Một tuần trước.
Đêm đầu tiên trong căn nhà gỗ. Tôi nhắm mắt và hy vọng rằng cái túi ngủ sẽ giữ đúng lời hứa của nó. Lúc này, cái lạnh vẫn ở mức chịu đựng được, nhưng tôi phải đội mũ và mặc nguyên áo choàng dù nằm bất động trong cái kén bằng polyester màu vàng.
Mình giống hệt con bướm, tôi tự nhủ. Tôi chờ đến thời khắc quan trọng, tôi chờ bản thân mình biến đổi xong để hoàn tất số phận của mình. Tôi chạm tay vào mái tóc ngắn ngủn, thầm tự hỏi không biết Olga và Mahnoor cảm thấy thế nào khi đi đi lại lại trong cửa hàng và nghe cùng một thứ âm nhạc ấy hết ngày này sang ngày khác. Đột nhiên tôi cảm thấy thương hại họ. Họ chỉ là những con thú bị nhốt trong lồng. Tôi cảm thấy mình tự do hơn vô cùng. Tôi không có một xu dính túi, tôi đã bị bỏ rơi, nhưng tôi tự do. Và chẳng bao lâu nữa, rất sớm thôi, tôi sẽ hoàn tất những gì tôi đã bắt đầu.
Kế hoạch của tôi rất đơn giản. Tôi chờ cho cô ả tóc vàng và đứa trẻ ra khỏi nhà, rồi đột nhập để có thể mặt đối mặt nói chuyện với Jesper. Tôi sẽ buộc Jesper phải lắng nghe tôi, cho dù có phải đe dọa anh ta. Và lần này, anh ta sẽ không thoát khỏi tay tôi. Tôi xứng đáng được biết sự thật.
Tôi không biết chuyện gì sẽ xảy ra sau đó. Nhưng tôi sẽ không làm hại anh ta, tôi không phải là một con quái vật.
Quái vật là một con người nói dối và phản bội. Một kẻ phá hoại, phá hủy chỉ để cho vui. Là kẻ để mặc cuộc đời của một người khác tan hoang hơn cả một cánh đồng bị ngập lụt, một thành phố bị ném bom hoặc một cánh rừng bị cháy.
Quái vật là một kẻ đã làm tất cả những chuyện đó và vui thích khi làm những chuyện đó.
Giống như Jesper.
Mẹ tôi không ngừng bảo tôi phải đề phòng lũ đàn ông, bởi vì họ luôn chỉ có một ý nghĩ trong đầu. Đối với tôi, điều đó có nghĩa là họ sẽ lấy cắp của tôi thứ gì đó: một phần phẩm giá hoặc một phần sự độc lập của tôi, có lẽ thế. Tôi những muốn mẹ cho tôi biết sự thật: đám đàn ông mà ta để cho lại gần ta, ta sẽ không bao giờ rũ bỏ được họ. Cứ như thể họ đã dính chặt vào ta, cả cuộc đời.
Jesper. Ốc Vít.
Tôi mang họ theo cho dù có đi đến nơi nào. Họ ám vào suy nghĩ và mơ ước của tôi. Ngay cả thân thể tôi cũng nhớ họ: mùi vị làn da ấm nóng và mềm mại của họ áp vào làn da tôi, những tiếng rên rỉ nghẹn ngào và tiếng hổn hển của họ sát bên tai tôi.
Tôi những muốn họ biến mất sau khi tôi tắm giống như lớp cáu ghét, tôi những muốn xà phòng và nước có quyền năng đối với những gì bản thân tôi không thể loại bỏ khỏi tâm trí mình. Tôi những muốn, nhờ một phép mầu nào đó, có thể quay lại một thời khắc nào đó, khi mà tôi còn chưa gặp họ. Một thời khắc khi tôi còn tràn trề hy vọng, khi tôi còn nuôi dưỡng một hình ảnh trong trẻo - dù ngây thơ - về cuộc đời tôi trong tương lai.
