Mấy ngày qua, những tin đồn đáng sợ báo hiệu điềm dữ bao trùm lên khắp Grozny. Mọi người bàn tán về nó khắp nơi, trong bệnh viện, ngoài chợ, bến xe buýt. Cũng như những người khác, Roza không tin và cũng không muốn tin vào điều đó.
Đang là giữa mùa hè, gần hết tháng Sáu, thời tiết trong thành phố rất nóng, thậm chí oi bức nữa. Ba giờ chiều, sau khi đã xong công việc, như mọi ngày, trên đường về nhà, Roza ghé vào chợ rau. Ở đây, giữa đống bụi bặm, rác rưởi lưu cữu, trong sự chen lấn ùn tắc là vô số những khuôn mặt đủ mọi thành phần, dân sự, quân sự và những người khác chẳng biết là gì. Khắp nơi ồn ào, vội vã, tất bật, tiếng nhạc vang lên ầm ĩ, các bà bán hàng khẩn khoản mời mọc, những con chó béo núc nằm ngủ bên các hàng thịt, lưỡi lè ra vì nóng, lũ mèo lười biếng luẩn quẩn bên chân các bà bán cá, còn lũ chim sẻ và chim bồ câu thì chầu chực bên các hàng bán bánh mì.
Roza lang thang khá lâu trong chợ, mua cho Cậu bé một chùm dâu tây chín muộn, mấy quả mơ và kem, rồi mua thêm vài thứ nữa. Sau khi đã mệt nhoài, mồ hôi đầm đìa, không mở nổi mắt nữa, chị mới thở phào bước ra khỏi cái chốn đông đúc ấy, chợt có ai đó từ phía sau chạm vào cái túi xách của chị:
- Cô gái, có cần giúp không? - Giọng nói bằng tiếng Nga rất chuẩn.
- Ồ không. - Roza gạt tay ra, nhưng chàng trai trẻ đeo kính râm, trông rất khả ái vẫn bướng bỉnh bám theo. - Tôi không cần anh giúp đâu… Ôi, Baga, cậu đấy à? Xin thề, tôi không thể nhận ra được.
Baga đã cạo râu nhẵn nhụi, khuôn mặt sáng sủa, ăn mặc rất mốt, tâm trạng cũng có vẻ thoải mái, cặp mắt thì không thấy, chỉ có nét hung dữ là vẫn hiện lên trên hàm răng trắng bóng.
- Bây giờ trông cậu khá hơn rồi đấy. - Roza vui mừng thật sự. - Điển trai lắm! Khi cậu khoác bộ trang phục bẩn thỉu, chui rúc trong tầng hầm và khe cổng, chắc là chấy rận đầy râu.
- Ha, ha, ha. - Baga bật cười thoải mái.
Hai người không nói chuyện gì khác ngoài chuyện hòa bình vui vẻ và đi ra cách chợ một đoạn.
- Vậy là cậu sẽ vĩnh viễn bỏ rơi tôi và “địa bàn của mình” hả? - Roza tò mò hỏi.
- Làm sao tôi có thể bỏ rơi chị và nhất là “địa bàn” của tôi được. - Baga đáp lại bằng một giọng đùa cợt. - Chị biết đấy, tôi rất nhớ Cậu bé và tiếng đàn của nó. Chính tôi cũng không ngờ… Khoan đã. - Baga nhìn quanh rồi bước về phía những quầy hàng nằm dọc theo cửa hàng thời trang đã bị sụp đổ trên đại lộ Chiến thắng, ngắm nghía rất lâu mới chọn được một chiếc xe ô tô đồ chơi to và đẹp: - Tặng cho Cậu bé.
Không hiểu tại sao lúc ấy Baga lại tỏ ra rất nghiêm túc, thậm chí còn có vẻ lo lắng nữa. Anh ta lấy kính râm ra, bước lại gần Roza và nắm lấy khuỷu tay chị:
- Chị cứ bình tĩnh, nhưng hãy nói cho người thân của mình biết, chẳng bao lâu nữa, thành phố này chắc chắn sẽ biến thành một chảo lửa khủng khiếp.
- Lạy Chúa tôi! Chẳng lẽ đúng vậy sao? Cả thành phố cứ bàn tán mãi về chuyện đó.
- Tốt hơn là mọi người hãy biến khỏi thành phố cho đến cuối hè.
- Chúng tôi biết “biến” đi đâu bây giờ? Bà Anastasya lê lết trên đôi chân, rất có thể bị đột quỵ. Còn Cậu bé, cậu biết rồi đấy, không thể rời ngôi nhà ấy được, dù chỉ một bước… Mà tôi cũng không tin vào điều đó. Cậu nhìn xem, cuộc sống đang hồi sinh sôi động thế kia.
- Đúng là “sôi động” thật. - Baga bỗng trở nên độc địa đến mức không thể nhận ra, chỉ còn thiếu bộ râu nữa.
- Lúc nào chị cũng gọi tôi là thằng ngu, nhưng chính mình lại càng ngu hơn. Chiến tranh là những đồng tiền bẩn thỉu, mà chỉ có máu mới rửa sạch.
Đêm hôm đó, khi Cậu bé đã ngủ, Roza kể lại cho bà Anastasya nghe về những tin đồn.
- Ta biết đi đâu bây giờ? - Bà Anastasya thở khò khè, buồn rầu nói. - Mà có chỗ nào và có ai còn cần đến ta nữa? Nhưng thằng bé thì phải đưa đi.
- Nó sẽ không đi đâu.
- Thì ít ra dì cũng nên đi.
- Hừ. - Roza mỉm cười chua chát, ngoảnh mặt vào tường. - Cũng chẳng có nơi nào và cũng chẳng có ai cần đến cháu.
- Ta lo cho thằng bé.
- Vấn đề là ở chỗ ấy đấy.
Sau khi chúc nhau ngủ ngon, cả hai đều lặng im nhưng chẳng ai ngủ được, tin đồn về cuộc tàn sát sắp tới cứ ám ảnh họ mãi, cuối cùng bà Anastasya không chịu nổi:
- Roza, dì ngủ chưa? Liệu tôi có được nhận tiền đền bù không? Người ta đã quy định như vậy, ít ra là một phần ba, hay một phần tư cũng được. Nếu không thì tôi sẽ là một người đàn bà như thế nào? Sống bao nhiêu năm trên cõi đời, thế mà cũng không kiếm đủ tiền để mai táng cho chính bản thân mình.
- Bà ơi! - Roza lên tiếng, nhưng có điều gì đó không rõ ràng đã ngăn chị lại, mọi ý nghĩ cứ phiêu diêu đâu đó khiến chị không nói lên lời.
Đến khuya có một chiếc máy bay trực thăng lượn trên thành phố, điều này rất ít khi xảy ra. Chiếc trực thăng bay sát trên nóc tòa nhà của họ, nghe rõ cả tiếng cánh quạt xé gió ầm ầm, tiếng động cơ chói tai. Hình như nó đang treo ở đâu đó ngay bên cạnh hay là đang hạ cánh cũng nên. Nhưng rồi nó không ở lại lâu, bay về hướng Nam, hoặc là đến căn cứ của quân đội Liên bang ở Khankala, hay là đi xa hơn, vào trong núi.
- Liệu nó có mang lại điều lành không? - Bà Anastasya lo lắng thì thào.
