha yêu con. Cha yêu con."