Tôi thức giấc vì có thứ gì đó cù vào má. Ánh sáng xám xịt lọt qua những ô cửa kính bẩn thỉu mà lớp băng đã phủ kín trong đêm. Mặc dù nhiệt độ hẳn đã xuống tới mức dưới không, tôi vẫn không cảm thấy lạnh, nhưng gáy và vai tôi đau nhức sau một đêm nằm trên chiếc ghế xô pha vừa cứng lại vừa quá chật này.
Tôi khó nhọc ngồi dậy, vươn tay lấy bình cà phê rồi rót thứ chất lỏng nóng bỏng đó vào cốc. Sàn nhà lạnh như băng. Tôi lập tức xỏ chân vào chiếc quần mặc ngoài rồi đến bên cửa sổ, tay cầm ống nhòm. Tôi liền nhận ra lớp băng dính trên mặt trong của cửa kính. Tôi đưa ống tay áo lau đi để nhìn cho rõ hơn. Bầu trời có màu xám thép, như thể đang ngậm đầy tuyết. Con dốc xuôi xuống phía nhà Jesper phủ một lớp tuyết dày trắng tinh. Không có người nào, cũng không có con chó hay một đứa trẻ chạy xe trượt tuyết nào, mạo hiểm đến gần nơi ẩn náu của tôi.
Tình huống này gần như hài hước.
Họ đang ngồi ở bàn bếp ăn sáng, vẫn ở nguyên vị trí như khi tôi nhìn thấy họ lần cuối cùng tối qua. Cứ như thể họ đã ngồi đó cả đêm, và chỉ thay thế món thịt bằng sữa lên men và ngũ cốc. Cô bé tóc vàng cũng ngồi đó, mặc một thứ trông như pyjama kẻ sọc. Người phụ nữ tóc nâu mặc một chiếc áo choàng trong nhà bằng vải dày màu trắng, kiểu áo choàng mà ta vẫn thấy trong các quảng cáo spa. Jesper vẫn ngồi xoay lưng về phía tôi, như thể anh ta biết tôi đang ở đâu và toàn thân anh ta muốn chứng tỏ rằng tôi là thứ cuối cùng anh ta để tâm đến.
Anh quay lưng về phía tôi, nhưng anh sẽ không thoát được tôi đâu , tôi tự nhủ. Bây giờ thì tôi đang ở ngay gần anh đây. Tôi chỉ cần giơ tay ra là chạm được vào anh, sờ được vào cái cuộc sống hoàn hảo của anh. Lướt tay qua nó và khiến nó sụp đổ như một tòa lâu đài xếp bằng quân bài.
Ý nghĩ ấy khiến tôi phấn chấn hẳn lên. Tôi lấy bánh mì và thịt nguội ra khỏi cái túi mà tôi đã cất bên dưới cái bếp nướng han gỉ. Rồi chúng tôi ăn sáng cùng nhau - rốt cuộc, đấy cũng chỉ là một cách nói mà thôi. Tôi ngốn ngấu bữa sáng trong lúc nhìn họ ăn bữa sáng của họ. Một lát sau, Jesper ra khỏi phòng bếp. Người phụ nữ và đứa bé gái vẫn ngồi lại. Chừng năm phút sau anh ta trở vào, trên người mặc trang phục thể thao. Cô nàng tóc nâu vẫn ngồi bên bàn liền ngả người ra sau. Cái áo choàng của cô ta bung ra. Jesper cúi xuống hôn cô ta, đồng thời thò một tay vào bên trong chiếc áo choàng, về phía bầu ngực cô ta.
Tôi đặt ống nhòm lên đầu gối, cố sức nhắm mắt càng chặt càng tốt. Tôi giày vò vết thương ở bàn tay. Lớp băng rơi ra, và máu chảy xuống sàn nhà. Thật lạ lùng, lần nào cũng đau đớn y nguyên như thế. Tôi biết rằng anh ta lừa dối tôi. Đây không phải là một tin vịt. Tôi đã đến nhà họ, tôi đã nhìn thấy họ ở cùng nhau. Tại sao nó vẫn khiến tôi đau đớn như vậy? Tại sao vẫn là nỗi đau khổ không thể chịu đựng nổi này?