Đúng lúc ấy, như theo một mệnh lệnh, từ đâu đó, hình như là ở khu vực tòa nhà chính phủ bỗng vang lên nhiều tiếng nổ, rồi những tràng súng máy, nhưng không kéo dài, chỉ khoảng năm phút, sau đó chỉ còn nghe vài phát đạn rời rạc từ mọi hướng, rồi sự tĩnh lặng lại bị phá vỡ bởi tiếng máy bay trực thăng bay theo đúng tuyến lúc nãy. Tiếp theo là một sự tĩnh lặng như trong mồ.
Quá nửa đêm, khi Roza đã ngủ say, bà Anastasya lay vai chị:
- Dậy đi, dậy đi. - Bà lão hốt hoảng thì thào. - Dưới cửa sổ nhà ta có cái gì đó đang chuyển động, hình như có ai đó đang rên rỉ và xin cứu giúp.
- Baga?! - Ý nghĩ đầu tiên vụt đến trong đầu Roza.
Vẫn mặc bộ váy ngủ, Roza chạy ra ban công, nhìn sang cửa sổ đối diện, không có ai cả. Chị không dám đi xuống, nhất là ra ngoài vào lúc đêm hôm thế này, hơn nữa bà Anastasya cũng không cho chị đi.
Khi trời gần sáng, đường chân trời bắt đầu hiện ra, Roza đi xuống tầng hầm và nhìn thấy rất nhiều vết máu, có thể thấy rõ, ai đó đã bị kéo đến đây.
- Baga. - Roza khẽ gọi, rồi gọi thêm hai lần nữa, to hơn, nhưng không có ai đáp lại.
Roza không dám vào trong tầng hầm. Chị quyết định cọ rửa các vết máu, liền đi lấy xô rồi chạy ra sông. Khi mọi dấu vết dường như đã được rửa sạch, Roza bỗng nghe thấy tiếng rít của máy bộ đàm - đại úy Golovachev xuất hiện ngay trước mặt.
- Biến đi nhanh lên, và đừng về nhà, chạy đến bệnh viện ấy. Ngay bây giờ sẽ có một cuộc dọn dẹp. Họ sẽ quét sạch mọi thứ, rất có thể cả chị nữa đấy.
- Thế còn Cậu bé, còn bà lão?
- Bà lão là người Nga, chắc qua được. Còn Cậu bé, tôi sẽ đưa đến trạm kiểm soát.
Đúng lúc ấy, từ phía đại lộ Lenin vọng lại tiếng xe ô tô. Trong máy bộ đàm vang lên mệnh lệnh: Đưa đơn vị đặc nhiệm vào.
- Chị có nghe thấy không? Nhanh lên! Còn tôi sẽ chạy lên chỗ Cậu bé. Đám hung thần ấy có thể phá tan mọi thứ.
Mọi tin tức ngay lập tức lan đến bệnh viện và ra chợ. Đến chiều, khi Roza biết cuộc vây ráp đã xong, chị liền chạy về nhà. Trong khu vực “Thế giới trẻ em” không khí rất ngột ngạt, nhưng mọi việc có vẻ vẫn ổn - bà Anastasya ôm chầm lấy Roza, phấn khởi thì thào vào tai chị câu gì đó.
- Ôi, Roza. - Bà thốt lên. - Bây giờ tất cả chúng ta sẽ được cho ăn uống.
Lát sau, khi Cậu bé ra ban công chơi với lũ chim, bà mới kể bằng một giọng buồn bã khác hẳn:
- Dì không tin nổi đâu! Một đám hộ pháp, đeo mặt nạ, luôn miệng văng tục, lục soát tất cả, thậm chí dưới cả bồn tắm nữa. Ta giả vờ bị bệnh, nằm im, lo sốt vó cho cây đàn giấu dưới gối, may mà mọi việc cũng qua… Trước đó họ đã lục soát dưới tầng hầm. Ta không thấy tận mắt, nhưng đại úy Golovachev kể, ba người bị thương đã bị lôi ra, chở đi mất, Baga không có trong số đó. Sau đấy họ phun thuốc trừ sâu hay cái gì đó vào tầng hầm, ngạt thở gần chết, ta phải vùi mặt xuống gối. Bây giờ hình như họ đã đi rồi.
Đúng lúc ấy trên tivi, chương trình thời sự địa phương đưa tin:
- Đêm hôm qua, một nhóm phiến quân đã tấn công vào thành phố Grozny… Mười bảy phiến quân bị tiêu diệt, tám tên bị bắt sống… Thủ lĩnh phiến quân Baga Tumsoev, sinh năm 1975 đang bị truy lùng. - Trên màn hình hiện lên chân dung của Baga.
- Dì nhìn kìa! - Bà lão thốt lên. - Mày râu nhẵn nhụi, ta không nhận ra nữa.
- Hôm qua cháu đã nhìn thấy cậu ấy trong chiếc áo sơ mi đó. - Roza ngạc nhiên. - Họ chụp được ảnh cậu ấy ở đâu nhỉ?
- Hôm nay cháu nhìn thấy chú Baga ở trạm kiểm soát.
- Cậu bé bước vào phòng thốt lên. - Bị đánh ghê lắm. Chú ấy bị nhốt trong căn phòng phía trong, sau đấy có hai ông tướng đến, nói chuyện riêng với chú ấy.
- Cháu nói gì thế? - Roza ngạc nhiên.
- Thì dì cứ hỏi chú Golova. - Cậu bé vẫn tiếp tục bằng một giọng xúc động. - Chú đại úy và các chú khác đều phải đứng nghiêm. Chú Golova cũng run, vì cố giấu cháu.
- Thế họ đưa chú Baga đi đâu? - Bây giờ thì bà Anastasya cũng rất ngạc nhiên.
- Sau khi các ông tướng bỏ đi, ra lệnh không cho ai vào gặp chú Baga, thì có các chú bộ đội khác đến. Chú Golova bảo, đó là các chỉ huy cao cấp từ Moskva đến, họ trùm lên đầu chú Baga chiếc bao màu đen rồi giải chú ấy đi.
- Thế đấy. - Một nỗi ngơ ngác và bối rối thoáng hiện trên mặt Roza.
Sáng hôm sau, để cố tìm hiểu xem có chuyện gì xảy ra, mà có thể là muốn biết về số phận của Baga, Roza để ý quan sát trạm kiểm soát liên hợp, và khi đại úy Golovachev vừa xuất hiện, bất chấp sự sợ hãi khủng khiếp, chị vẫn đến trạm kiểm soát nói chuyện với đại úy.
- Roza ạ, chính tôi cũng không biết gì cả, và tôi khuyên chị đừng tham dự vào, mất đầu như chơi đấy. - Đại úy tỏ ra lo lắng. - Những trò chơi nào đó đã bắt đầu diễn ra như một vở kịch, thực sự hỗn loạn.
- Chẳng lẽ lại có chiến tranh nữa[79]?
- Cuộc chiến tranh này chỉ là phông màn bề ngoài thôi, chỉ là cái nền tiếng động ồn ào mà đằng sau đó là một khối lượng tài sản khổng lồ bị vơ vét. Ở đây không có phe ta, phe địch. Nhìn tổng thể, cả Baga, cả Cậu bé, cả chị và tôi, tất cả chỉ là những tấm bia thịt. Còn ở trên, là sự mặc cả của bọn cướp vì họ không thể chia chác một cách sòng phẳng đồ ăn cướp. - Đại úy châm tiếp một điếu thuốc khác. - Tôi đã gửi báo cáo rồi, phải rời khỏi đây. Chị cũng nên đi đi, phải nghĩ đến Cậu bé.
