Thế Giới Trẻ Em

Lượt đọc: 29 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
Chương 6

❊ ❊ ❊

Một việc rất dễ hiểu là trong khi bà Afanasieva Anastasya Tikhonova vẫn còn sống ở cái thành phố Grozny nửa hòa bình nửa chiến tranh này thì bà phải có một cái địa chỉ bưu điện nào đó. Tuy nhiên, cả bà Anastasya lẫn Roza đều không có địa chỉ nào như vậy, rõ ràng là họ không biết về sự tồn tại của bưu điện trong cái thành phố đổ nát này, thế nhưng người đưa thư thì vẫn có thông tin. Hóa ra khi những lời chất vấn đầu tiên từ Moskva được gửi tới đài truyền hình của nước cộng hòa, người ta có thể thông báo chính xác tọa độ cư trú của bà Anastasya.

Một người có tên là Zaitsev Nikolai Evgenevich tình cờ nhìn thấy bà Anastasya trên kênh truyền hình trung ương, bèn nảy ra ý định kiên trì tìm kiếm bà, kể cả tận Grozny, và trong thực tế, có một bức thư đề tên người nhận là bà Anastasya đã được chuyển tới một căn hộ xa lạ thuộc về Cậu bé.

Khác với nhiều bà già khác, bà Anastasya không thích nhớ lại quá khứ của mình, nhất là thời thiếu nữ. Ngay cả lần này, bà phải lục lọi mãi trong trí nhớ, và dù có cố gắng đến đâu bà cũng không nhớ nổi có người bạn trai đồng khóa ở Học viện Âm nhạc Moskva tên là Zaitsev. Trong trí nhớ của bà chỉ còn lại một cái tên - đó là Zhenya Zverev, đã có thời cùng học một lớp với bà, nhưng từ lâu bà đã cố quên đi, anh ta đã gây cho bà quá nhiều đau khổ.

Nội dung bức thư, được đánh trên máy chữ xách tay loại cổ lỗ sĩ, lời lẽ có vẻ lịch sự, thậm chí tình cảm nữa, nhưng nó cứ trôi tuột đi mất như trong một màn sương mờ, có cảm giác còn những điều chưa nói hết, và không chỉ một, hai lần cứ nhắc đi nhắc lại là rất mong nhận được hồi âm, mời bà đến chơi, còn anh với tư cách là phóng viên thì không thể đến Grozny được vì sợ.

Mặc dù chỉ là một bức thư thăm hỏi, nhưng có một cảm giác gì đó, không phải là nỗi sợ mà là một sự ghê tởm cứ ám ảnh bà Anastasya. Dĩ nhiên, đó là một người có học, cần phải hồi âm, nhưng không phải bằng thư, lâu lắm rồi bà không viết thư, hơn nữa lại cho một người không quen biết, bà quyết định gọi điện thoại trực tiếp.

Bà Anastasya đến trạm điện thoại duy nhất của thành phố Grozny, đứng vào hàng người dài, ngẫm nghĩ, liệu trong giờ làm việc thế này có ai ở nhà nghe điện thoại không - bà không dám chắc và có lẽ sứ mệnh chuyến đi của bà cũng chấm dứt ở đây. Tuy nhiên, ngay lập tức đã có người nhấc ống nghe, và ngay từ những lời đầu tiên, bà đã nhận ra người đó - âm thanh khàn khàn do tuổi tác không thể che nổi cái giọng kim bẩm sinh cố hữu.

- Zhenya Zverev phải không? - Bà Anastasya Tikhonova ngạc nhiên.

- Vâng, vâng, tôi đây! Thật tốt là bà đã gọi cho tôi. - Có thể cảm nhận được niềm vui từ đầu dây bên kia.

Nhưng ở đầu dây Grozny thì lại xuất hiện những tình cảm trái ngược. Một mặt bà Anastasya chỉ muốn hét lên như Roza vẫn thường hét “đồ tồi tệ”, nhưng sự giáo dục không cho phép bà làm vậy, và trong ống nghe hai người vẫn nói qua nói lại, đặt ra hàng đống câu hỏi. Bà dè dặt trả lời hoặc không trả lời. Cuối cùng, bà đành phải thốt lên, và không nhận ra giọng mình nữa:

- Tiền cước sắp hết rồi.

- Khoan đã! - Trong ống nghe vang lên tiếng hét, sau đó giọng nói nhỏ lại, đầy bí hiểm: - Tôi đang giữ nó.

Bà Anastasya hiểu ngay câu nói kia ám chỉ điều gì, nhưng bà chỉ im lặng thở khò khè trong ống nghe, sợ mình không kìm nổi sẽ nói ra những lời lẽ thô lỗ.

- Tôi đang giữ cây vĩ cầm. - Trong ống nghe vang điều bí mật quan trọng nhất.

- Ông Evgeni Nikolaievich[49]! Cho dù đã già rồi nhưng ông phải ăn nói cho chính xác. Ông đang giữ cây vĩ cầm của tôi. Cây vĩ cầm đó chính là thanh danh của tôi đã bị sỉ nhục!

Tạm thời ông cứ giữ nó. Chào ông.