Tôi nhặt lại chiếc ống nhòm, vừa kịp nhìn thấy Jesper bắt đầu chạy về phía bờ sông. Rồi anh ta biến mất. Phòng bếp lúc này đã vắng lặng. Chỉ còn một chiếc cốc nằm chơ vơ trên bàn.
Qua ống nhòm, tôi đưa mắt nhìn một lượt phía trước ngôi nhà, rồi hướng lên phía cửa sổ tầng trên. Rèm cửa phòng ngủ của Jesper đã kéo kín, nhưng tôi nhìn thấy đứa bé gái ở cửa sổ bên cạnh. Không thể nhìn thấy con bé đang làm gì, nhưng cái đầu nhỏ bé tóc vàng của nó chuyển động nhấp nhô trong căn phòng, như thể nó đang chạy nhảy tứ phía. Rồi cả nó cũng biến mất. Ngôi nhà dường như trống rỗng, hoang vắng, nhưng tôi biết rằng họ ở đó, bên trong nhà, bởi vì họ không ra ngoài.
Tôi quyết định nghỉ ngơi một lát. Tôi đi tiểu vào cái xô nhựa cũ màu đỏ đặt trong một góc nhà, đánh răng rồi lùa tay vào mái tóc ngắn. Sau đó, tôi quay trở lại chỗ ngồi trên ghế xô pha, dán mắt vào căn biệt thự. Chừng nửa tiếng sau, Jesper quay về. Tôi nhìn thấy anh ta chạy ngược con phố với vẻ thận trọng, như sợ bị trượt chân hoặc bị ngã. Anh ta dừng lại, đu người vào một thân cây để làm vài động tác giãn cơ trước khi xuôi về phía cổng vào nhà.
Hôm nay là Chủ nhật. Một gia đình hoàn hảo làm gì vào một ngày Chủ nhật ở một vùng ngoại ô hoàn hảo? Họ đến bảo tàng chăng? Làm đèn lồng bằng tuyết? Mời những người bạn hoàn hảo đến ăn trưa với trứng ốp lếp, nước quả đá xay và bánh mì men nở vừa lấy khỏi lò nướng?
Lẽ ra người đó phải là mình.
Lẽ ra tôi phải ở đó, trong ngôi nhà đó, thay cho cô ả tóc nâu kia. Và đúng lúc đó, tôi nhận ra mình căm thù cô ả đến mức nào.
Ngày trôi đi mà không có chuyện gì xảy ra. Tôi ăn bánh mì kẹp thịt và tìm cách sưởi ấm trong khả năng của mình. Không còn cà phê, tôi đành tấn công lon soda - may thay nó không bị đóng đá trong đêm.
Đột nhiên, mẹ tôi hiện ra trong tâm trí tôi như một con rối trong một nhà hát thu nhỏ. Tôi không rõ tại sao - có thể là vì, cũng giống hệt như Jesper, bà đã sống trong dối trá…
Một buổi sáng, bệnh viện gọi cho tôi, đúng lúc tôi đang sắp sửa đi làm. Thoạt tiên, tôi lưỡng lự không muốn nghe máy: tôi đã bị muộn, và một lần muộn đồng nghĩa với một chấm đỏ. Ít nhất là nếu Björne mới bảnh mắt ra đã khó ở.
Người phụ nữ ở đầu dây đằng kia nói với tôi rằng bà là bác sĩ, và giải thích rằng mẹ tôi bị ốm, rằng bà đã đến khoa cấp cứu tối qua và đã được giữ lại để theo dõi và làm các xét nghiệm bổ sung.