Mấy ngày liền trong tâm trạng buồn bực, Roza không biết phải làm gì với bà Anastasya ốm đau và Cậu bé bướng bỉnh. Và mặc dù tin đồn về một cuộc chiến tranh nữa đã loang ra, nhưng dân chúng vẫn như đang bay lượn trên bầu trời thành phố, có cảm giác cuộc sống vẫn cứ lăn trên cái đường ray vô định ấy. Thật ra, cũng đã xuất hiện những dấu hiệu rất đáng lo ngại: Tất cả các công trình xây dựng ở Grozny đều bị đóng băng vì không có kinh phí. Mà không chỉ có vậy, lương hưu của bà Anastasya, trợ cấp cho Cậu bé và lương của Roza đã không được cấp tháng thứ hai rồi. Họ bảo, Moskva đang tính toán lại những điều bất hợp lý, tức là có những mục đích khác.
Tuy nhiên, dân chúng Grozny vẫn muốn sống, và cũng như trước kia, chẳng hy vọng vào điều gì nhưng họ vẫn sống trong điều kiện khốn khổ như vậy. Cũng như mọi người, Roza cố cầm cự. Ngày làm việc của chị rất cực nhọc, nhưng tiền thì không đủ. Và cũng như trước, sáng sớm chị ra sông Sunzha lấy nước, còn tầng hầm thì không dám ghé mắt xuống nữa. Nhưng vấn đề không phải vì Roza đã quên Baga, mà ngược lại. Chẳng qua là bây giờ, có nhiều tin đồn trái ngược nhau liên quan đến cái tên Baga, một số chuyện chị không hiểu, cho là rất có hại. Bây giờ, chắc gì Baga đã có thể xuất hiện ở đây nữa. Thế mà đột nhiên, vào buổi sáng tháng Sáu oi bức, có một giọng nói từ tầng hầm vang lên, gọi chị:
- Chị không lấy nước cho tôi nữa à? Chị quên tôi rồi sao?
- Ôi, Baga? - Roza sửng sốt.
Baga lại mặc quân phục, lại để râu quai nón và với vũ khí trong tay, nhưng không còn là chàng trai Baga liều lĩnh, ngang tàng trước kia nữa. Trước mặt Roza bây giờ chỉ còn là cái bóng nhợt nhạt, phờ phạc, thậm chí giọng nói cũng khàn khàn, ủ rũ, còn trong ánh mắt thì toát lên nỗi buồn của con chó vừa bị ăn đòn, chỉ còn lại sự hung dữ tàn bạo trước kia, nhưng đã trở nên độc ác hơn, quá quắt hơn.
- Chúng tôi đã bị phản bội, họ đã cài bẫy chúng tôi. - Baga ho khan vẻ đau đớn, kinh tởm nhổ bọt.
- Baga, cậu còn làm gì ở đây nữa? Ít ra thì bây giờ cậu phải trốn đi.
- Tôi đúng là một thằng ngu. Tôi tin vào tự do, tin vào chỉ huy. Phù! - Baga lại nhổ bọt. - Một lũ quái thai, chúng không phải là người Chechnya, đồ súc sinh!
- Thôi, bây giờ cậu phải đi đi. - Roza lại năn nỉ.
- Muộn rồi, hoặc là tôi sẽ phải trở thành kẻ phản bội. - Baga nhìn xuống chân mình, buồn rầu ngẫm nghĩ, điều mà trước đây anh ta không bao giờ làm. - Tôi không thể bỏ rơi bạn bè… Các vị tướng đòi nửa quả chanh[80] để trao trả xác và những người bị thương.
- Thì có gì đâu, đến chiều tôi sẽ nhận lương. - Roza sôi nổi hẳn lên.
- Chị cũng ngu lắm. - Baga rít qua kẽ răng. - Nửa triệu đô la đấy!
- Cái gì? Đô la?… Kiếm đâu ra từng ấy tiền?
- Tôi biết chỗ có. - Ánh mắt lạnh lùng như trước kia của
Baga lại lóe lên. - Chỉ có điều, tôi nghĩ, phải mất ít công sức.
- Ánh mắt lại trở nên mờ đục. - Đằng nào thì sống giữa bầy sói cũng phải rú lên theo cách của chúng. Tôi sẽ làm như chúng.
- “Chúng” là ai? - Roza không nén nổi.
- Hừ. - Baga cười khẩy. - Chị biết rõ một kẻ trong số đó. “Cậu ấy ám chỉ ai vậy nhỉ?” - suốt hai ngày liền Roza cứ bị dằn vặt mãi với câu hỏi ấy cho đến khi những tin đồn mới nhất đến được tai chị, hay nói chính xác hơn là ngay lập tức bao phủ bóng đen lên tâm trí của chị: Roza có cảm giác, những biến cố khủng khiếp vừa diễn ra chắc chắn có liên quan trực tiếp đến chị.
Việc đó xảy ra ngay tại trạm kiểm soát liên hợp, nhưng không phải ở cái trạm do đại úy Golovachev chỉ huy, trong thành phố Grozny có rất nhiều trạm. Nói chung, đó là trạm kiểm soát mà các phương tiện giao thông bắt buộc phải giảm tốc độ, và ngay giữa thanh thiên bạch nhật, những người lạ đeo mặt nạ đã tấn công đoàn xe đặc chủng của Guta Tuaev. Điều kỳ lạ là vào đúng lúc ấy, binh lính Nga có mặt trong trạm vẫn cứ ngồi yên sau vách hầm bê tông: hoặc là họ đang ăn trưa, hoặc là họ sợ, hoặc là đang cầu nguyện thánh Allah, mà cũng có thể là họ nhận được mệnh lệnh án binh bất động, nói tóm lại, họ không tấn công người Chechnya. Họ chẳng thèm bận tâm đến những rắc rối của địa phương.
Guta Tuaev ngồi trong chiếc xe bọc thép nước ngoài. Chiếc xe hóa ra khá tốt - bị trúng một phát súng phóng lựu nhưng nó vẫn chạy thoát. Còn hai chiếc bọc thép nhãn hiệu “Volga” đi sau khựng lại liền. Những người chống trả bị bắn chết ngay, ai sợ hãi thì được tha, chỉ có em trai Guta là bị bắt sống và biến mất.
… Thế là cuộc mặc cả quan trọng đã diễn ra trong một vụ mua bán…
Khi vừa nghe về chuyện xảy ra với gia đình Guta, tim Roza đau nhói, chị có linh cảm chính mình rồi cũng sẽ gặp tai họa. Và không sai. Ngay sáng hôm sau, khi Roza chuẩn bị đi làm thì có một nhóm người trẻ tuổi đeo mặt nạ ập đến, chẳng thèm nói năng gì, nhưng có thể đoán ngay họ là người Chechnya. Và điều đáng sợ nhất là họ không chỉ quan tâm đến Roza, mà bắt luôn cả Cậu bé.
Bà Anastasya cố hết sức, vừa thở hổn hển vừa đưa tay ôm lồng ngực đau thắt vừa chạy theo họ. Bà nhìn thấy chiếc xe con bị các binh sĩ ở trạm kiểm soát bắt dừng lại, nhìn thấy giấy tờ được chìa ra qua cửa kính hạ xuống, rồi chiếc xe chạy tiếp.
- Đại úy ơi, đại úy Golovachev ơi! - Bà lão gào lên từ xa. - Thằng bé! Họ đã bắt Roza và thằng bé đi rồi!