Có lẽ vụ việc xảy ra đã ít nhiều ảnh hưởng đến cái nếp sống thường nhật của bà Anastasya không chỉ một hai ngày. Giờ đây bà không sống và cũng không muốn sống bằng quá khứ nữa, nhưng bà cũng không thể sống nổi với cái hiện thực ảm đạm này. Bà chỉ biết một điều, tương lai của bà sẽ vô cùng hạnh phúc, và tương lai đó chính là Cậu bé vàng mà bà muốn dốc hết tâm sức để truyền lại cho nó tất cả những gì tốt đẹp nhất bà đã tích cóp được trong suốt cả cuộc đời dài và vất vả. Chính vì vậy mà bà không thể lãng phí quỹ thời gian ít ỏi và quý giá còn lại của mình cho những hồi ức nào đó, không thể để cuộc sống bị đảo lộn vì nó, chỉ đơn giản là bà chẳng có thời gian đâu mà ngồi than khóc nữa. Bà và Cậu bé đã có một chương trình luyện tập cụ thể, và điều hạnh phúc nhất là Cậu bé dù mới ở độ tuổi thiếu nhi, chín mười tuổi, nhưng đã thể hiện một sự kiên trì rất đáng khâm phục, một sự chăm chỉ và đam mê kỳ lạ muốn sử dụng thành thạo cây đàn, hoàn toàn không phù hợp chút nào với lứa tuổi trẻ em. Và không biết ai đó đã gợi ý, hay chính bản thân nó tự đặt ra cho mình ý tưởng sẽ xây dựng lại ở chính nơi đây một “Thế giới trẻ em” mới mẻ và tươi sáng, để cha mẹ nó có thể quay về!

… Roza, vẫn như trước đây, hầu như ngày nào cũng đến bệnh viện làm việc. Bà Anastasya và Cậu bé, còn lại một mình, suốt ngày tập đàn, nhưng không hề bị sức ép mà với một sự hứng thú, chăm chỉ và thương yêu lẫn nhau.

Mọi việc sẽ không có gì đáng nói nếu như không có việc phải đi chợ mua thực phẩm, mất một ít thời gian, hoặc Baga hay đại úy Golovachev có thể bất ngờ ghé lại uống trà, nghe nhạc. Đã thế lại xuất hiện một bức điện khẩn: “Xin hãy gọi lại. Zaitsev”.

Nếu bức điện đề tên “Zverev”, rất có thể bà Anastasya đã gọi lại, còn Zaitsev thì bà không biết và cũng không muốn biết.

Đã sang tháng Tư. Ngoài đường cây cỏ nở hoa thơm ngát, tràn đầy nhựa sống. Ai mà biết được, mùa xuân trong thành phố sau chiến tranh sẽ như thế nào! Đó là cảm giác thanh bình, tự do, là niềm hân hoan bất tận đối với cuộc sống, là niềm tin hạnh phúc rằng tại thời điểm này không có ai ngắm bắn vào mình nữa. Trên đầu không còn những chiếc máy bay tiêm kích và máy bay ném bom mà chỉ có những con chim én và chim bồ câu vô tư chao lượn.

Chiến tranh, hình như cũng đã chấm dứt thật, ít ra là trên truyền hình. Còn họ, bây giờ tối nào cũng dán mắt vào truyền hình. Từ Moskva người ta khẳng định trực tiếp là trong nước Cộng hòa Tự trị Chechnya, hòa bình và trật tự đã bắt đầu được vãn hồi, và tất cả mọi nỗ lực đều tập trung vào việc đó. Rất may là lần này, lời nói đã đi đôi với việc làm. Trong thành phố Grozny, công cuộc xây dựng đang diễn ra rất sôi động, xuất hiện rất nhiều cư dân mới và phương tiện giao thông, kể cả đèn tín hiệu nữa.

Khu nhà của Cậu bé đã được một phái đoàn quan chức cấp cao ghé qua hai lần. Nghe nói, tòa nhà và có thể là cả khu phố nữa sẽ nhanh chóng được xây dựng lại, còn điện và khí đốt thì được hứa là sẽ ưu tiên cung cấp hàng đầu. Nói ngắn gọn, mọi sự thay đổi có xu hướng tốt đẹp hơn. Trong thành phố, hầu như không bắn nhau nữa, thậm chí cả ban đêm cũng vậy. Baga, dĩ nhiên vẫn lẩn trốn đâu đây, lâu lâu mới thấy xuất hiện, nhưng không còn là chàng kỵ sĩ bốc đồng nữa mà đang chờ thời cơ phục thù. Tuy nhiên, theo lời Roza, có lẽ anh ta cũng nhận được mệnh lệnh “không được thò mặt ra”, và nói chung cuộc sống đang từng bước ổn định, thậm chí sân bay, ga tàu hỏa cũng đã hoạt động trở lại, ở đâu đó, trường học cũng đã mở cổng.

