Trong phần bình luận có khá nhiều người hỏi về biển số xe, ở đây tôi xin giới thiệu qua một chút.
Hệ thống xem biển số xe có rất nhiều loại, có người dùng Bát Tinh, có người dùng Kỳ Môn, có người dùng Mai Hoa, có người dùng Hà Đồ, lại có người dùng Ngoại Ngũ Hành của Định luật Tam giác vạn sự (còn được gọi là Cửu Thiên Huyền Số, Số Tự Thần Đoạn), v.v.
Trước đây tôi đã từng nói, đối với các môn phái khác nhau, có thể kiêm cố được bao nhiêu thì tốt bấy nhiêu.
Về Bát Tinh tôi đã nhắc tới ở phần trước, ở đây xin nhắc lại một cách vắn tắt.
Bạn có thể bỏ qua các chữ cái, trực tiếp xem tổ hợp các con số.
Cũng có thể đổi chữ cái thành con số, A=1, B=2, C=3... cứ thế suy ra, Z=26.
Sau khi đổi chữ cái thành số, hãy kết hợp chúng với những con số vốn có trên biển số xe để xem xét.
Chỉ cần chọn một phương pháp mà bạn ưa thích là được, có thể kiêm cố được thì càng tốt, nhưng cũng không cần phải theo đuổi sự hoàn hảo tuyệt đối.
Kỳ Môn và Mai Hoa quá phức tạp nên tôi sẽ không đề cập đến, dưới đây sẽ tập trung nói về hai phương pháp giải đoán là Hà Đồ và Ngoại Ngũ Hành.
Lý luận của Hà Đồ và Ngoại Ngũ Hành khá tương đồng, đều là xét về ngũ hành của các con số.
Một đằng là tránh sự tương khắc giữa các con số với nhau.
Một đằng là chọn các con số sao cho ngũ hành của chúng phù hợp với hỷ dụng thần của bản thân.
Ngũ hành của Hà Đồ khá đơn giản.
Hà Đồ có thể xem như là Thái Cực đồ, chính Đông là Mộc, chính Nam là Hỏa, chính Tây là Kim, chính Bắc là Thủy, trung ương là Thổ.
Bắt đầu từ chính Bắc (ngũ hành thuộc Thủy), xoay theo chiều kim đồng hồ, số lẻ là Dương: 1, 3, (5), 7, 9. (Dương ngư)
Bắt đầu từ chính Nam (ngũ hành thuộc Hỏa), xoay theo chiều kim đồng hồ, số chẵn là Âm: 2, 4, 6, 8, (10). (Âm ngư)
5 và 10 nằm ở trung tâm, ngũ hành thuộc Thổ.
Ngũ hành của Định luật Tam giác cũng đơn giản, nhưng cần lưu ý rằng Ngoại Ngũ Hành sử dụng ngũ hành của Địa chi, tuy nhiên lại có chút khác biệt so với ngũ hành Địa chi thông thường, đừng để nhầm lẫn.
Chúng ta hãy xem qua ngũ hành Địa chi trước, sau đó đối chiếu với Ngoại Ngũ Hành của Định luật Tam giác.
Ngũ hành Địa chi là mùa xuân thuộc Mộc, mùa hè thuộc Hỏa, mùa thu thuộc Kim, mùa đông thuộc Thủy, Địa chi cuối cùng của mỗi mùa thì ngũ hành thuộc Thổ.
Ngoại Ngũ Hành của Định luật Tam giác cũng tương tự.
Mặc dù phương hướng lớn vẫn là Đông thuộc Mộc, Nam thuộc Hỏa, Tây thuộc Kim, Bắc thuộc Thủy, bốn vị trí chính (Tý, Ngọ, Mão, Dậu) ngũ hành nhất quán, nhưng bốn cung góc lại có một số khác biệt.
Ví dụ con số 2, tương ứng với Sửu Ngưu, trong Địa chi ngũ hành thuộc Thổ, nhưng trong Ngoại Ngũ Hành lại tính là Thủy (1, 2, 12 tuy đều thuộc Thủy, nhưng còn có phân chia nhỏ, ví dụ 1 là nước ngầm, 12 là nước trên trời. Còn 2 nằm ở cung Cấn Thổ, đại diện cho nước đục, sông ngòi hồ biển, bùn lầy, v.v.)