Phản ứng của đại úy Golovachev nhanh như chớp:
- Xe bọc thép đâu, chuẩn bị khởi hành! Tất cả mang theo vũ khí! - Rồi anh nói vào máy bộ đàm: - Trạm kiểm soát số ba, số năm đâu, giữ ngay hai chiếc xe con đặc chủng lại.
Hóa ra, hai chiếc xe đã vượt qua trạm kiểm soát ở chỗ đường hầm, chỉ đến tận quảng trường “Minutka”, chúng mới bị giữ lại, đại úy Golovachev cũng vừa đến kịp.
- Tôi sẽ đuổi anh ra khỏi quân đội, sẽ tống anh vào tù.
Đây là vợ tôi! Tôi là đại tá Tuaev. - Guta chìa tờ giấy chứng nhận vào mặt đại úy.
Sự chống đối không hề đơn giản. Guta bắt đầu gọi điện đi đâu đó, hai nơi, mà không chỉ cho các viên tướng địa phương, mà cho cả các quan chức chính trị ở Moskva nữa. Golovachev hiểu ngay, chẳng bao lâu nữa sẽ có lệnh gửi tới: “Không được can thiệp vào công việc nội bộ của địa phương!”. Do đó, với sự giúp đỡ của cấp dưới, Golovachev nhanh chóng hành động một cách cương quyết và mạnh mẽ:
- Anh nói là vợ anh! Mặc xác anh. Còn cậu bé này thì không xong đâu. Muốn mang nó đi phải bước qua xác tôi, lời thề quân nhân đấy!
… Bà Anastasya không còn chút sinh khí, bấu hai tay vào bức tường bê tông như một pho tượng, lịm dần đi dưới ánh nắng mặt trời chói chang, cố nhìn xem có ai về không?
Vừa thổi bụi vừa gạt bồ hóng khói xe, từng đoàn người đẫm mồ hôi và xe cộ nối đuôi nhau đi qua trạm kiểm soát. Bà Anastasya vẫn đứng đơ ra, đổ mồ hôi lạnh - bà lại bị đột quỵ một lần nữa, nhưng bà phải cố hết sức để không ngã, đứng yên như hóa đá, mắt kính phủ một màng hơi nước, gần như không nhìn thấy gì nữa, không nhận ra chiếc xe bọc thép chạy đến gần, và chỉ có tiếng kêu “Bà ơi!” của Cậu bé là làm bà bừng tỉnh, bà chỉ kịp mỉm cười với nó rồi đổ vật xuống đất, lịm đi.
Đại úy Golovachev dùng bộ đàm gọi xe cứu thương chạy đến trạm kiểm soát, chở bà Anastasya đến bệnh viện. Tuy nhiên, sau vài mũi tiêm, khi đã đỡ hơn một chút, bà cương quyết không chịu nhập viện, chỉ xin giúp đưa bà và Cậu bé về nhà.
- Bà phải ngồi im trong nhà, không được ló mặt ra ngoài. - Đại úy Golovachev khuyên bà lúc chia tay. - Tôi sẽ nắm tình hình, ngày mai sẽ ghé lại, rất có thể là với Roza.
Nhưng không chỉ một ngày mà hai ngày liền, cả đại úy lẫn Roza đều không xuất hiện. Và điều đáng sợ hơn cả là bà Anastasya không còn đủ sức để ngồi dậy nữa. Vì đau đớn và bất lực, bà cắn đôi môi khô khốc bằng những cái răng cuối cùng còn sót lại, lăn xuống sàn, và với sự giúp đỡ của Cậu bé, bà gần như bò vào nhà tắm mỗi ngày một lần, mồ hôi và nước mắt đầm đìa, miễn là giữ đúng chế độ vệ sinh cá nhân và sự sạch sẽ của cơ thể trước mặt Cậu bé.
Đến ngày thứ tư thì những giọt nước cuối cùng cũng cạn, đồ ăn chỉ còn lại chút mì ống, tiền chẳng còn một xu. Việc này thì Roza đã lường trước, mọi thứ nhu cầu thiết yếu sẽ biến mất cùng với chị.
- Bà ơi, dẫu có thế nào thì chúng ta vẫn phải sống. - Cậu bé nói như người lớn.
Mấy ngày qua, Cậu bé đã thay đổi nhiều, giọng nói khàn khàn, ánh mắt xa xăm, khó hiểu, không chỉ đượm buồn mà còn lo âu.
Giống như Roza, ngay từ sáng sớm, cậu phải chạy ra sông Sunzha vài lần để lấy nước, tuy nhiên theo yêu cầu của bà Anastasya, mỗi lần cậu chỉ xách nửa xô. Và lần nào quay về cậu cũng nhìn thấy bà lão úp mặt vào khăn, khóc nấc lên.
- Sao bà lại gào khóc lên thế? - Cậu cố an ủi bà.
- Sao lại không khóc? Bà mong ước sẽ dạy dỗ cháu cho đến lúc trưởng thành, thế mà bây giờ lại trở thành gánh nặng cho cháu. - Bà Anastasya lại càng khóc to hơn. - Bà sẽ rất vui khi được đặt tay lên người cháu, ôi, cháu đi đâu đấy?
- “Đặt tay” là sao? - Cậu bé ngạc nhiên. - Bà có dạy cháu điều đó đâu, thế là thế nào?
- Ôi, ôi, lạy Chúa! Ta nói gì thế nhỉ? - Bà lão hoảng sợ đưa hai tay lên mặt, thì thầm cầu nguyện. - Xin hãy cho con nghị lực, sức mạnh và lòng kiên nhẫn, ít ra là cho đến khi Roza quay về.
Lát sau, cố lấy lại dáng vẻ tươi tỉnh, bà lại là một nhà sư phạm nghiêm khắc:
- Chúng ta phải vượt qua mọi thử thách của Chúa một cách xứng đáng, tức là phải sống!
- Đúng rồi. - Lần đầu tiên trong những ngày qua, Cậu bé mỉm cười. - Cháu muốn sống! Cháu muốn chơi violon cho cả thế giới nghe để nó trở nên tốt đẹp hơn.
- Đúng thế! Giỏi lắm! - Mắt bà lão sáng lên. - Chỉ có điều, đầu tiên phải tắm rửa sạch sẽ, rồi sau đó ăn sáng.
Với sự chỉ dẫn của bà Anastasya, lần đầu tiên trong đời Cậu bé nấu món mì ống. Rất ngon! Sau đó họ uống trà, dĩ nhiên không phải trà mới, nhưng có đường. Còn buổi tập thì không thành - âm nhạc không làm cho người ta no bụng được. Bà lão rớt nước mắt khi phải để Cậu bé đi ra phố. Điểm đầu tiên là trạm kiểm soát.
- Chú Golova không có ở đây, mà nói chung là không có nữa… - Trung sĩ nói với cậu. - Vì can dự vào chuyện rắc rối của các người nên ngay đêm đó chú ấy bị gọi về trung đoàn ở Khankala, sáng hôm sau bị điều ra tuyến trước, vào trong núi. Chú không biết chính xác, nhưng nghe người ta nói, bị một viên đạn lạc vào lưng… thế là xong. Ngu thật, lẽ ra không nên nhúng mũi vào chuyện người khác… Phù, xin Chúa tha tội! Cầu mong cho anh ấy được yên nghỉ nơi thiên đàng.
Cậu bé rất muốn khóc, nhưng phải cố kìm lại, nuốt nước mắt vào trong, buồn rười rượi. Cậu quay về nhà lấy cây đàn, chẳng giải thích gì với bà lão, chỉ bảo: “Cháu có việc!”, rồi quay lại trạm kiểm soát, đứng ngay ở lối đi, nói: “Để tưởng nhớ chú Golovachev”.
