Tiếng Thét Dưới Băng

Lượt đọc: 889 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
HANNE

Gunilla lái xe đưa tôi đi về phía phố Skeppargatan. Trời đã tối hẳn, mặc dù mới gần bốn giờ chiều, và mặt đường đóng băng khủng khiếp. Cô đỗ xe trong phố Kaptensgatan, ngắt động cơ và quay sang phía tôi. Trong ánh sáng của ngọn đèn đường, mái tóc vàng của cô ánh lên lấp lánh, giống như một vầng hào quang xung quanh khuôn mặt cô.

- Cậu có muốn tớ đi cùng không?

Tôi suy nghĩ một lát.

- Có, tớ rất muốn, nếu việc đó không làm phiền cậu. Thông thường, anh ta không bao giờ ở nhà vào giờ này, nhưng biết đâu đấy…

- Không vấn đề gì. Đi nào, chúng ta đón Frida thôi.

Chúng tôi băng qua vài mét ngăn cách chúng tôi với cánh cửa ra vào.

Thật lạ lùng. Chỉ mới vài ngày trước tôi còn ở đây, nhưng tôi thấy dường như tòa nhà đã biến đổi. Tối tăm hơn, lạnh lùng hơn, như thể nó không còn muốn tôi cảm thấy đây là nhà tôi. Như thể nó đã hủy bỏ hợp đồng thuê nhà và đẩy tôi ra đường. Nhưng có lẽ ngược lại thì đúng hơn, tôi tự nhủ. Chính tôi đã rời bỏ căn hộ trên phố Skeppargatan, mãi mãi.

Tôi gõ mã và cánh cổng tòa chung cư mở ra kèm một tiếng rít khe khe.

Trong thang máy, tôi lục đến đáy túi để tìm chùm chìa khóa; ngón tay tôi run rẩy đầy nguy hiểm khi rốt cuộc tôi cũng tìm thấy nó. Đúng lúc cánh cửa thang máy mở ra, chùm chìa khóa tuột khỏi tay tôi. Gunilla nhặt nó lên rồi áp tay vào má tôi, như để xem tôi có bị sốt không.

- Ôi trời cưng ơi, cậu run kìa!

- Chỉ là…

Cô khẽ gật đầu, túm lấy cánh tay tôi rồi kéo tôi đến tận cửa, trước khi lấy chùm chìa khóa khỏi tay tôi và mở cửa. Ngay giây phút đó, Frida chạy ra và bắt đầu hờn dỗi với tôi. Tôi ngồi xuống, vùi mặt vào bộ lông đen xoăn tít của nó, và để mặc cho nước mắt trào ra. Frida liếm mặt tôi và khẽ sủa lên một tiếng.

Toàn bộ tình yêu vô điều kiện mà lũ chó dành cho chúng ta. Đúng ra, tôi đã làm gì để xứng đáng với tình yêu ấy? Và tại sao tình yêu của con người lại luôn đi kèm những đòi hỏi bó buộc và thỏa hiệp, không thể nào khác đi được? Tại sao chúng ta không thể yêu thương lẫn nhau, đơn giản là thế, mà không người này đòi sở hữu người kia?

Chúng tôi đi vào phòng ngoài và bật đèn. Tất cả vẫn như thường lệ. Quần áo và giày của tôi vẫn được treo cẩn thận trên những chiếc mắc áo, bên dưới giá để mũ. Thư từ được xếp thành một chồng nhỏ bên dưới tấm gương trên chiếc tủ com mốt. Gunilla bước lên, chậm rãi lật chồng thư để chọn ra vài bức, mà tôi đoán là được gửi đến cho tôi.

Tôi đưa mắt nhìn vào phòng bếp. Những tờ giấy nhắc nhỏ màu vàng của tôi vẫn ở nguyên chỗ của chúng trên các cánh cửa tủ. Chúng bay phấp phới trong làn gió nhẹ thổi vào từ cửa sổ.

Những tờ giấy hỗ trợ trí nhớ.