- Bà ấy thế nào rồi? tôi hỏi, chiếc điện thoại kẹp giữa tai và vai, và đóng cửa nhà trước khi chạy xuống cầu thang.
- Chúng tôi còn chưa biết chính xác bà ấy bị bệnh gì, nhưng tình trạng của bà ấy ổn định. Không có nguy hiểm gì đến tính mạng, không đâu, nhưng bà ấy khá lo lắng và đã nhiều lần đòi được gặp cô.
- Bà ấy đòi gặp tôi?
Đã nhiều tháng nay mẹ tôi không cho tôi biết tin tức gì về bà, và tôi khó mà tin được rằng bà nhớ tôi. Kể cả khi bà đơn độc và đau ốm.
- Đúng thế. Bà ấy mong cô đến thăm bà ấy.
Im lặng.
- Giờ thăm bệnh nhân là từ hai giờ đến sáu giờ chiều, bà bác sĩ tiếp tục. Tôi nói với bà ấy là cô sẽ ghé qua nhé?
- Vâng. Tôi sẽ đến, tôi nghe thấy chính mình trả lời trong lúc đi ra phố.
Tôi gác máy rồi chạy vội đến trạm dừng tàu điện ngầm, mắt nheo lại vì ánh sáng chói lóa của mặt trời mùa xuân, len lỏi giữa những vũng băng, hít hà mùi đất ẩm và mùi lá mục của năm trước.
“Bà ấy khá lo lắng và nhiều lần đòi gặp cô.”
Tôi bối rối. Tôi biết rằng tôi phải đến bệnh viện ngay khi có thể. Ít nhất thì cũng để hiểu tại sao mẹ tôi đột ngột lại có nhu cầu gặp tôi gấp rút như vậy.
Bà ở một mình trong một căn phòng nằm cuối một hành lang sáng rực. Căn phòng giống với tất cả các phòng bệnh khác: một chiếc giường, một chiếc bàn nhỏ có bánh xe và một chiếc ghế tròn mạ crom, một chiếc tivi gắn trên tường. Vài ngăn tủ có khóa và bên cạnh là một bồn rửa mặt có trang bị những lọ xà phòng và gel khử khuẩn muôn thuở.
Mẹ tôi ngồi trên giường và đang lật giở một tạp chí phụ nữ. Tôi không biết mình chờ đợi điều gì, nhưng tôi tưởng là bà phải ốm yếu hơn thế. Tôi không nghĩ rằng bà lại mặc trang phục thể thao và đang đọc những chuyện ngồi lê đôi mách mới nhất.
- Emma, con cưng của mẹ!
Bà tháo cặp kính đọc sách, hất gọn món tóc nhuộm phai màu xõa trên trán, nhưng không có ý muốn đứng dậy. Mùi thức ăn từ hành lang bay tới mũi chúng tôi. Đang là giờ ăn trưa.
- Chào mẹ. Mẹ thế nào rồi?
Tôi khó nhọc tháo cái túi và cởi áo choàng rồi ngồi lên chiếc ghế tròn đặt bên cạnh giường. Mẹ tôi đặt cuốn tạp chí lên tấm chăn màu vàng bằng vải thô mà bà đang đắp chân, và nhìn tôi bằng tôi mắt hẹp thụt sâu.
- Những gì ta phải chịu đựng trong cái lỗ này thật điên rồ. Tôi nhận thấy bà lảng tránh câu hỏi của tôi.
- Vậy sao?
Bà húng hắng ho, đặt tay lên bụng, như thể bà đang bị đau.