Theo yêu cầu của bà Anastasya, mọi người quyết định vào năm học mới sẽ đưa Cậu bé đến trường, còn hiện tại thì tập trung mọi nỗ lực vào việc học nhạc. Nhưng bây giờ truyền hình đã bắt đầu lôi cuốn Cậu bé, còn ngoài đường thì mùa xuân đang độ chín, cậu cũng thích chạy ra ngoài, vui chơi giữa chốn thiên nhiên. Thoáng qua, cứ tưởng Cậu bé đang chăm chú vào bản nhạc, nhưng một mắt của cậu lại hướng ra phía cửa sổ: Ở đấy có những giọt nắng đang nhảy nhót, lũ chim sẻ ríu rít không ngớt tạo nên những âm thanh của đường phố, còn bờ sông Sunzha, mặc dù đã bị hư hại, lở lói và đài phun nước đã hết phun, nhưng đàn bướm vẫn tung tăng bay lượn, lũ côn trùng đang hồi sinh, thiên nhiên đang vẫy gọi. Còn rất nhiều điều lôi cuốn Cậu bé ra khỏi việc học đàn. Đột nhiên có tiếng ai đó vang lên ngay dưới cửa sổ, gọi đích danh tên bà Anastasya.

- Cháu cứ ngồi yên đấy, đừng để ý làm gì. - Như một nhà sư phạm nghiêm khắc, bà Anastasya nói với Cậu bé, còn mình thì bước về phía cửa sổ, và ngay lập tức giật mình lùi lại, ú ớ câu gì đó, từ từ thận trọng nhìn xuống lần nữa và chết lặng đi.

Một việc rất lạ - đúng nửa thế kỷ trước, vào cuối cuộc chiến tranh thứ nhất của cuộc đời mình[50], khi lần đầu tiên bà Anastasya nhìn thấy nó, một cái bao bẩn thỉu may bằng vải bố thô kệch, bà đã đoán ngay ra, bên trong đó là cây đàn violon, và sau này, ngay cả khi bà không giữ nó nữa, cây đàn cũng gây ra cho bà không ít rắc rối, giống như một lời nguyền vậy. Mọi việc có cảm giác như đã lùi vào dĩ vãng từ lâu, tất cả đã an bài, người đời đã quên lãng về cây đàn cũng như về bà. Thế mà cây đàn, đến gần cuối cuộc chiến tranh thứ hai của đời bà[51], lại bất ngờ xuất hiện.

Vừa bất giác nhớ lại quá khứ, bà Anastasya vừa ngắm nhìn rất lâu cái bao đen đủi, cứ như là đang nghiên cứu nó vậy, mãi một lúc lâu bà mới chậm chạp hướng ánh mắt sợ sệt về phía người mới đến. Dĩ nhiên, thời gian đã để lại dấu ấn của mình, rất có thể tình cờ bắt gặp người đàn ông này giữa đám đông, bà sẽ không nhận ra. Tuy nhiên đó vẫn là Zhenya, bất chấp tuổi tác (bà so với mình) trông ông vẫn còn khỏe mạnh, má vẫn đỏ au, và dù phải đeo kính nhưng cặp mắt vẫn còn tinh anh, sinh động, còn mái tóc, tuy không dày nữa, nhưng vẫn được nhuộm màu hung như xưa - để làm gì nữa? Ngoài cái lưng hơi còng một chút thì trông ông vẫn còn khá lắm, các cuộc chiến tranh không chạm đến ông, và có thể thấy rõ là cuộc sống của ông khá sung túc. Bà Uchital, như cách Cậu bé vẫn thường gọi, trước đây không bao giờ để ý, nhưng khi vừa nhìn thấy con người đã từng làm lễ kết hôn với mình trước Chúa, bà không chỉ càng căm ghét hơn, mà còn khinh bỉ với tư cách là một con người.

Tuy nhiên, dẫu là muộn màng nhưng dù sao thì Zhenya vẫn xuất hiện, và không phải ở đâu khác mà ở ngay trong cái thành phố Grozny bất an này, mang theo cả cây đàn, nhưng đối với bà điều đó chẳng còn ý nghĩa gì nữa. Có thể, vào lúc cuối đời, lương tâm của ông ta đã lên tiếng chăng? Trong mọi trường hợp, ông ta đang đứng dưới cửa sổ, tìm kiếm bà, còn bà thì không muốn gặp, nhưng chẳng biết trốn đi đâu.

- Có phải ông tìm tôi không? - Bà Anastasya cố tình không nhắc lại tên cũ cũng như tên mới, lạnh lùng hỏi.

Người đàn ông đứng ngây ra, khuôn mặt nhăn lại, có lẽ vì đau đớn. Rất có thể ông ta đã nhìn thấy bà trên truyền hình, hay cho đến lúc này ông ta chỉ hình dung ra bà của một thời thanh nữ xinh đẹp, vậy mà bây giờ - một bà lão nhăn nheo. Thật ra, cái tâm trạng ấy chỉ thoáng qua trong khoảnh khắc, là một nghệ sĩ thực thụ, ngay lập tức ông hóa thân liền. Với một nụ cười nở to như với người thân, ông điệu nghệ nhún người chào như một bạn nhảy hâm mộ và một kẻ si tình trẻ trung:

- Ôi, Nastya! Anastasya! - Giọng nói đầy ngữ điệu ngân lên trong cảnh đổ nát hoang tàn xung quanh.