Tiếng tích tắc của chiếc đồng hồ treo tường trong phòng bếp đột ngột trở nên ầm ĩ, dội vào thái dương tôi. Tôi quay trở ra phòng khách, và đưa mắt nhìn một lượt mấy giá sách. Sau vài giây suy nghĩ, tôi chọn các hồi ký của Halvorsen, kể về chuyến thám hiểm của ông đến Groenland hồi đầu thế kỷ 20, và bộ sưu tập các bài luận về người Esquimo mà cha tôi đã tặng khi tôi vào đại học. Rồi tôi ngắm nghía các món đồ trang trí phòng khách - mặt nạ, tượng và những vật trưng bày khác. Nhưng tôi không cảm thấy gì ngoài nỗi chán ghét, một cảm giác ghê tởm gần như buồn nôn, khi nghĩ đến cái cách chúng đã được tặng cho tôi. Tôi không thể nào quyết định mang một trong số những món đồ ấy đến nhà Gunilla.

- Những cuốn sách ở nhà tớ chưa đủ cho cậu sao? Cậu không muốn mang quần áo đi thay cho sách à?

Tôi lắc đầu.

- Dù sao, tớ cũng phải mua quần áo khác thôi.

Cả hai chúng tôi tiếp tục im lặng, và tiếng tích tắc của chiếc đồng hồ trong bếp một lần nữa lại len lỏi vào tận trong óc tôi. Nó nảy giữa hai thái dương tôi, khoan vào tâm trí tôi thành từng chặp, rành rọt và đau đớn. Đột nhiên, tôi thấy căn phòng như bị khập khiễng, và nó bắt đầu đung đưa; tôi cảm thấy khó chịu. Tôi đi vài bước về phía Gunilla rồi nắm lấy tay cô.

Cô có vẻ lo lắng. Một cái rãnh sâu xuất hiện giữa cặp lông mày của cô, và bàn tay cô siết chặt bàn tay tôi.

- Thế còn đồ trang điểm và mỹ phẩm? Cậu có cần gì không?

Tôi lại lắc đầu.

- Tớ không cần gì cả, tôi thở ra. Tớ không cần thứ gì ở đây hết.

Khi đã về đến nhà Gunilla, cô pha cho tôi một cốc trà, đồng thời chuẩn bị hành lý. Cô tự tặng bản thân một chuyến đi chơi trên du thuyền trong hai ngày với bạn trai mới - người đàn ông giúp cô sống lại tuổi trẻ lần thứ hai.

Người khiến cô phấn khích. Một tác động mà chồng cũ của cô không còn làm nổi từ nhiều năm nay.

Frida ngủ thiếp trên tấm chăn trên ghế xô pha, hoàn toàn không biết gì về tất cả những vấn đề của con người. Gunilla khe khẽ hát - một bài hát mà tôi không nhận ra, nhưng rất ấm áp và nhắc tôi nhớ đến những điều xưa cũ. Một giai đoạn mà tôi đã quên lãng, hoặc có lẽ là chôn vùi, bởi vì ký ức đó quá đau đớn.

Ấy thế mà tôi đã nghĩ rằng ta có thể một lần nữa cảm nhận niềm hạnh phúc ngây thơ ấy! Yêu đương, phấn khích, say đắm, khi mà ta đã sắp đến tuổi nghỉ hưu, khi mà ta đã có những đứa cháu trưởng thành. Đi nghỉ trên du thuyền, ăn ngon, làm tình với một người mà ta thực sự ham muốn. Vì ham muốn, chứ không phải vì thói quen, vì trung thành hay tệ hơn, vì thói phục tùng đơn thuần.

Chúng tôi từng biết đến điều đó chưa, Owe và tôi ấy? Hồi đó, khi chúng tôi còn trẻ?

Mặc dù nói thực ra, thì chỉ có tôi là người còn trẻ khi chúng tôi gặp nhau. Mười chín tuổi. Anh khi ấy đã sắp ba mươi, đã kết hôn một lần và vừa hoàn thành chương trình nội trú. Khó mà xua đuổi được ý nghĩ rằng tôi đã chuyển từ tay người cha này sang tay người cha khác, từ sự lệ thuộc này sang sự lệ thuộc khác.

Nhưng có thực là chúng tôi từng say mê nhau không?

Tôi cố nhớ lại, nhưng mỗi lần nghĩ đến Owe và tôi, có biết bao điều mà tôi đã quên lãng, biết bao lỗ thủng trong cái tấm màng ký ức đến nỗi tôi không còn thực sự nhớ được cảm giác của bản thân hồi ấy. Có lẽ nó gắn với tất cả những chuyện đã xảy ra xen vào: nỗi hổ thẹn trong mắt Owe khi anh nhìn thấy những tờ giấy nhắn của tôi trên các cánh tủ trong bếp, thứ mùi phảng phất nhưng bướng bỉnh của bắp cải luộc tỏa ra từ thân thể anh, và những chiếc áo len chui đầu khủng khiếp của anh - mà anh khăng khăng mặc ngay cả khi chúng tôi có khách đến ăn tối. Và cái cách anh át đi sự soi mói của các khách mời khác bằng những phát biểu đầy ngạo mạn về sân khấu hoặc triết học - trong khi phần lớn thời gian anh không hề biết anh đang nói về chuyện gì.