Đứng giữa trời nắng, Cậu bé định chơi bản nhạc tang, nhưng khi nâng cây vĩ lên nó chẳng chịu nghe theo. Trên dòng sông Sunzha, đàn chim én vui vẻ ríu rít, chuồn chuồn chao lượn, ve sầu kêu inh ỏi, bươm bướm vẫy cánh chập chờn trên mặt sông rì rào. Đó chẳng phải là sự sống hay sao! Cậu hoàn toàn không ngờ, thậm chí cũng không nhận ra mình đang ứng tấu và chuyển dần sang những giai điệu sôi nổi, sau đó cậu dốc hết tâm trí vào bản nhạc “Thế giới trẻ em mới” của mình. Binh lính đổ xô đến, rồi những chiếc xe khách qua đường cũng dừng lại.
- Thằng bé tài năng này ở đâu ra thế nhỉ? - Ai đó tò mò.
- Trẻ mồ côi ở đây. - Trung sĩ buột miệng giải thích. Nhưng những người địa phương lại hiểu theo cách của mình, họ bắt đầu chìa cho Cậu bé những đồng bạc. Cậu bé tự ái, không chơi đàn nữa, nhưng dân thành phố vẫn cứ nhét tiền vào túi cậu.
- Này cháu ơi, mạch vàng đấy. - Trung sĩ nhắc. - Cháu cứ chơi đi, chú sẽ dừng tất cả các xe lại, lợi nhuận chia đôi.
Cậu bé gom hết tiền vào đôi tay bé nhỏ của mình, ngẫm nghĩ giây lát rồi đưa cho trung sĩ:
- Chú cầm lấy, để tưởng nhớ chú Golova… Chỉ có điều không cần phải bắn súng mặc niệm đâu.
… Mì ống là món ăn của địa phương, nhưng khi để dành đến trưa thì nó trở nên khô khốc, thâm sì. Để cố xoa dịu cơn đói, hai bà cháu cứ nhường nhau, rồi cuối cùng cũng xử lý hết toàn bộ số đồ ăn dự trữ.
Mọi ngày, sau bữa trưa bà Anastasya bắt Cậu bé đi ngủ, nhưng hôm nay tình hình đã thay đổi căn bản.
- Bà uống thuốc đi. - Cậu bé nhắc. - Bà cũng nên ngủ… Còn cháu sẽ vào thành phố dạo một lát. - Rồi cậu cầm hộp
đàn, giọng nghiêm túc: - Cháu có việc rất quan trọng.
Bà Anastasya run rẩy khóc nức nở.
- Cháu xin bà, bà đừng khóc nữa. - Cậu vuốt tay bà. - Dù sao thì chúng ta cũng cần phải sống. Nhưng cháu không đi ăn xin, cháu muốn chơi những bản nhạc hay cho mọi người nghe. Ai có tiền và thích, họ sẽ trả công cho cháu. - Rồi cậu nói như khẳng định: - Chúng ta cần phải sống. - Ngừng một lát, cậu thở dài như người lớn: - Bằng mọi cách, chúng ta cần phải sống sót.
Biết cây vĩ cầm là vô giá, là niềm vui, niềm an ủi cuối cùng của mình trong cuộc sống, nhưng Cậu bé vẫn cứ phải lo sợ ôm chặt hộp đàn vào người, lang thang ở khu trung tâm, tìm một địa điểm thích hợp. Có lần cậu thấy trên tivi, kể cả ở châu Âu giàu sang, thanh thiếu niên vẫn chơi nhạc ở những địa điểm thích hợp trên phố để kiếm sống. Tất nhiên, bà Anastasya không bao giờ ủng hộ chuyện đó, lúc nào bà cũng khăng khăng: “Chúng ta thuộc dòng dõi quý tộc, chỉ chơi nhạc trong những khán phòng sang trọng, trước những khán giả uyên bác”. Tuy nhiên, thành phố Grozny vào năm 1996 chẳng có gì tương tự, ở đây người có đặc quyền là người mang vũ khí.
Cậu bé thơ thẩn giữa đám đông, cần phải tìm một chỗ yên tĩnh, nhưng cơn đói làm cậu ứa nước miếng, đưa chân cậu đi về phía chợ với những mùi vị rất quyến rũ. Ở đây có rất nhiều người ăn xin, già trẻ, lớn bé, trạc tuổi cậu lại càng nhiều, cả một thế giới. Tất cả đều bẩn thỉu, nhem nhuốc, rách rưới, trơ tráo - họ không để ai đi ngang qua mà không kéo vạt áo, bắt phải cho cái gì đó. Cậu bé cảm thấy sợ hãi và xấu hổ, không chỉ một lần bước ra rồi quay lại, bối rối ôm chặt hộp đàn. Và như người ta thường nói, nhịn đói cũng không dễ, nhưng điều quan trọng hơn là ai sẽ chăm lo cho bà, mặt trời thì đang xuống thấp, mọi người sắp ra về, có nghĩa là đêm nay sẽ phải nhịn đói, trong khi cậu là người duy nhất còn đi lại được, là niềm hy vọng, là người nuôi dưỡng của bà. Bà đã cho cậu bao nhiêu thứ, và không chỉ một lần bà nói với cậu: “Bất cứ chỗ nào có người, với cây đàn này và với tâm hồn của mình, cháu đều có thể kiếm được miếng bánh nuôi thân”. Vậy thì hãy cố lên! Bất chấp tất cả, cần phải sống!
Có thể vào lúc khác, Cậu bé sẽ dừng lại bên các quầy “đồ ngọt”, ở đấy có kem và rất nhiều bánh kẹo, nhưng bây giờ không phải lúc nghĩ đến bánh kẹo. Mùi bánh mì mới ra lò thơm nức - cậu dừng lại bên các sạp bánh mì, ngập ngừng mở hộp đàn ra.
- Này, thằng kia, đi đi! - Bà bán hàng hét lên: - Mày đứng chắn hết lối đi của khách hàng.
- Cũng không được đứng ở đây đâu. - Một bà khác.
- Này, ngậm cái miệng thối của các bà lại đi! Các bà không thấy thằng bé này tử tế và dễ thương thế hay sao!?
- Một cô bán hàng còn trẻ, vóc dáng đầy đặn, hét to lên, rồi dịu dàng vẫy cậu lại: - Nào, lại đây. Cháu muốn gì? - Cô nghiêng người về phía cậu, vuốt ve lọn tóc xoăn.
Cậu bé tự ái, đứng im một lúc, đầu cúi xuống, chỉ sau khi cô bán hàng hỏi lại lần nữa, cậu mới cố nuốt cơn giận, khẽ thốt lên:
- Cháu chỉ muốn chơi đàn cho mọi người nghe… Nếu có ai cho cháu cái gì, coi như cháu được trả công.
- Ôi! Cháu không có lỗi gì cả, đó là một công việc thực sự! Chợ búa là thế đấy cháu ạ, cứ việc chào mời, nếu dân chúng thích là kiếm ra tiền… Nào các bà, tránh ra một chút! - Cô bán hàng vung tay ra lệnh: - Ai mua bánh mì và xem buổi biểu diễn thì đến đây! Dân chúng sẽ đổ xô đến ngay bây giờ!
Cậu bé được xếp đứng bên dãy hàng đầu tiên ngay lối vào chợ, chỗ đông đúc nhất.