Kết quả là trong ngày hôm ấy, Roza phải chạy từ chỗ làm về nhà để cùng ăn trưa. Nhân dịp có khách quý từ thủ đô tới, trong nhà có cái gì đều được bày hết lên bàn. Nhưng vị khách hóa ra là người rất kén ăn. Những năm gần đây ông ta chỉ ăn mật ong, pho mát tươi, sữa chua chứ không phải sữa thường, chủ yếu là rau và hoa quả tươi. Trong số thực đơn được liệt kê, họ chỉ có mỗi hành tây khô, bắp cải tươi và dưa bắp cải là phù hợp.

- Các bạn đừng lo, đừng lo. - Vị khách cười luôn miệng, nhưng có thể thấy rõ là ông ta phải rất cố gắng, thậm chí không giấu nổi sự ghê tởm khi chạm vào chiếc cốc. - Tôi thường bị đói cả tuần liền. Hiện giờ tôi chỉ uống mỗi nước đun sôi thôi. - Vừa nói ông ta vừa nhăn mặt hớp một ngụm.

- Còn bà, Anastasya, chắc là chưa bao giờ bị đói nhỉ? Ở tuổi chúng ta, nhịn đói rất tốt cho sức khỏe. - Ông ta lại húp một ngụm nước nữa, nghe đánh soạt một cái. - Chỉ có điều, nước ở đây có vị rất lạ, và… có mùi.

- Nước sông Sunzha có mùi thế đấy. - Cậu bé giải thích.

- Các bạn uống nước sông à? - Vị khách tỏ ra bối rối, và từ đó trở đi không chạm đến cốc nước nữa và cương quyết chuyển hẳn sang chế độ nhịn đói hoàn toàn “rất tốt cho sức khỏe”.

Thông thường trong bữa ăn, bà Anastasya vẫn hay nhắc nhở, dạy dỗ Cậu bé về cách ăn ở. Lần này, bà không thốt một lời. Còn Roza cũng cảm thấy gò bó, thậm chí xấu hổ nữa - việc đón tiếp không xứng với truyền thống hiếu khách của người Kavkaz.

- Cháu ơi, chúng ta ra chợ đi. - Roza nói với Cậu bé. - Phải mua chút gì đặc biệt để đãi khách chứ.

Khi chỉ còn lại hai người với nhau, vị khách bước lại gần cửa sổ, không dám thò hẳn đầu ra, quan sát toàn cảnh hoang tàn của thành phố:

- Quả thật, tôi không ngờ lại nhìn thấy cảnh này. - Cuối cùng vị khách lên tiếng, bẻ bẻ mấy ngón tay xương xẩu của mình.

- Và ông cũng không ngờ tìm thấy tôi trong hoàn cảnh này? - Cuối cùng bà Anastasya cũng phải lên tiếng. - Có lẽ ông đã nhìn thấy tôi trên tivi.

- Ồ không, bà nói gì thế! - Vị khách vẫn không quay đầu lại. - Tôi chỉ nói về thành phố sau chiến tranh thôi.

- Nếu không có chiến tranh thì thế nào?

- Trên truyền hình tất cả đều khác.

- Đẹp hơn, trẻ trung hơn phải không?

- Tôi chỉ nói về thành phố thôi. - Vị khách ho khan một tiếng, quay người lại. - Nhân hậu hơn. - Ông ta bước lại gần bà và bằng một giọng khác hẳn, đổi cách xưng hô: - Nastya, Anastasya, không thể sống ở đây được, em ạ. Sao em có thể sống ở đây, chui ra chui vào và mắc kẹt trong cái hang này?

- Và không phải là không có sự tiếp tay của ông. - Bà Anastasya nói bằng một giọng đã cố kìm nén lại.

- Của tôi?! - Vị khách làm bộ mặt ngơ ngác, không hiểu, nhưng nhận thấy chẳng ai nhìn mình, liền tỏ ra đăm chiêu, thốt lên “Hừm”, rồi ngồi xuống chiếc đi văng kêu cọt kẹt, đối diện với bà Anastasya. - Nastya, nếu có thể, xin em hãy quên quá khứ đi và tha lỗi cho tôi. Tôi đến đây, nơi mà chẳng có mấy người dám đến, để chuộc lại những lỗi lầm của mình và hy vọng có thể đưa em thoát ra khỏi cái địa ngục này.

- Ông bắt đầu thừa nhận địa ngục và thiên đàng từ khi nào vậy? - Một nét mỉa mai thoáng trong câu nói. - Theo như tôi còn nhớ, ông và cha mẹ ông là những người theo chủ nghĩa vô thần kiên định lắm kia mà. Thậm chí phải khó khăn lắm mới chấp nhận làm đám cưới với tôi.

- Thời kỳ đó khác, chủ nghĩa cộng sản mà!

- Vẫn là thời kỳ đó thôi, chẳng qua là “chủ nghĩa cộng sản” đã thay đổi, chỉ đơn giản là các người đã già đi, dù muốn hay không vẫn phải nghĩ đến cái chết đang đến gần, và cũng muốn kiếm một chỗ ấm cúng ở trên ấy.