- Cậu sẽ ổn chứ, hả? Gunilla vừa hỏi vừa đặt chiếc túi du lịch nhỏ xuống phòng ngoài và khoác chiếc áo choàng lông lên người.

- Nhất định rồi.

- Nếu có bất kỳ vấn đề gì dù là nhỏ nhất, cậu phải gọi cho tớ!

Tôi đi ra phòng ngoài, đến bên cô rồi ôm chặt cô hồi lâu. Tôi hít hà mùi nước hoa trên người cô, và để má tôi nghỉ ngơi trong một giây trên lớp lông êm ái của chiếc áo choàng.

- Đi chơi thật vui nhé! tôi bảo cô, lòng thầm hy vọng câu chúc đó nghe có vẻ chân thành.

Cô nới lỏng vòng tay ôm, vẻ nghi hoặc. Cô khẽ vẫy tay thay cho lời chào tạm biệt và khẽ mỉm cười, cầm chiếc túi lên rồi ra khỏi nhà.

Tôi rót đầy một cốc nước và uống thuốc: hai viên màu trắng và một viên vàng. Thế đấy, tôi tự nhủ, mình đang ở đây, như thể cuộc đời mình đang tạm ngưng. Một mình trong phòng bếp nhà Gunilla, cách xa Owe và khu phố Östermalm.

Cuộc đời thật lạ lùng. Và không phải vì ta thêm tuổi mà nó bớt lạ lùng đi. Ta quen với những điều kỳ quặc, ta học cách chấp nhận chúng - mưu mẹo là chấp nhận một lần cho xong rằng cuộc sống không bao giờ thực sự diễn ra như ta từng nghĩ.

Đã chín giờ tối và cơn bão tuyết đập vào cửa sổ phòng bếp, vừa bọc kín tòa nhà vừa gầm gừ. Nhưng ở trong nhà, tất cả đều ấm áp và êm ái. Những chiếc gối tựa vải hoa, những tấm rèm có diềm sọc sặc sỡ - tất cả những gì chồng Gunilla rất ghét - xô đẩy nhau trong phòng. Jörn từng là công nhân xây dựng, nhưng thích tự miêu tả mình như một kiểu kiến trúc sư. Nội thất nhà họ thiên về màu trắng và các sắc thái của màu xám, tối giản và vô trùng chẳng khác gì một phòng xét nghiệm y khoa. Và tất cả những thử nghiệm mà Gunilla từng tiến hành để khiến căn nhà khắc khổ của họ tươi sáng hơn, với những áo gối nhiều màu hoặc bình gốm vẽ hoa văn, đều bị bóp nghẹt trong trứng nước theo một cách thức vừa nhanh chóng vừa tàn nhẫn.

Tôi ngắm nhìn màn đêm đen bên ngoài cửa sổ, và tự hỏi Gunilla sẽ thế nào khi bị mắc kẹt trong cơn bão ngoài khơi Åland.

Ngày hôm nay, Owe đã gửi cho tôi ba tin nhắn. Trong tin nhắn đầu tiên, anh xin lỗi về cách hành xử của anh tối qua trước nhà Gunilla, giải thích với tôi rằng anh yêu tôi và rằng Frida vẫn ổn. Rằng cả hai cùng nhớ tôi. Hai tin nhắn còn lại nài ép hơn. Sau khi nhận thấy Frida đã biến mất, anh viết cho tôi rằng “ít nhất em cũng nên báo trước với anh”. Đằng sau thông điệp ngắn ngủi ấy, tôi có thể đọc thấy nỗi thất vọng của anh vì không thể kiểm soát tôi nữa - giống như một âm vang ầm ì đầy đe dọa thấm qua một bản dàn bè.