- Họ đánh thức bọn mẹ lúc sáu giờ sáng. Sáu giờ sáng! Con có hiểu không? Sau đó, họ hết vào lại ra, suốt cả ngày. Toàn những người xa lạ. Và toàn là dân nhập cư! Mẹ không nói đó là lỗi của họ, nhưng tiếng Thụy Điển của họ tệ đến nỗi ta chẳng thể hiểu họ nói gì. Làm sao ta có thể chăm sóc cho một ai đó nếu ta không thể giao tiếp với người ấy? Và đêm qua, có một phụ nữ khác trong phòng, cùng với mẹ. Bà ta ngáy to đến nỗi mẹ không thể nào chợp mắt nổi. Mẹ đã than phiền với người trực đêm, nhưng có vẻ họ không còn phòng nào khác. Cuối cùng, mẹ đành xin một viên thuốc ngủ, nhưng họ không cho. Họ đối xử như thể mẹ là một con nghiện lên cơn vật thuốc. Thật điên rồ! Ta cày cuốc suốt đời, ta đóng đủ loại thuế… và ta bị đối xử như thế đấy, vào cái ngày ta cần được giúp đỡ!
Tôi không muốn nhắc để mẹ tôi nhớ rằng trong phần lớn cuộc đời làm người trưởng thành của mình, bà đã không làm việc, nhưng lại được hưởng trợ cấp cho người tàn tật. Bà đưa bàn tay béo tốt lên lau một giọt lệ vô hình.
- Không đâu, Emma bé nhỏ của mẹ ạ, chẳng có gì vui vẻ cả, khi ta già đi và đau ốm. Mẹ có thể khẳng định điều đó.
Bà lại nhìn tôi bằng ánh mắt hối thúc, như thể bà đang tìm kiếm sự ủng hộ từ tôi, nhưng tôi vẫn im lặng, không biết nói gì. Một nữ hộ lý bước vào phòng, trên tay cầm một cái khay. Chiếc áo bờ lu của cô ta trắng đến lóa mắt trên làn da đen.
- Mẹ vừa nói gì với con hả? mẹ tôi vừa thì thầm vừa hất đầu về phía người phụ nữ.
- Hôm nay, bà sẽ có một bữa ăn lỏng, thưa bà, nữ hộ lý vừa nói vừa mỉm cười.
Cô ta đặt chiếc khay lên mặt bàn cạnh đầu giường. Mẹ tôi không trả lời, mà chỉ nhìn món xúp màu hạt dẻ sáng với vẻ ghê tởm.
- Họ mong tôi ăn thứ này sao? Đây là đồ ăn cho chó thì có!
Bà khoắng thìa trong bát xúp, rồi đặt lại nó vào khay.
- Đã xảy ra chuyện gì vậy, hả mẹ?
Mẹ tôi vẩy tay, như để chứng tỏ rằng việc đó không quan trọng.
- Họ không biết. Thứ gì đó trong bụng. Không thể tin họ lại không thể chẩn đoán cho mẹ sớm hơn, có không biết bao nhiêu người đến quấy rầy mẹ rồi!
Bà khẽ nhếch miệng cười.
- Nhưng… khi nào mẹ có thể về nhà?
Mẹ tôi nhún vai.
- Điều duy nhất tích cực trong toàn bộ chuyện này, đó là ta cảm thấy biết ơn vì đã có những thứ ta đang có.
Mẹ nhìn tôi. Bên dưới phần xương trán, đôi mắt bà thụt sâu đến nỗi không thể nào xác định nổi màu mắt của bà. Hai má bà đỏ ửng và dường như phồng lên, giống như bà đang nhồi đầy bông trong miệng.
- Chúng ta ở đây là người này vì người kia, Emma ạ, bà vừa nói vừa đột ngột chộp lấy tay tôi.
Nếu bà có tuyên bố với tôi rằng bà sắp sửa bay lên mặt trăng, thì có lẽ tôi cũng không ngạc nhiên hơn thế. Trong suốt năm năm vừa qua, chúng tôi chỉ gặp nhau hai lần, có lẽ thế. Làm sao bà có thể nói rằng chúng tôi ở đây là người này vì người kia?
Mẹ tôi thở ra một hơi thật dài rồi cố gắng lau một giọt nước mắt vô hình bằng bàn tay còn rảnh rỗi, đồng thời tay kia của bà siết chặt đến nỗi các ngón tay tôi tê dại.