- Tôi không nhận ra bà nữa, thật không ngờ! - Vị khách bật dậy. - Bà đã bị đi tù. Thời kỳ đó, thời kỳ sau chiến tranh, quả là khủng khiếp. Chủ nghĩa Stalin! Đâu đâu cũng săn lùng, bắt bớ.

- Thế bằng cách nào mà ông đã khôn ngoan lặn mất tăm cùng với cây đàn vậy? - Giọng nói của bà Anastasya không chỉ giễu cợt nữa mà châm chọc cay độc.

- Nastya. - Vị khách lại ngồi xuống, bối rối bẻ bẻ ngón tay, im lặng khá lâu, cầm cốc nước lên nhưng không dám uống, gục đầu xuống, co người lại, ứa nước mắt và bắt đầu kể lại mọi chuyện đã diễn ra, không khớp chút nào với những gì mà bà Anastasya biết.

Năm 1947, sau khi ông dượng của Anastasya đột ngột qua đời vì bệnh tim - người anh họ của dượng thông báo cho mẹ Anastasya biết, ông đang giữ cây đàn violon và một số giấy tờ, đồ đạc của dượng ở nhà nghỉ ngoại ô Moskva. Lúc đó nhiều người đã bắt đầu quan tâm và săn tìm cây đàn, nhưng mẹ Anastasya lại không biết phải làm gì với nó. Đúng vào thời gian này, Zhenya đề nghị giúp đỡ, từ lâu anh ta cũng đã quan tâm đến cây đàn quý hiếm đó.

Trong những bức thư từ nhà tù gửi về cho mẹ, mặc dù cô con gái không nhắc gì đến vị hôn phu nữa, nhưng bà mẹ quá sùng đạo thì vẫn cho rằng đôi trai gái đã làm phép cưới trước Chúa, và họ đã được chúc phúc một lần và vĩnh viễn. Có nghĩa Zhenya Zverev là người nhà, và tốt hơn là nên giao cây đàn mà cô con gái vô cùng yêu quý cho Zhenya chứ không phải cho ông anh chồng đã quá già. Sau đó, thì không ai còn nhìn thấy cây đàn và Zhenya ở đâu nữa. Thật ra, theo nguyện vọng của cô con gái đang ở trong tù, bà mẹ phải cố vượt qua định kiến, nhiều lần đến gặp “những kẻ vô thần” là cha mẹ Zhenya. Nhưng lần nào họ cũng khăng khăng: Cậu con một Zhenya đang lưu diễn ở Ural, chỉ gửi về có mỗi bức thư, và chính họ cũng đang tìm kiếm nó.

Đến cuối năm 1948, ông Stoletov đã đến tận chốn thâm sơn cùng cốc Pechorsk mãi tận phương Bắc xa xôi để gặp Anastasya. Trên danh nghĩa là quan tâm đến số phận của cô, nhưng Anastasya dễ dàng hiểu ngay, thực ra ông ta chỉ quan tâm đến cây đàn violon đã bị mất. Và cô còn biết thêm, giờ đây không chỉ Stoletov quan tâm đến cây đàn, mà còn có ai đó nữa đang thúc ép ông ta đi tìm.

Nửa năm sau, vào mùa hè đầy ruồi muỗi năm 1949, ông Stoletov lại đến gặp cô ở nơi giam giữ, sau lần gặp đó, Anastasya được trả tự do trước thời hạn một năm rưỡi, đồng thời vị chỉ huy suốt đời của Anastasya nghiêm khắc ra lệnh cho cô phải cố gắng tìm cho ra vị hôn phu.

Không chỉ một hai năm, Anastasya đã lặn lội khắp đất nước rộng lớn để tìm kiếm Zhenya, và không chỉ một mình cô mà cả Stoletov cùng rất nhiều người khác nữa cũng đổ xô vào việc này, chỉ có điều chính bản thân họ thì không đi đâu cả mà chỉ ngồi một chỗ ra lệnh.

Tất cả mọi nỗ lực chẳng đem lại kết quả gì. Thật ra họ cũng lần ra dấu vết của Zhenya, nhưng anh ta đã chạy ra nước ngoài, và nói chung là biệt tăm luôn. Còn mẹ Anastasya cho đến tận lúc nhắm mắt xuôi tay vẫn tin chàng rể sẽ sớm trở về, và cuối cùng thì điều đó cũng đã xảy ra.

- Ông đã thay đổi tên họ để lẩn trốn phải không? - Bà Anastasya lặp lại câu hỏi, sự việc diễn ra tiếp theo bà không biết gì hơn.

Dĩ nhiên là vị khách không kể hết toàn bộ sự việc, nhưng bà Anastasya cũng đoán ra được đôi điều. Mọi việc hóa ra rất đơn giản. Cây đàn, nói cho đúng hơn là cái bao đã được giấu rất kín trong ga ra. Và không ai có thể nghĩ đến việc lục soát cái ga ra của cha Zhenya, vốn là một kỹ sư quèn.

Zhenya vẫn giữ liên lạc với gia đình, mặc dù rất ít, mỗi năm chỉ một lần. Về cuộc chạy trốn của mình, Zhenya giải thích với gia đình là những kẻ tội phạm hình sự là đồng phạm với cô vợ chưa cưới Anastasya đang săn lùng anh ta.