Tin nhắn thứ ba được gửi đến một giờ trước và toát lên cơn giận dữ cố nén:

Anh đề nghị chúng ta gặp nhau lúc 20 giờ ở Konstnärsbaren để bàn thảo về các lựa chọn của chúng ta. Anh bắt đầu đi đây, vì tin chắc là em sẽ đến. Owe

Tôi hầu như có thể hình dung thấy anh trước mặt tôi, ngồi bên bàn trong nhà hàng, trên tay cầm một ly vang Chablis. Tức điên vì không thấy tôi đến, mái tóc muối tiêu của anh dựng đứng trên đầu.

Điện thoại của tôi lại kêu. Tôi vớ lấy nó, và một nỗi mệt mỏi khủng khiếp xâm chiếm tôi khi tôi đọc tin nhắn mới của anh:

ĐỪNG TRÔNG CHỜ vào sự giúp đỡ của anh nữa. Đây là nỗ lực CUỐI CÙNG anh dành cho em. Cách hành xử của em thật VÔ TRÁCH NHIỆM. Em cứ việc xoay xở một mình đi.

Tôi cụp mắt nhìn xuống mặt bàn phòng bếp phủ kín giấy tờ, và máy móc lật giở những bản báo cáo về vụ sát hại Calderón. Tôi quan sát lần nữa hình ảnh cái đầu bị cắt lìa, đôi mắt bị banh mở. Và tôi đọc lại những lời lẽ của chính tôi:

Cái đầu có vẻ đã bị cố ý đặt ở vị trí mà người ta có thể nhìn thấy từ cửa ra vào, hai mí mắt bị dính bằng băng dính. Có lẽ là để những vị khách sắp đến đối diện với nó và buộc phải nhìn thẳng vào mắt nạn nhân. Còn về những lý do giả định của hành động này…

Đâu đó, trong đáy sâu ý thức của tôi, một ý nghĩ đang thành hình, mơ hồ đến mức nó suýt tuột khỏi tôi. Tôi vươn tay tới chỗ bản báo cáo về ngôi nhà của Orre, và bắt đầu lật giở nó. Mắt tôi dừng lại ở bản danh sách những đồ vật tìm thấy trên sàn phòng ngoài. Đúng, đúng là thứ đó: hai que diêm bị bẻ gãy nằm bên cạnh cái đầu của nạn nhân.

Tôi đứng dậy đi tìm điện thoại di động rồi bấm số của Peter. Anh nghe máy gần như ngay lập tức, như thể anh đang chờ cuộc gọi của tôi, giữa cơn bão.

- Hanne đấy à?

- Tôi đã tìm thấy một thứ.

- Tìm thấy, nghĩa là thế nào?

- Trong bản báo cáo của cảnh sát khoa học, ở nhà Orre.

Cả hai chúng tôi cùng im lặng một lát. Tôi nghe có tiếng nhạc ở phía anh.

- À! Sáng mai chúng ta sẽ xem xét được không? Tôi đang về nhà.

- Tôi cho rằng đây là một điểm quan trọng.

Lại im lặng lần nữa.

- Chị đang ở đâu vậy?

Mười lăm phút sau, có người bấm chuông cửa. Tuyết đậu trên mái tóc và chiếc mũi khoằm của Peter, và tôi bỗng muốn được ngả người về phía anh ta để phủi chúng giúp anh ta biết bao, trước khi kịp kìm lòng.

- Vào đi.

Anh ta cởi giày và treo áo choàng vào mắc áo, bên cạnh áo choàng của tôi, rồi đưa mắt nhìn quanh phòng ngoài sáng đèn. Đôi má gầy guộc của anh ta đỏ lựng vì lạnh và những giọt nước lấp lánh trên đôi lông mày màu vàng.

- Căn hộ đẹp đấy. Nó là của chị à?

Tôi lắc đầu.

- Không. Lúc này tôi đang ở nhờ nhà một cô bạn.

Tôi dẫn anh ta vào phòng bếp và chỉ vào mấy cái ghế.

- Anh ngồi đi! Anh muốn uống trà không?

Anh ta lắc đầu.

- Không, cảm ơn. Chị thật tốt quá.

Tôi ngồi xuống bên cạnh anh ta rồi nhặt bản báo cáo lên.

- Bà hàng xóm ấy, bà ta có chạm vào nạn nhân không? Tôi hỏi.

Peter có vẻ sững sờ.

- Người phụ nữ đã tìm thấy cô ta ư?

- Đúng thế.

Peter lùa bàn tay vào tóc rồi ngước mắt nhìn lên trần.