Lại ví dụ con số 3, tương ứng với Dần, trong Địa chi thuộc Mộc, ở đây lại thuộc Thổ.
Con số 5, tương ứng với Thìn, trong Địa chi thuộc Thổ, ở đây thuộc Mộc.
Con số 9, tương ứng với Thân, trong Địa chi thuộc Kim, ở đây thuộc Thổ.
Con số 11, tương ứng với Tuất, trong Địa chi thuộc Thổ, ở đây thuộc Kim.
Ngoài ra, ở các góc còn có biến số.
Ví dụ số 3, Dần Hổ, tuy ngũ hành thuộc Thổ, nhưng dù sao cũng nằm ở phương Đông, chứa khí Mộc, nên khi 3 gặp 8 hoặc 9 thì luận là Mộc, Mộc khắc Thổ (không phải quan hệ huynh đệ).
Còn số 9, Thân Hầu, tuy ở đây luận ngũ hành là Thổ, nhưng dù sao cũng nằm ở phương Tây, chứa khí Kim, khi gặp Mộc sẽ có lực của Kim khắc Mộc.
Với tổ hợp nhiều con số, con số ở giữa đại diện cho bản thân. Nếu chỉ có hai con số, con số phía trước đại diện cho bản thân.
Người khác sinh ra mình là cát, tương khắc hoặc mình bị tiêu hao là bất cát.
Ngoài việc tránh tương khắc, còn phải tránh tương xung và tương tuyệt.
Tương xung thống nhất với Lục xung trong Địa chi, tức là những cặp số chênh lệch nhau 6 đơn vị là xung, ví dụ 1-7, 2-8, 3-9, v.v., cứ thế suy ra.
Tương tuyệt cũng gần như thống nhất với các cung Tuyệt mệnh trong Bát Tinh. (Xem hình)
Hai cung được nối bởi đường kẻ tím là Tuyệt mệnh của nhau trong Bát Tinh.
Tương ứng với Tuyệt mệnh của cung Khảm 1 và Khôn 2, thì 1-8 và 1-9 trong Ngoại Ngũ Hành là tương tuyệt.
Tương ứng với Tuyệt mệnh của cung Càn 6 và Ly 9, thì 7-11 và 7-12 trong Ngoại Ngũ Hành là tương tuyệt.
Tương ứng với Tuyệt mệnh của cung Chấn 3 và Đoài 7, thì 4-10 trong Ngoại Ngũ Hành là tương tuyệt.
Tương ứng với Tuyệt mệnh của cung Tốn 4 và Cấn 8, thì 3-5, 3-6, 2-6 trong Ngoại Ngũ Hành là tương tuyệt. (Lưu ý: 3-6 không luận theo tương sinh, 2-5 không luận theo tương tuyệt.)
Các tổ hợp tương tuyệt có tất cả 8 nhóm, còn gọi là Bát Tuyệt.
Nhiều hệ thống như vậy, khi kiêm cố thì dùng thế nào?
Ví dụ 141, trong Ngoại Ngũ Hành luận là Thủy - Mộc - Thủy, trong Hà Đồ số là Thủy - Kim - Thủy, trong Bát Tinh luận là Sinh Khí + Sinh Khí, nếu hỷ dụng thần của chủ xe vừa hay là Thủy, Mộc hoặc Kim thì chính là phù hợp.
Tất nhiên, trong cách giải đoán của Kỳ Môn và Mai Hoa thì tự nhiên vẫn còn những cách nói khác.
Đời người khó được hoàn mỹ, có thể tránh được những sự sinh, khắc, xung, tuyệt quan trọng đã là tốt lắm rồi.
Thuật, suy cho cùng cũng chỉ là tiểu thuật.
Nỗ lực từ cấp độ nâng cao năng lượng của bản thân mới là điều then chốt hơn cả.