Zhenya biết rõ, người ta đang săn lùng mình và chẳng bao lâu nữa sẽ tìm ra. Trong thực tế, đúng là Zhenya có đi lưu diễn trong nước, lúc nào cũng nơm nớp lo sợ bị phát hiện, và không chỉ một lần cảm thấy ân hận vì đã chiếm đoạt cây đàn cho riêng mình. Anh ta sẵn sàng trả lại, dĩ nhiên là với điều kiện phải được thưởng xứng đáng vì đã có công giữ gìn nó, nhưng không phải là trả cho gia đình Anastasya mà anh ta rất muốn quên đi.

Số phận đã đưa đẩy Zhenya đến thành phố Leningrad, nơi anh ta được đề nghị làm nghệ sĩ độc tấu dương cầm chính trong dàn nhạc của binh chủng hải quân Liên Xô. Ngay trong buổi biểu diễn đầu tiên, Zhenya đã chinh phục được đám khán giả tầm thường, và có một vị thủy sư đô đốc nào đó đã thân mật vỗ vai, giới thiệu anh ta với vợ và con gái. Cô con gái cũng học nhạc ở Học viện Âm nhạc Leningrad.

Sau này nhớ lại, dĩ nhiên Zhenya nhận ra, Anastasya tài năng hơn nhiều trong lĩnh vực âm nhạc và hấp dẫn hơn nhiều về hình thức. Nhưng con gái của thủy sư đô đốc cũng có thế mạnh của mình. Không phải vô ích khi Zhenya còn là một diễn viên bậc thầy, và điều đó rất cần thiết cho một nhạc công thường xuyên lưu diễn luôn đạt điểm “xuất sắc”. Mọi thủ đoạn, kiến thức, cùng với vẻ ngoài hấp dẫn trời cho đã được anh ta đưa ra sử dụng với lời đề nghị “kèm cặp riêng cho cô con gái”. Nói ngắn gọn, Zhenya không chỉ chinh phục được vợ chồng thủy sư đô đốc mà cả cô con gái nữa. Đám cưới, dẫu chưa được tổ chức nhưng đã được ấn định. Cho đến ngày đó, dàn nhạc tổng hợp của binh chủng hải quân còn có một chuyến lưu diễn đặc biệt tại các thành phố hải cảng của châu Âu. Ba Lan và Đức thì Zhenya không thích lắm, có thể thấy rõ hai quốc gia này vẫn còn chưa hồi phục sau chiến tranh. Thế nhưng nước Áo đã làm cho anh ta gần như phát cuồng lên, Thụy Điển làm anh ta rất thán phục, còn khi sang đến Vương quốc Anh, Zhenya đã bỏ chạy khỏi đoàn, xin tị nạn chính trị.

Hai năm đầu đối với Zhenya cũng khá vất vả. Còn sau đó, khi ngôn ngữ đã thành thạo, Zhenya được xã hội thừa nhận với tư cách là một nhạc công và một công dân bình thường. Zhenya bắt đầu tìm được việc làm, chỗ ở và chẳng bao lâu sau là một cô vợ, dĩ nhiên theo lời anh ta là đồ “quái thai”, chính vì vậy mà anh ta đã nhanh chóng bị thoái hóa, nhưng bù lại, với tư cách là một nhạc công trong dàn nhạc ở Anh, Zhenya đã xác lập được vị trí của mình một cách chắc chắn. Tuy nhiên, khi đứa con gái sinh ra, công việc của Zhenya bị sa sút hẳn. Song vấn đề không chỉ dừng lại ở đó.

Hóa ra, theo lời Zhenya thừa nhận, anh ta đã được các đồng hương “cứu”. Một cuộc gặp diễn ra cùng với những điều kiện ngặt nghèo - hoặc là Zhenya phải làm việc vì lợi ích của Liên Xô, hoặc là… Dĩ nhiên Zhenya muốn sống, và cũng không phải vì các đơn vị đặc nhiệm Liên Xô đã tuyển mộ anh ta, nhưng Zhenya là một người Nga, nên anh ta sẵn sàng phục vụ Tổ quốc.

Nhìn chung, mọi việc cũng không đến nỗi nào, Zhenya sống ở Anh gần chục năm nữa cho đến khi anh ta bị “đâm thủng” ở đâu đó (cũng là một khiếm khuyết của anh ta). Bề ngoài thì Zhenya không điển trai lắm, trông có vẻ điềm đạm, nhưng hóa ra lại rất có tài chạy trốn. Với sự giúp đỡ của người mình (đối với Zhenya, không thể phân biệt nổi ai là người mình và không phải người mình), Zhenya bỏ chạy khỏi nước Anh, dĩ nhiên là trên một con tàu Liên Xô.

Có thể thấy, Zhenya cũng kiếm được kha khá, cũng biết chạy chọt, nên ở Moskva, người ta đón tiếp Zhenya không như một anh hùng, nhưng cũng bình thường.

Zhenya được phân nhà ở và bố trí công việc theo chuyên môn, được tính thời gian “công tác liên tục” để có phụ cấp hưu trí. Người ta cũng đề nghị Zhenya thay đổi tên họ cho an toàn.