- Có, bà ta có chạm vào cô ta. Nếu tôi nhớ không nhầm, bà ta nói rằng bà ta muốn kiểm tra xem cô ta đã chết thực sự chưa. Cứ như thể ta có thể nghi ngờ chút gì về điều đó ấy…

- Vậy là bà ấy đã chạm vào cái đầu?

- Có thể thế lắm.

- Bà ấy đã di chuyển nó?

Anh ta nhìn thẳng vào mắt tôi. Đôi mắt xanh của anh ta đỏ ngầu, như thể anh ta đã khóc, hoặc thiếu ngủ - tôi nghiêng về giả thuyết thứ hai nhiều hơn.

- Bà ta có di chuyển nó không ư? Không, tôi không nghĩ thế. Nhưng có thể bà ta đã chạm vào nó, đúng vậy.

- Vậy là có thể đã có thứ gì đó… bị xáo lộn tại hiện trường vụ án.

- Hoàn toàn có khả năng đó. Chỉ cần nhìn những dấu chân mà bà ta để lại.

- Bởi vì ở đây có viết…

Tôi lướt tay trên văn bản, tìm kiếm đoạn đã khiến tôi chú ý, rồi nói tiếp:

- Ở đây có viết rằng hai que diêm bị bẻ gãy đã được tìm thấy trên mặt sàn, bên cạnh cái đầu.

Peter cúi người về phía trước, xem xét bản báo cáo.

- Đúng vậy. Hai que diêm, một đồng một krona, một cái bật lửa và một thỏi son bóng hiệu Chanel. Chắc hẳn là những đồ vật mà nạn nhân mang theo trong túi, và đã bị rơi ra đất trong lúc cô ta vật lộn.

- Thế nếu như mấy que diêm không ngẫu nhiên ở đó thì sao?

- Ý cô muốn nói gì?

- Nếu như kẻ sát nhân đã đặt nó vào trong mắt nạn nhân để giữ cho chúng mở to?

Peter xem xét bản vẽ phác họa của cảnh sát khoa học.

- Mấy que diêm được tìm thấy ở đây, tôi vừa nói vừa chỉ vào bản vẽ. Ngay bên cạnh cái đầu. Nếu kẻ sát nhân đặt chúng vào trong mắt nạn nhân, có thể chúng đã bị rơi xuống đất khi người phụ nữ kia chạm vào cái đầu.

Peter thở dài rồi đưa tay lên vỗ trán.

- Vậy điều chị muốn nói, đó là kẻ sát nhân có thể đã muốn đảm bảo rằng đôi mắt nạn nhân phải mở to, giống như trong vụ án mạng Calderón.

- Chính xác.

- Để người bước vào nhà bắt gặp ánh mắt của cô ta.

- Đúng là thế, cả điểm này cũng đã khiến tôi suy nghĩ. Thế nếu như không phải thế, mà là ngược lại?

- Ngược lại?

- Đúng thế, nếu nạn nhân là người bị buộc phải nhìn thì sao?

- Nhưng nạn nhân đã chết rồi.

- Đúng thế, đương nhiên. Nhưng hãy thử nghĩ theo khía cạnh biểu tượng. Kẻ sát nhân sát hại và cắt xẻo nạn nhân của mình. Nhưng như thế còn chưa đủ. Sau khi giết nạn nhân, hắn giữ cho mắt cô ta mở to, để cô ta buộc phải nhìn thấy hắn rời đi. Điều sỉ nhục cuối cùng: tao lấy mạng mày, sau đó tao bỏ đi như thể không hề có chuyện gì xảy ra - và tao buộc mày phải nhìn tao bỏ đi.

Peter tỏ vẻ hoài nghi.

- Chuyện đó thì thay đổi được gì? Cuối cùng anh ta cũng hỏi.

- Nhưng mà anh xem đi, nó thay đổi tất cả! Mở mắt nạn nhân để chắc chắn rằng người bước vào nhà sẽ bắt gặp ánh mắt cô ta, đó là một hành động tấn công nhắm vào thế giới bên ngoài, nhắm vào người khách . Mở mắt nạn nhân để cô ta buộc phải nhìn thấy kẻ giết hại mình rời đi, đó là một hành động nhắm đến nạn nhân.

Sự trả thù cuối cùng. Vì lý do này hoặc lý do khác, kẻ sát nhân coi trọng việc nạn nhân nhìn hắn rời đi. Hãy nghĩ đến điều đó, như một cách thức để tự giải thoát khỏi nạn nhân của mình.

- Và cụ thể thì điều đó có nghĩa là gì?

