Đôi khi, trong các cuộc điều tra, tôi những muốn có thể xin lời khuyên của mẹ tôi. Tôi hình dung bà đang ở giữa phòng, đứng đằng trước tấm bảng thông tin, hai tay chống hông, phô ra vẻ mặt nghiêm khắc. Hoàn toàn thờ ơ với đám cảnh sát đang xúm xít quanh bà. Thật ra, mẹ tôi là một người vô cùng sáng suốt, và có chút vô sỉ. Bà có thể phát hiện ra một lời nói dối ngay giây phút nó được thốt ra, và bà không sợ phải nói ra khi bà không đồng ý. Bà quấy rầy , theo một cách nói khác; khó chịu với cái trật tự đã được thiết lập - ít nhất đó cũng là cách nhìn nhận của bà về chính mình.
Hanne giống bà, trong một chừng mực nào đó. Ngoại trừ tính vô sỉ, đương nhiên.
Thật lạ lùng. Tại sao tôi chưa từng nghĩ đến điều đó?
Tôi quan sát Hanne, chị đang ngồi trong phòng rà soát chồng tài liệu. Thậm chí còn có sự tương đồng về vóc dáng, chút gì đó với mái tóc và đôi lông mày sẫm màu rất rõ nét. Cả dáng điệu nữa: cái cách chị ngửa đầu ra sau mỗi khi cười vang. Như thể chị muốn cả bầu trời cũng nghe thấy.
Liệu có đơn giản thể không? Tôi đã đem lòng yêu chính mẹ mình?
Yêu là một phản xạ, tôi tự nhủ. Một việc chúng ta làm mà không suy nghĩ, giống như ngủ hoặc ăn. Có thể ta đem lòng yêu một người mà ta có cảm giác quen thuộc, mà ta cảm thấy thoải mái khi ở bên; một người nhắc để chúng ta nhớ rằng cuộc đời là như thế nào trước khi toàn bộ các thất bại và mất mát xảy đến.
Manfred lại gần tôi, khẽ vỗ vào vai tôi.
- Mặt cậu hôm nay trông tệ quá! Đã có chuyện gì sao?
Tôi biết rằng câu hỏi của anh xuất phát từ một ý định tốt, nhưng sự vụng về của anh khiến tôi mỉm cười.
- Cảm ơn anh. Khi nào chúng ta đến đó?
- Nhóm cảnh sát phản ứng nhanh và người đàm phán sẽ đến nơi trong vòng nửa giờ nữa. Có vẻ cư dân trong tòa chung cư trên phố Kapellgränd đã được di tản hết: tòa nhà sắp được san bằng. Thế nên ta không phải lo đến dân thường. Cậu đi cùng chúng tôi chứ?
- Nếu anh im lặng cho.
Anh thở ra thật mạnh rồi đập vào lưng tôi.
- Được rồi, Lindgren, dù sao cậu cũng vẫn còn chút khả năng hưởng ứng.
Tòa chung cư trên phố Kapellgränd sừng sững trước mặt chúng tôi, tối tăm và rõ ràng là không còn cư dân. Ở tầng trệt, người ta đã đóng những tấm ván ép vào các cửa sổ. Tôi hình dung ra những mảnh kính vỡ sắc nhọn bên dưới. Chúng tôi đang ngồi trong xe của Manfred - Sanchez, Manfred, Hanne và tôi. Lực lượng phản ứng nhanh ẩn mình đâu đó trong vùng tranh tối tranh sáng. Họ đã lục soát căn hộ và nhận thấy không có ai ở đó, ngoại trừ chừng chục cái chai rỗng, một đống tạp chí khiêu dâm và vài cái chăn bẩn vứt trên sàn nhà. Không có dấu vết nào của một đứa trẻ, nhưng chúng tôi đã thống nhất là sẽ chờ một lát, phòng khi Emma vẫn quay về.