Với sự giúp đỡ của những người bảo trợ mới, Zhenya rất muốn chơi nhạc trong các dàn nhạc nổi tiếng nhất của đất nước. Tuy nhiên, đất nước Liên Xô năm nào cũng sản sinh ra các lứa thiên tài âm nhạc mới, và Nikolai Zaitsev[52], dù được sự quan tâm chu đáo của đơn vị đặc nhiệm cũng không thể cạnh tranh nổi, do đó chỉ trở thành một công chức trong lĩnh vực văn hóa, đồng thời là sĩ quan dự bị danh dự.

Zhenya hai lần kết hôn, có thêm một con gái nữa. Với cô con gái ở nước Anh, Zhenya không có mối liên lạc nào cả - chỉ đơn giản là bị cấm, còn cô con gái với người vợ Nga thì đã định cư ở đâu đó bên châu Âu. Zhenya liên lạc với cha mẹ mình qua hộp thư điện tử mỗi năm một lần, chủ yếu để thăm hỏi sức khỏe và để biết còn sống hay không? Rất có thể, căn hộ khang trang của họ ở ngay trung tâm thành phố Moskva sẽ không có người thừa kế.

- Nói chung, tôi chỉ còn lại một mình. - Một lần nữa ông Zhenya lại ứa nước mắt, kết thúc câu chuyện của mình.

- Có thể bà không tin, Nastenka ạ, có khi cả tháng liền tôi chẳng nhận được một cú điện thoại nào ngoài những cuộc gọi nhắc trả tiền các dịch vụ công cộng.

- Thế ông giấu nó ở đâu? - Bà Anastasya hất đầu về phía cái bao.

- Thật lòng mà nói, cho đến năm 1981, trong khi ga ra chưa bị tháo dỡ để xây dựng lại, tôi thậm chí cũng chẳng chạm tay vào. - Vừa nói ông Zhenya vừa vuốt ve lên hộp đàn. - Kể từ dạo ấy tôi cứ ở rịt trong nhà để bảo vệ nó, không dám bước ra ngoài vì sợ. Mỗi khi chạm vào, tôi cảm thấy ấm áp và nhớ đến bà, có cảm giác như trẻ lại.

- Thế ông không sợ khi đến đây à? - Bà Anastasya vẫn hỏi bằng một giọng cay nghiệt.

- Dĩ nhiên là sợ. - Ông Zhenya đứng dậy, vươn thẳng người lên, trông trẻ hẳn ra. - Nhưng tôi nhờ mọi người giúp đỡ. Tôi cũng đã chứng kiến nhiều chuyện.

- Và ông cũng đã gây ra nhiều chuyện. - Không hiểu sao bà Anastasya cũng đứng lên. - Thế ông mang cây đàn đến đây làm gì?

- Tôi không thể đến đây mà không có nó. - Ông Zhenya vung tay rất điệu nghệ. - Nó giống như tờ ủy nhiệm thư. Bà nhìn đây. - Vừa nói ông vừa vội vàng, lập cập mở cái bao ra, loay hoay mãi mới lấy ra được cái hộp đàn quen thuộc đến mức làm bà Anastasya đau nhói.

Bà Anastasya cảm thấy khó ở, run rẩy đưa tay lên che mắt, nhớ lại thời thanh xuân của mình, lâu đài sang trọng ở nước Áo, những bữa tiệc hằng đêm với sơn hào hải vị, còn sau đó là sự chăm sóc nhiệt tình của Stoletov, ngây ngất vì rượu vang lâu năm và cơ thể nõn nà của bà… Đó là những trang rực rỡ, tươi vui duy nhất trong cuộc đời Anastasya, và bà đã bị thiêu cháy nhanh như một tia lửa, chỉ còn lại những nỗi đau hằn lên tất cả những năm tháng tiếp theo.

- Nó đây! Bà nhìn xem! - Ông Zhenya cẩn thận cầm cây đàn trên tay rồi lướt nhẹ cây vĩ, cố nhìn vào mắt bà Anastasya: - Âm thanh tuyệt vời làm sao! Tôi đã giữ nó cho bà, nếu không thì bà đã mất nó từ lâu rồi.

- Tôi đã mất nó từ lâu rồi. - Ánh mắt bà Anastasya vẫn như bị một lớp sương mờ bao phủ.

- Ồ không, không. - Vị khách xúc động nói. - Chúng ta sẽ đi khỏi đây, sẽ bán nó với giá rất cao và sẽ sống sung túc cho đến cuối đời.

- Hừ, ông định “sống sung túc” trong bao lâu nữa!?

- Thì sao nào? Tôi vẫn còn khỏe mạnh, tôi sẽ chăm sóc cho bà. - Ông Zhenya lại cố làm ra vẻ phong độ. - Nastya, chúng ta cần phải nhanh chóng rời khỏi cơn ác mộng này. Tôi rất cần bà. - Ông Zhenya định chạm vào vai bà Anastasya nhưng bà đã né ra.

- Ôi, trơn quá! - Từ hành lang mờ tối, tiếng Cậu bé vang lên.

- Nó về rồi! - Bà Anastasya sinh động hẳn lên, nét mặt tươi tỉnh. - Lại đây, cục cưng của bà. - Bà ôm Cậu bé vào lòng, hôn lên đầu nó làm như lâu lắm không gặp.