- Có lẽ là nạn nhân và kẻ sát nhân có mối quan hệ gần gũi với nhau.

- Kiểu quan hệ thế nào?

- Tôi không biết. Quan hệ yêu đương, có lẽ vậy.

Chúng tôi ở trong bếp nhà Gunilla thêm một giờ nữa để trao đổi về hồ sơ vụ án. Peter vẫn không hoàn toàn tin chắc rằng giả thuyết của tôi là khả dĩ. Anh ta rất muốn tin rằng hai que diêm đã được đặt vào trong mắt nạn nhân, nhưng cho dù tôi đã giải thích đi giải thích lại, có vẻ anh ta vẫn không hiểu việc nạn nhân, chứ không phải một ai khác, buộc phải mở mắt nhìn, lại quan trọng đến như vậy.

Dần dà, chúng tôi bắt đầu nói sang chuyện khác, theo một cách thức hơi vụng về: thời tiết, các đồng nghiệp ở sở cảnh sát. Về chính trị, và những thay đổi của thành phố trong mười năm vừa qua. Chúng tôi cũng hỏi han nhau về cuộc sống của mỗi người - không ai trong chúng tôi mạo hiểm nhắc đến sự lạ lùng của cuộc gặp mặt trong một căn bếp, vào một giờ khuya khoắt thế này. Việc sau chừng ấy năm chúng tôi lại trò chuyện với nhau.

Tôi cho phép chính mình cảm thấy một nỗi buồn man mác, khi nghĩ đến những gì chưa từng xảy ra, đến cuộc đời mà chúng tôi đã có thể có cùng nhau.

Khoảng mười rưỡi đêm, anh ta bảo tôi là anh ta phải đi. Rằng anh ta phải dậy sớm để rà soát những cuộc gọi mà trụ sở nhận được nói về người phụ nữ chưa xác định được danh tính kia. Thân hình gầy guộc của anh ta để lộ nỗi kích động khi anh ta đứng dậy, quay trở ra phòng ngoài và vụng về chui vào chiếc áo choàng. Anh ta cúi xuống để xỏ chân vào đôi giày thể thao, chúng thực sự quá mỏng manh để có thể đi vào thời điểm giữa mùa đông.

Anh ta không bao giờ mặc đủ ấm , tôi tự nhủ, nhớ đến chiếc áo khoác bằng da đen cũ kỹ mà anh ta luôn mặc trên người. Cuối cùng, nó sờn đến mức đã rách tơi tả theo đúng nghĩa đen của từ này. Lẽ ra tôi có thể mua cho anh ta một chiếc áo khoác ấm áp hơn, nhưng đó không phải việc ta có thể làm, không phải với tình nhân. Đó là sự ân cần mà ta dành cho một người chồng chính thức.

- Được rồi, anh ta nói. Vậy ngày mai ta gặp nhau nhé?

- Được, hẹn gặp ngày mai, tôi nói với anh ta.

Và thế là chúng tôi đứng đó, người nọ đối diện người kia, trong phòng ngoài nhà Gunilla. Chúng tôi đứng quá gần nhau. Gần đến nỗi tôi ngửi thấy mùi mồ hôi và mùi thuốc lá trên người anh ta, đến nỗi tôi nhìn rõ những nếp nhăn cho thấy bước đi của thời gian trên khuôn mặt anh ta, giống như những vòng tròn đồng tâm trên những thân cây.

Trong một giây, tôi có cảm giác anh ta sắp hôn tôi, bởi vì anh ta khẽ nghiêng người về phía mặt tôi - nhưng rốt cuộc anh ta lại đưa tay cho tôi. Tôi bắt tay anh ta thật nhanh, và đột nhiên cảm thấy cái cảm giác buồn bã khắc khoải vì bị bỏ rơi. Và cả sự giận dữ. Cơn giận dữ khi nhận thấy rằng chỉ một tiếp xúc đơn giản như thế cũng làm sống dậy trong con người tôi ký ức về cái thời kỳ đó.

Rồi anh ta rời đi. Và tôi chỉ còn nghĩ đến một chuyện: anh ta đã bắt tay tôi. Một cách thức mới bất lịch sự biết bao để tạm biệt tôi, trong khi chúng tôi sát gần nhau đến thế… Anh ta không thể chỉ vỗ vai tôi một cái, giống như một người bình thường hay sao?

Anh ta đã bắt tay mình.

« Lùi
Tiến »