- Con còn nhớ không, Emma? Chúng ta từng sung sướng biết bao. Cha con, con và mẹ. Thế rồi cha con… qua đời, chúng ta đã an ủi nhau. Mẹ thấy rằng chúng ta từng là một gia đình mạnh mẽ. Chúng ta giúp đỡ nhau hết khả năng của bản thân. Thậm chí, có lẽ những khó khăn đã giúp chúng ta mạnh mẽ hơn. Có vẻ những thứ như thế khiến ta xích lại gần nhau hơn. Không phải sao?
Tôi như bị hóa đá trên ghế. Tôi không tin vào tai mình nữa. Chúng tôi từng là một gia đình hạnh phúc khi nào vậy? Và cái ý tưởng rằng việc cha tôi tự sát có lẽ đã khiến mẹ và tôi xích lại gần nhau ấy mới thật phi lý làm sao! Những lần duy nhất tôi cảm thấy mình gần gũi với mẹ - dù sao cũng là về mặt thể xác - là khi tôi dẫn mẹ về giường bởi vì bà đã ngủ thiếp đi ở bàn ăn hoặc trong phòng vệ sinh. Những lần duy nhất tôi giúp đỡ mẹ là khi tôi đi mua thuốc lá hoặc thuốc Samarin để mẹ giải rượu. Và tôi không nhớ mẹ có bao giờ giúp đỡ tôi không.
- Mẹ không tiếc nuối gì hết…
Và thế là bà òa khóc nức nở, lần này, tôi nhìn thấy những giọt nước mắt thực thụ lăn dài trên đôi má phúng phính của bà.
- Nhưng mẹ vẫn muốn cha con ở với chúng ta lâu hơn. Ông ấy là một người tuyệt vời, và cha mẹ yêu nhau biết bao.
Bà thốt ra những lời cuối cùng bằng một giọng gần như thì thầm. Những trận cãi cọ của cha mẹ trở lại trong tôi, giống như những cái bóng đen trước mắt. Những cái bóng rất mơ hồ, nhưng vẫn hiện diện ở đó, giống như những phân đoạn của một cuộc đời không còn tồn tại. Những cái đĩa bay ngang phòng bếp. Những tiếng la hét. Cảnh sát gõ cửa lúc đêm khuya vì hàng xóm than phiền. Con bướm xanh với đôi cánh rách nát nằm giữa đống thủy tinh vỡ trên sàn nhà.
Trong một thoáng, tôi tự hỏi liệu tôi có nên phản đối, nhắc cho mẹ tôi nhớ những chuyện đã thực sự xảy ra trong căn hộ chật hẹp ở Södermalm ấy, nhưng rồi tôi tự nhủ có làm thế cũng chẳng ích gì, rằng hình ảnh mà bà đã cẩn thận xây dựng kia sẽ không thể thay đổi được. Rằng thế giới quan của bà nằm ở đó, trong phòng, giữa chúng tôi, giống như một con voi, và không cho phép chúng tôi thực sự gặp nhau. Đột nhiên, tôi cảm thấy mệt mỏi. Tôi chỉ có một mong muốn: về nhà tôi và đi ngủ. Không còn nghĩ gì đến người phụ nữ béo phì nằm dài trên chiếc giường bệnh viện này, người phụ nữ nói dối tôi, nói dối chính bà, và hẳn là nói dối tất cả những người nào muốn nghe bà nói.
- Con phải đi rồi.
Giọng tôi chỉ còn là một lời thì thầm.
- Sớm thế sao?
Bà lập tức thôi sụt sịt, như thể có một ai đó đã bấm vào một cái nút điều khiển.
- Con có một cuộc họp ở chỗ làm, tôi nói dối.
Trong lúc đi ra hành lang, một ý nghĩ đập vào tâm trí tôi: mẹ tôi không lần nào hỏi tôi có ổn không. Bà không thể hiện bất cứ chút quan tâm nào đối với tôi. Như thể tôi không hề tồn tại.