- Nào, trật tự, tài năng nghệ thuật trẻ đến với giới bình dân đây! - Cô bán hàng hét rõ to, cố làm mọi người chú ý.
Cậu bé toát cả mồ hôi, chưa bao giờ hồi hộp và căng thẳng đến thế - bên cậu không có bà Anastasya và dì Roza. Đầu tiên, cậu trải tờ báo mang theo lên nền nhựa đường đầy bụi, rồi đặt hộp đàn xuống, cẩn thận mở ra rồi cầm cây đàn lên. Ngay từ hợp âm đầu tiên cậu đã hiểu ngay, không thể chơi như trước đây. Cậu không nghiêng mình chào khán giả, chỉ vội vàng lấy chân đậy nắp hộp đàn lại - cậu không cầu xin lòng thương hại mà chỉ chơi đàn thôi.
Vì muốn chinh phục ngay lập tức tất cả mọi người nên cậu chơi bản nhạc cổ điển của Mozart. Sự mạnh dạn của cậu được mọi người ghi nhận, nhưng khá dè dặt, hơn nữa dân chúng chưa quen với loại nhạc đó, họ đề nghị cậu chơi bản gì đó đơn giản hơn của các nhạc sĩ địa phương. Trong tâm trạng hiện tại, cậu chơi bản “Nỗi buồn Kavkaz” của nhạc sĩ Ganaev.
Nhiều phụ nữ tỏ ra buồn rầu, thậm chí có người còn chấm nước mắt.
- Không có mày thì ở đây cũng tởm lợm lắm rồi, chơi cái gì đó vui vẻ đi! - Một người đàn ông có ria mép hất đầu.
Bản nhạc vui vẻ, thậm chí sôi nổi, tràn đầy niềm lạc quan, với các tiết tấu mang âm hưởng vùng đất Kavkaz chính là bản “Thế giới trẻ em mới” của cậu.
- Đúng rồi! Cứ thế đi! - Chính người đàn ông có ria mép đứng trước mặt cậu, chắc là đang trong tâm trạng vui vẻ bắt đầu nhún nhảy theo điệu nhạc.
Cậu bé cảm nhận được tâm trạng của người đàn ông và của đám đông, nên sau khi kết thúc bản nhạc của mình, cậu nhịp nhàng chuyển sang bản nhạc nhảy Lezginca một cách hào hứng. Một cuộc khiêu vũ thực sự đã diễn ra, cả người bán hàng rong cũng vào nhảy. Cậu bé, mồ hôi túa ra chảy vào mắt cay xè, dốc hết tâm trí và tài nghệ của mình vào bản nhạc trong tiếng vỗ tay giữ nhịp và tiếng la hét ầm ĩ. Những tiếng “Bis! Bis[81]” - có thể ở đây nhiều người không hiểu - cứ vang lên trong tiếng vỗ tay không dứt buộc Cậu bé phải chơi lại bản nhạc Lezginca lần nữa. Và thế là những tờ bạc ném tới tấp vào hộp đàn và lên tờ báo. Người đàn ông có ria càng thêm phấn khích sau điệu nhảy, liền trang trọng đặt xuống chân nhạc công một xấp tiền mới cứng.
Cậu bé sững người, ngừng chơi, cầm xấp tiền lên đưa lại cho ông:
- Cảm ơn bác, nhưng cháu không cần nhiều thế này đâu. Một sự lúng túng thoáng qua.
- Phải, phải, thằng bé không cần nhiều thế đâu. - Cô bán hàng đầy đặn là người bảo trợ cho cậu lên tiếng: - Thôi, thế là đủ rồi, nhạc công cũng đã mệt.
Việc đầu tiên Cậu bé làm ngay là cất cây đàn vào hộp, còn tiền thì cậu không dám cầm vì xấu hổ, cô bán hàng giúp cậu xếp tiền lại.
- Cháu đã kiếm được một cách trung thực, có thể mua gì tùy thích.
Thời kỳ này, những đồng tiền Nga đều có mệnh giá lớn với nhiều số không, Cậu bé gần như trở thành tỉ phú, thậm chí túi cũng không nhét hết. Hai tay ôm hộp đàn và xấp tiền, bây giờ việc đầu tiên là cậu hướng ánh mắt vào những quầy “đồ ngọt”. Nhưng đám trẻ bụi đời lớn hơn cậu một chút cũng lặng lẽ tiến lại, giả vờ hỏi cái gì đó để đánh lạc hướng, làm như vô tình va chạm, đẩy cậu ngã xuống, mọi thứ tuột khỏi tay, cậu kinh hoàng la lên, và điều tệ hại nhất là cây đàn cũng bị cướp mất.
Những đứa cướp tiền biến ngay, còn chiếc hộp đàn to, thằng bé cầm nó không thể chạy nhanh nên đã bị bắt, cây đàn được trả lại cho cậu. Cậu bé ôm chặt cây đàn, cứ đứng mãi giữa chợ, tức quá không thể khóc nổi cho đến khi lại rơi vào vòng tay của cô bán hàng.
- Thôi, đừng khóc, đừng khóc nữa cháu ạ. - Cô dỗ dành. - Thế cha mẹ cháu đâu, cháu sống với ai?
- Cháu sống với bà. - Cậu đáp trong tiếng nức nở.
- Hiểu rồi. - Cô bán hàng lại nói bằng một giọng dịu dàng hơn. - Cháu đừng bao giờ chơi đàn ở đây nữa, mà nói chung, đừng chơi giữa đám đông, đó không phải chỗ của cháu. Tên cô là Nakhapa, cháu có thể đến gặp cô bất cứ lúc nào, trong chợ có cái gì thì cháu có cái đó! Nếu đột nhiên cô không có ở đây, mọi chuyện đều có thể xảy ra, cháu hãy đến gặp bất kỳ người phụ nữ nào, và mọi chuyện sẽ đâu vào đấy. Cháu hiểu chưa? Còn các bà, cũng hiểu chứ? - Chị hét to lên và mọi người đều bật cười vui vẻ, ai cũng hiểu vì trong đám đông, đa số đều bình dị, tốt bụng và hào phóng, họ chỉ mong ước một điều duy nhất là bình yên.
- Nào, lại đây. - Cô Nakhapa nắm tay cậu đi quanh chợ, không xin xỏ, cũng không yêu cầu mà chỉ nói một cách giản dị: - Có ai muốn giúp thằng bé này không, hy sinh một chút, sẽ được Thượng đế ghi nhận công đức đấy!
Có thể nghĩ, hai người không đi xin mà đang ban phát những điều quý giá, nên mọi người đều gọi họ lại sạp của mình.
- Nakhapa, lại đây!
- Thế có lấy nước ép trái cây và kẹo không?
- Lại đây!
Hai cô cháu chỉ lấy vừa đủ khả năng xách của Cậu bé.
- Thôi, thôi. - Nakhapa cảm ơn tất cả mọi người. - Để lần sau.
Họ rời chợ với mấy bao giấy căng phồng, đi thẳng đến bến xe taxi nằm trên đại lộ Ordzhonikidze.
- Này cái đám vô công rồi nghề kia! - Cô Nakhapa hét lên. - Phơi nắng đủ chưa? Ai muốn phụng sự Thượng đế hả, chở thằng bé này về nhà không công? Đến “Thế giới trẻ em” chỉ mất một phút thôi.
- Lại đây. - Một bác tài nói to, những người khác cũng tỏ ra sẵn sàng.