Cho đến lúc này, Hanne vẫn có những linh cảm đúng đắn.
Chúng tôi nghe Morrissey, như thường lệ, nhưng âm lượng nhỏ đến nỗi phải khó khăn lắm tôi mới nghe thấy lời hát: You have never been in love, until you’ve seen the sunlight thrown, over smashed human bone.
Phải chăng là như thế? Cô ta đã làm thế vì tình yêu?
Vài người đi dạo buổi chiều lướt qua trong gió. Mấy phụ nữ đeo chàng mạng từ phố Götgatan xuất hiện, người này khoác tay người kia. Có lẽ họ đang đến giáo đường.
Sốt ruột, Manfred gõ ngón tay trên vô lăng và nhìn chòng chọc vào vùng bóng tối. Anh lau lớp hơi nước đọng lại trên kính chắn gió làm từ ống tay áo choàng làm từ lông lạc đà, rồi thở dài.
- Có lẽ cô ta sẽ không đến. Hẳn là chúng ta đang tìm sai chỗ. Không ai đáp lại.
Một người đi xe đạp đơn độc loạng choạng đi qua trước mặt chúng tôi. Đúng lúc đó, điện thoại di động của tôi đổ chuông.
Là Janet.
Vào thời điểm bình thường, có lẽ tôi đã từ chối cuộc gọi, nhưng bởi vì đây là lần thứ năm cô ta gọi cho tôi và bởi vì đang không có việc gì cần làm, tôi quyết định nghe máy.
- Anh phải đến đây! Cô ta nói bằng giọng như nghẹt thở.
- Đã xảy ra chuyện gì sao?
Manfred quay sang và nhìn tôi bằng ánh mắt dò hỏi. Tôi lập tức hiểu rằng anh thấy đây không phải lúc nói chuyện về các vấn đề gia đình. Nhưng Janet chưa bao giờ tự nhủ rằng cô ta có thể quấy rầy người khác.
- Là Albin, cô ta nức nở. Họ đã bắt nó.
- Bắt nó?
- Vâng, cảnh sát đã bắt nó.
- Cảnh sát? Nhưng tại sao?
- Nó đã… Họ đã… tìm thấy…
- Cô bình tĩnh lại đi. Nói cho tôi biết đã xảy ra chuyện gì.
Nỗi lo lắng pha trộn với cảm giác khó chịu. Đúng là Janet điển hình: cô ta gọi cho tôi đúng lúc tôi đang thực hiện một vụ án quan trọng, và mong rằng tôi sẽ bỏ mặc tất cả để chạy đến chỗ cô ta. Cô ta không bao giờ tỏ ra thông cảm với công việc của tôi, ấy thế nhưng tôi vẫn gửi tiền hằng tháng cho cô ta, từ mười lăm năm nay.
Ánh mắt của các đồng nghiệp như thiêu đốt da tôi. Nhưng đồng thời, khuôn mặt Albin hiện lên trên võng mạc tôi. Cái thân hình gầy guộc của một thiếu niên cùng đôi tai thò ra ngoài mái tóc mỏng. Đôi tai của Janet. Tôi nhớ đến những lời thằng bé đã nói tối hôm trước, khi nó đến nhà tôi ở Farsta, một tay cầm tấm ván trượt, tay kia cầm chiếc túi Coop:
“Con đã cãi nhau với mẹ. Con tá túc ở nhà ba được không?”
Rồi tôi nhớ đến ánh mắt nó ném lại cho tôi khi Janet dẫn nó vào xe. Còn tôi thì đứng nép mình đằng sau tấm rèm, để khỏi bị nó nhìn thấy.
Tôi đã từng ở bên thằng bé chưa?
- Họ tìm thấy cần sa trong ba lô của nó, Peter ạ. Và bây giờ, nó đang ở trụ sở cảnh sát cùng cái băng đảng Skogås đáng sợ ấy. Anh phải làm gì đó đi. Dù sao anh cũng là cha nó. Anh phải …
Giọng cô ta cao lên lanh lảnh, và theo bản năng, tôi đưa điện thoại xa khỏi tai để tránh cái âm thanh riết róng ấy.