Trời lạnh đến mức răng tôi va vào nhau lập cập. Thỉnh thoảng, tôi nhìn thấy Jesper, cô ả kia hoặc đứa trẻ đi lại trong một căn phòng trong nhà. Việc theo dõi một ngôi nhà mà không để mình bị mất tập trung khó hơn tôi tưởng. Mà cái ống nhòm thì nặng. Sau vài giờ, cánh tay tôi mỏi nhừ, còn các ngón tay thì lạnh cóng. Tôi đã thử đeo găng tay, nhưng như thế thì lại rất khó cầm ống nhòm, nên tôi không có cách nào khác đành cất chúng vào túi.
Suýt thì tôi bỏ lỡ việc cô ả kia và đứa bé gái rời khỏi nhà và đi ra phố. Trời đã bắt đầu tối. Bầu trời vẫn sáng, nhưng khung cảnh u ám hơn và các ô cửa sổ đã sáng đèn. Cô ả và đứa bé ngồi vào một chiếc Volvo màu đỏ và lái xe về phía trung tâm thành phố.
Tôi chậm rãi đứng dậy. Hai chân tôi cứng đờ sau nhiều giờ chịu lạnh. Họ đi rồi. Hẳn là lúc này Jesper đang ở một mình.
Tôi đi vài bước đến bên cửa sổ rồi hướng ống nhòm về phía căn biệt thự. Đột nhiên, tôi cảm thấy một luồng hơi ấm dâng lên. Hai bàn tay tôi được thư giãn và đầy sức sống trở lại. Hai má tôi nóng bừng, tim tôi đập thình thình, như thể nó muốn thoát khỏi lồng ngực.
Jesper đang ngồi bên bàn ăn, với chiếc máy vi tính trước mặt. Bên cạnh anh ta, trên chiếc ghế dài, có một ly rượu vang. Và một chiếc đĩa đựng một lát bánh mì phết mứt.
Đã đến lúc rồi.
Tôi đứng trên thềm nhà, ngón tay đặt trên nút chuông. Đã đến lúc rồi. Tôi không thể làm gì để ngăn cản điều tất yếu xảy ra. Có thể tất cả đã được quyết định từ rất lâu rồi, có thể đây chính là cái kết cục lô gich của một chuỗi những sự kiện mà Jesper đã kích hoạt vào buổi tối anh ta biến mất. Đúng thế, chắc hẳn là thế, tôi cố gắng tự thuyết phục mình như vậy. Tất cả đã bắt đầu vào thời điểm ấy, khi tôi ở trong khu bếp nhà mình để chuẩn bị món bánh mì nướng pho mát dê cho bữa tối đính hôn của chúng tôi. Mọi chuyện đã bắt đầu từ đó.
Chính anh ta đã khởi động tất cả.
Ý nghĩ ấy khiến tôi có thêm sức lực. Tôi nhấn vào nút chuông và nghe có tiếng vù vù bên kia cánh cửa. Không phải là một âm thanh êm tai. Không phải tiếng đinh đoong hay tiếng leng keng khe khẽ, mà là tiếng gầm gừ hung hãn.
Thoạt tiên, tôi tưởng anh ta không nghe thấy, vì chẳng có gì xảy ra cả. Rồi anh ta mở cánh cửa ra và đứng đó. Đỉnh điểm của sáng tạo. Người đàn ông thế lực đã phá vỡ cuộc đời tôi, đã di nát nó dưới chân mà không thể hiện chút tiếc nuối nào. Hôm nay, anh ta không còn giống trước đây cho lắm. Tóc anh ta muối tiêu nhiều hơn so với ký ức của tôi, và khuôn mặt anh ta có vẻ hốc hác mệt mỏi, như thể anh ta đã mắc một căn bệnh khiến anh ta mòn mỏi hoặc đã không ngủ từ rất lâu rồi.
- Xin chào, tôi nói.