- Khoan đã, khoan đã. - Một người đàn ông trung niên vạm vỡ, khỏe mạnh bước ra khỏi xe. - Cậu bé đấy à? Này, Cậu bé, có nhớ chú không?
- Cháu nhớ, chú Paizul ạ.
- Cháu làm gì ở đây thế? Dì Roza đâu? Còn bà Uchital nữa?
Trong khi Cậu bé ấp úng giải thích mọi việc thì xe đã chạy đến nhà. Dân chúng tụ tập đông nghịt, có cả xe “cấp cứu” và xe cảnh sát. Cậu bé vội chạy lên, trong phòng có nhiều người, bà Anastasya đang được truyền dịch, một ông bác nào đó trả lời những câu hỏi của cậu. Cậu bé bị mọi người vây quanh, hỏi đủ chuyện.
Vào lúc chiều muộn, sau khi đã lấy lời khai và hoàn tất một số giấy tờ, các công an và công tố viên là những người đầu tiên ra về, họ e dè nói:
- Đúng, Guta Tuaev là một người không đơn giản, nhưng chúng tôi sẽ cố gắng tháo gỡ.
- Xin các anh hãy cố giúp. - Bà Anastasya năn nỉ.
Khi việc truyền dịch đã xong thì các bác sĩ đồng nghiệp của Roza cũng lục tục ra về, và cũng nói bằng một giọng không mấy tin tưởng:
- Chúng tôi không để yên như vậy đâu. Công lý đối với Tuaev cũng phải được thực thi. - Ngừng một lát, họ khuyên bà Anastasya: - Hay là chúng tôi cho bà nhập viện, còn Cậu bé, sống tạm ở nhà ai đó một thời gian. Chúng ta có nhà dưỡng lão và trại trẻ mồ côi mà.
- Cháu thấy thế nào? - Bà lão hỏi Cậu bé mặc dù đã biết trước câu trả lời.
- Cháu ở nhà. - Giọng cậu cương quyết. - Cháu không đi đâu cả, cháu đã ở “trại” rồi.
Người cuối cùng rời khỏi nhà họ khi trời đã tối là chú lái xe taxi Paizul, chú vẫn lo lắng cho số phận của dì Roza.
- Thế giới này không ít người tốt đâu. Bà thấy nhẹ cả người. - Bà lão thừa nhận khi chỉ còn lại hai bà cháu.
Vừa lúc ấy có tiếng gõ cửa. Cả hai đều tỏ ra cảnh giác.
- Có thể họ quên cái gì đó? - Bà lão thì thào. - Cháu ra hỏi ai đấy?
- Mở cửa ra! - Một giọng thô bạo đầy quyền lực vang lên sau cánh cửa. - Kiểm tra giấy tờ. Mở ra, không chúng tôi phá cửa đấy.
Tiếng báng súng đập thình thịch. Chẳng còn lựa chọn nào khác.
- Mở đây, mở ngay bây giờ đây. - Bà lão vừa thở khò khè vừa lập cập ngồi dậy, vịn vào cây nạng, nói to. Việc đầu tiên là bà đẩy Cậu bé vào sau giường, rồi giấu cây đàn xuống đầu giường, xong đâu đấy, bà nặng nhọc bước ra cửa, kêu to: - Tôi ra đây.
Vừa lúc đó một đám người có vũ trang, đeo mặt nạ ập vào, đẩy bà lão bắn vào tường, tìm kiếm khắp nơi, kể cả ban công, sau đó ngạo mạn ra lệnh:
- Giấy tờ đâu! Giấy gì thế này? - Người chỉ huy to cao vặn vẹo.
- Đây là giấy chứng nhận của thằng bé. - Bà Anastasya chẳng còn nhớ đến bệnh tật của mình nữa. - Giấy khai sinh bị mất trong chiến tranh rồi. Còn đây là giấy tờ hợp pháp được cấp ở Volgagrad.
- Hừ, may là không phải ở Khabarovsk. - Anh ta bắt đầu xem xét tờ giấy. - Sao không có dấu? Thôi đừng bịa đặt nữa. Chúng tôi có lệnh, không giấy tờ tùy thân, bắn ngay tại chỗ.
- Anh nói gì thế? Nó chỉ là đứa bé thôi mà.
- Nó là người Chechnya. Mọi nỗi bất hạnh của chúng ta cũng vì chúng mà ra.
- Lạy Chúa tôi! Nếu mọi nỗi bất hạnh của nước Nga và của người Nga đều do người Chechnya gây ra, thì đất nước của chúng ta quả là bất hạnh!
- Bà biết không… - Người lính to cao chọc tay vào tờ giấy định nói gì đó nữa, nhưng người đàn ông mập mạp đứng phía sau đã đẩy vào lưng anh ta, có thể nhận ra sau tấm mặt nạ là một người đã đứng tuổi.
- Thôi, lảm nhảm thế đủ rồi, vào việc đi! - Người đó ra lệnh bằng một giọng rành rọt.
- Hừm. - Người to cao hắng giọng. - Bà có biết các phiến quân không?
- Tôi chẳng biết ai cả. - Bà Anastasya phản ứng tức thì.
- Thế người này? - Vừa nói anh ta vừa chìa ra tấm ảnh Baga, và nhận ngay ra vẻ mặt bất thường của Cậu bé. - Nó biết phải không, và cả bà cũng biết nữa, thế mà bà dám nói láo trắng trợn là không biết bọn phiến quân.
- Cả đời tôi chưa bao giờ nói láo, tôi không được dạy dỗ như thế. Còn người thanh niên này, - Bà chỉ vào tấm ảnh.
- tôi chỉ nhìn thấy đôi lần. Anh ta có phải là phiến quân hay không, tôi không biết phiến quân là gì, tôi chỉ biết anh ta là dân quân tự vệ.
- Ôi, bà già mồm mép quá. - Người đàn ông mập mạp lại xía vào. - Cứ như là người bảo vệ luật pháp vậy.
- Phải, tôi là người bảo vệ, là người lao động. Tôi, tôi… - Đột nhiên bà bị khàn tiếng. - Tôi là cựu chiến binh, là thương binh, có thâm niên công tác nửa thế kỷ. Đây, xem giấy tờ của tôi đi.
- Thấy rồi. - Giọng lạnh lùng.
- Anh thì thấy gì cơ chứ?! - Bà Anastasya không kìm nổi nữa. - Trước mặt bà già và con nít mà các anh cũng phải trùm mặt nạ. Ngay cả bọn phát xít cũng không thèm giấu mặt, còn các anh, mặt cũng không có mà lương tâm, danh dự cũng không.
- Bắt thằng bé này để điều tra nhân thân, có thể nó là con của bọn phiến quân.
- Không! - Bà Anastasya lao về phía Cậu bé, nhưng không đứng nổi, ngã sấp xuống, lấy thân mình che cho nó.
Đến lúc này, những người kia mới rủ lòng thương, đỡ bà đặt lên giường, bà kéo Cậu bé theo.
- Thôi được. - Có thể thấy rõ là những người trùm mặt nạ cũng chán ngán lắm rồi. - Hôm nay bà đã gửi đơn cho công tố viên phải không?
- Phải, cho kiểm sát viên Zviagin, cho cả viện trưởng Viện kiểm sát, cả tổng thống Nga, cả nghị viện châu Âu, trước đó tôi còn gửi cho báo chí nữa…
- Thôi đủ rồi, đủ rồi. - Người ta ngắt lời bà. - Bà không đợi được báo chí đâu. Ngày mai dự thẩm viên sẽ đến, bà cứ việc kiến nghị, nếu không sẽ bị quẳng vào sọt rác đấy.