- Nhưng mà mẹ kiếp! Cô muốn tôi làm gì đây?
Tôi nghe thấy cô ta hét lên dù đã để điện thoại xuống đầu gối. Mọi người trong xe đều nghe thấy. Cũng tiếng la hét ấy khi cô ta tìm thấy mớ thiệp mời trong ngăn kéo bàn làm việc trước đây. Một tiếng hét như từ vực thẳm vọng lên, chứa đựng nỗi giận dữ vô cùng tận, nỗi căm thù giống hệt lần này. Và đột nhiên, như thể tôi nhìn thấy bản thân mình qua ánh mắt cô ta - một con quái vật thực thụ. Một gã nhu nhược mềm yếu đã để mặc cô ta với Albin, không hề đảm nhận phần trách nhiệm của chính mình.
Ngay sau đó, tôi nghe thấy tiếng mẹ tôi. Yếu ớt và hơi nhừa nhựa, như thể cõi vĩnh hằng đã lấy mất sự rành rọt của bà.
“Trách nhiệm, Peter ạ. Chẳng phải đã đến lúc con nhận lãnh trách nhiệm của mình rồi sao?”
- Tôi đến đây, tôi nói với Janet.
Ánh mắt Hanne đè nặng khi tôi xuống khỏi xe. Chị mở cánh cửa rồi lại gần tôi, đặt tay lên cánh tay tôi.
- Tôi muốn anh ở lại, chị nói bằng giọng khô khan.
- Tôi không thể ở lại.
Tôi bắt gặp ánh mắt chị. Lẽ ra tôi nên giải thích với chị về những chuyện đã xảy ra. Kể với chị về Albin và Janet, về món nợ mà rốt cuộc tôi sẽ phải trả. Giải thích với chị rằng cái ngày này đã đến, rằng tôi vẫn luôn biết nó sẽ đến - nhưng không phải hôm nay.
- Tôi xin anh, Peter. Tôi tin chắc rằng cô ta sẽ đến đây.
- Tôi thực sự phải đi.
Trên phố Götgatan, tôi đi qua một quán rượu. Ánh đèn nê ông màu đỏ nhấp nháy trong bóng đêm, hứa hẹn hơi ấm cùng quên lãng, và đột nhiên tôi thèm một cốc bia. Chỉ một cốc bia nhỏ thật nóng thay vì đến thẳng trụ sở cảnh sát Farsta hoặc quay lại bên Hanne. Một nơi ẩn náu, xa khỏi tất cả những lựa chọn khiến việc chèo lái cuộc sinh tồn này trở nên thật khó khăn.
Nếu tôi xử sự như thế thì thật là tệ, tôi biết điều đó. Điều tốt nhất nên làm lúc này là lập tức bắt tàu điện ngầm - thậm chí là lập tức quay trở lại với Hanne đúng như chị đã yêu cầu. Thế nhưng tôi lại chẳng thể nhúc nhích dù chỉ một bước chân. Tôi cứ đứng đó, đằng trước những ô cửa sổ lớn, mà nhìn vào bên trong quán rượu. Tôi ngắm nghía đám khách hàng cùng những màn hình đang phát chương trình thể thao; những băng ghế bằng vải giả da và những chiếc cốc va vào nhau lanh canh trong vùng ánh sáng vàng nhàn nhạt.
Bước vào đây không phải là một giải pháp. Nó sẽ chẳng mang lại điều gì, sẽ chỉ khiến tôi hy sinh nốt chút phẩm giá cuối cùng còn sót lại.
Ấy thế nhưng..
Một cốc bia. Chỉ một cốc bia nhỏ…
Chẳng lẽ nó thực sự có thể gây hại hay sao?