- Nhưng tại sao các người cứ bao che cho Tuaev thế? Anh ta là người Chechnya mà! - Sau khi đã hiểu ra vấn đề, bà lão càng trở nên mạnh bạo.
- Tuaev cũng như chúng tôi, đã tuyên thệ trung thành.
- Người kia lên giọng nhạo báng.
- Ha, ha, ha. - Bà Anastasya cũng cười nhạo đáp lại. - Hay thật, thế các anh đã tuyên thệ cái gì? Chắc là tàn phá và cướp bóc nước Nga hả?
- Đồ ngu! - Người đàn ông mập mạp rít qua kẽ răng, khi ra khỏi phòng còn nói với người đàn ông cao to: - Thôi, đừng dây vào, chẳng bao lâu nữa bà ta cũng ngoẻo thôi.
Trưa hôm sau, đúng là có kiểm sát viên từ Viện kiểm sát đến. Chẳng cần đợi mời, anh ta ngồi xuống như ông chủ, phả ra mùi cồn sát trùng và mùi rượu nồng nặc, mở cặp ra, và mở đầu bằng một giọng khó chịu:
- Tình trạng tội phạm trong thành phố ngày càng nghiêm trọng.
Cả đêm qua, bà Anastasya không sao chợp mắt được, cứ trách mình là thiếu thận trọng. Dẫu không nghĩ về bản thân, nhưng làm sao bà lại không nghĩ đến thằng bé. Người ta có thể gây ra bất cứ chuyện gì mà không ai biết và không ai chịu trách nhiệm. Cả đêm, bà thầm cảm ơn Chúa vì mọi việc đã trôi qua êm thấm, bà tự nhủ phải kiên nhẫn vì tương lai của Cậu bé, vì tự do của Roza, bây giờ bà phải tỏ ra lịch thiệp:
- Vâng, vâng, tình trạng quả là rất đáng lo ngại. - Bà ngồi xuống mép giường, phụ họa theo.
- Đêm hôm qua, - Vị khách lạnh lùng nói tiếp. - ông bác sĩ trưởng bị tấn công, may mà thoát chết, chỉ bị thương thôi.
- Lạy Chúa tôi! - Bà Anastasya hoảng sợ thật sự, liếc nhìn về phía Cậu bé. - Có phải bác sĩ trưởng ở bệnh viện Roza làm việc không?
- Đúng đấy, hôm qua ông ấy cũng có mặt ở đây. - Kiểm sát viên vừa lục lọi trong mớ giấy tờ vừa nói. - Quả là vô ích khi bác sĩ dính vào vụ rắc rối của Roza.
- Thật là loạn!
- Nói thế cũng chưa chính xác đâu… À, đây rồi. - Anh ta lấy ra một tờ giấy rồi nói bằng giọng rành rọt, trang trọng:
- Công dân Afanasieva, theo tôi, bà cũng nên rút đơn của mình về.
- “Cũng nên” là thế nào? Chẳng lẽ bác sĩ trưởng đã rút đơn rồi sao?
- Thì tôi đã nói với bà rồi, ông ấy bị tấn công.
- Khoan đã. - Bà Anastasya sửa lại chiếc kính. - Thế còn Roza? Một con người bị bắt cóc giữa thanh thiên bạch nhật, tất cả mọi người đều biết ai đã làm chuyện ấy, chính là Guta Tuaev, cỡ bộ trưởng chứ ít đâu!
- Đúng thế. - Kiểm sát viên bắt đầu cựa quậy trên ghế.
- Và vì vậy mà sự việc cứ rối tinh rối mù lên. Nếu như bà biết, chính Tuaev cũng bị tấn công và em trai ông ấy cũng bị bắt cóc.
- Nhưng Roza thì có liên quan gì? - Bà lão nói to.
- Bà biết không, hóa ra cái cô Roza ấy là vợ của Tuaev, mà chúng tôi thì không thể can thiệp vào công việc nội bộ của địa phương, phá vỡ phong tục tập quán của người dân vùng núi.
- “Không thể” là thế nào? - Bà lão không còn giữ được bình tĩnh nữa, bắt đầu to tiếng. - Chẳng lẽ không phải chính các anh đang lập lại “trật tự theo hiến pháp” ở đây hay sao? Luật pháp của nước Nga đâu rồi? Tôi đã sống hơn bốn mươi năm ở Grozny, chưa bao giờ nghe nói đến phong tục bắt cóc người.
- Bà ơi, bà bình tĩnh lại đi. - Cậu bé bắt đầu tham gia vào cuộc đối thoại.
- Thằng bé nói đúng đấy, bà hãy bình tĩnh. - Kiểm sát viên lạnh lùng nói. - Và tôi khuyên bà, hãy rút đơn lại.
- Cái gì? - Bà Anastasya không còn tự chủ được nữa. - Anh muốn tôi cũng phải tham gia vào những âm mưu bẩn thỉu của các anh hả? Tôi sẽ kiện anh! Tên anh là gì? - Bà xỉa cánh tay gầy guộc về phía anh ta.
Kiểm sát viên nhảy dựng lên, lùi lại, vẻ mặt và giọng nói toát lên sự khinh miệt:
- Vậy bà có rút đơn, hay là tôi sẽ xử?
- Tôi sẽ cho anh biết thế nào là “xử”, tôi sẽ kiện tất cả các anh!
- Phì. - Cứ như là đang đánh răng, kiểm sát viên phun ra, rồi vừa bước ra cửa anh ta vừa nói bằng một giọng như người ta thương hại con chó: - Nếu bà không phải là người Nga thì người ta không nương tay với bà đâu, mụ già hắc ám ạ.
- Cút đi! Cút ngay ra khỏi đây! - Bà Anastasya như điên lên, bất ngờ chộp ngay cây gậy chống ở đầu giường ném về phía kiểm sát viên rồi ngã vật ra.
- Ái chà! - Người bảo vệ công lý nhăn mặt, rồi làm ra vẻ khoái trá, ngang nhiên xé lá đơn của bà thành mảnh vụn rồi ném lên, các mẩu giấy bay chập chờn như bươm bướm. - Đây, trật tự theo hiến pháp của bà đây.
- Ôi! - Bà lão gào lên. - Đồ đê tiện bẩn thỉu! - Rồi bà chộp bất cứ thứ gì trong tầm tay: Cái gối bay ra hành lang, sau đó rất có thể đến lượt hộp đàn với cây vĩ cầm, nhưng Cậu bé đã kịp giữ lại. Bà Anastasya không thể bình tâm lại được, cứ nhớn nhác đi đi lại lại, không biết phải ném cái gì nữa, gào thét mãi, từ trong thanh quản phát ra những âm thanh thé thé kỳ lạ, rồi bà chợt nhớ đến chiếc kính, nó cũng bay luôn ra hành lang vắng hoe, cùng lúc ấy, do hét quá to, hàm răng giả của bà cũng không trụ nổi, và cũng bay luôn vào bóng tối.
Sau này, khi Cậu bé nhặt lại cho bà tất cả những vật dụng ấy, bà ngồi trên giường, kiệt sức hoàn toàn, cả người co rúm, đôi vai xương xẩu rũ xuống, giây phút ấy trông bà nhỏ bé, thảm hại, cứ như đã sống hết đời - bất hạnh, lặng lẽ, chỉ thỉnh thoảng thở dài và rên rỉ yếu ớt…