- Cháu có thể chơi thử được không?

- Tất nhiên rồi, được, được. - Bà quay về phía vị khách.

- Cái gì? Bà nói gì thế? - Vị khách định cất cây đàn đi.

- Xin lỗi, ông đừng ngại. - Bà Anastasya nói bằng một giọng lạnh lùng mà từ trước đến giờ Cậu bé chưa bao giờ nghe, rồi bà gần như giằng lấy cây đàn và nói bằng một giọng khác hẳn: - Nào, cháu chơi đi. Đây là một cây đàn xứng đáng. Thử xem.

Cậu bé chăm chú ngắm nhìn cây đàn như muốn làm quen với người bạn mới rồi đặt lên vai.

- Dây đàn khác hẳn. - Cậu bé nhận xét. - Lại có mùi nhà kho.

- Đúng thế! - Bà Anastasya mỉm cười, gật đầu hưởng ứng. Cậu bé chăm chú nhìn vào tay cầm của cây vĩ cổ xưa đã bị rạn, cẩn thận đặt nó lên hàng dây như lo ngại điều gì đó và bắt đầu chậm rãi chơi, dừng lại giây lát rồi lại chơi tiếp và dừng lại lần nữa, nhìn về phía bà Anastasya bằng ánh mắt như có ý dò hỏi.

- Thế nào, âm thanh khác hẳn phải không? Đã bao năm rồi không có ai chạm tay vào dây đàn. - Bà lão nói. - Nào, chúng ta sẽ lên dây lại.

- Còn bác, xin mời dùng pho mát tươi và mật ong. - Roza lăng xăng bên cạnh, cất tiếng mời.

- Không được đụng vào cây đàn. - Vị khách bực bội nói, thậm chí nhoài cả người tới, nhưng bắt gặp ánh mắt nghiêm khắc của bà Anastasya, ông ta đành ngồi xuống, nhìn lên bàn.

- Ồ, phải, có thể nếm thử đặc sản hoa quả địa phương, cả ngày hôm nay tôi chưa ăn gì. - Ông ta nhìn vào đồng hồ.

Trong quá trình dạy nhạc cho Cậu bé, bà Anastasya cũng dành nhiều thời gian hướng dẫn về cây đàn.

- Bà hãy cẩn thận, cẩn thận đấy, Nastya. - Vị khách không kìm nổi, vừa ăn pho mát tươi với mật ong vừa lo lắng nói. - Ồ, cũng ngon đấy, rất tuyệt. - Rồi ông ta lại quay về phía cây đàn: - Nói chung, bà cũng biết đây không phải là nhạc cụ để biểu diễn, nhất là đối với trẻ con… Một vật rất quý hiếm.

Nhưng nhìn thấy ánh mắt như thiêu đốt hướng về phía mình của người đàn bà đang lên dây đàn, ông Zhenya liền cụp mắt xuống làm như đang chăm chú vào chuyện ăn uống, nhưng vẫn không kìm được, thốt lên như nói với chính mình:

- Suốt bao nhiêu năm qua, tôi rất ít khi chơi nó, chủ yếu là để giữ gìn âm thanh.

- Cũng không nên sử dụng đồ vật của người khác. - Bà Anastasya cay độc nhắc khéo và đưa lại cây đàn cho Cậu bé.

Cậu bé lại chơi, thoạt đầu còn chậm, vừa chơi vừa chăm chú lắng nghe rồi đột ngột dừng lại, mỉm cười vui vẻ thốt lên:

- Âm thanh hay quá! Dễ chỉnh thật! - Cậu lại chơi tiếp, giờ đây là những giai điệu vui vẻ, tự tin, hoàn toàn chìm đắm vào bản nhạc.

- Ồ, lạ thật! - Vị khách, vẫn còn đầy thức ăn trong miệng, kinh ngạc thốt lên. - Đây là bản Allegro của Karkasy.

- Bây giờ cháu từ từ chuyển sang khúc biến tấu của Mozart[53] đi. - Bà Anastasya chỉ huy. - Thế… thế… Giỏi lắm!

- Thằng bé bao nhiêu tuổi rồi? Ai dạy nó vậy? - Vị khách bật dậy, ngạc nhiên.

- Thiên nhiên dạy nó! - Bà Anastasya đáp, không thèm nhìn vị khách.

- Sao bà lại giữ thằng bé ở đây?! - Vị khách lại vung tay rất điệu nghệ. - Cần phải đưa nó về thủ đô! Nó sẽ thắng bất cứ một cuộc thi nào. Còn hiện giờ cái nó cần là sự nổi tiếng và tiền bạc! - Ông ta lại nhìn vào đồng hồ. - Nói chung, tôi đã không uổng công đến đây… Đã đến lúc chúng ta phải đi rồi.

- “Chúng ta” nào? - Bà Anastasya như bừng tỉnh.

- Thì… - Vị khách mỉm cười cố làm ra vẻ kiểu cách và không hiểu tại sao lại nhìn về phía Roza. - Ở trạm kiểm soát có một chiếc xe đặc biệt đang chờ chúng ta… Tôi đến đây với thiện ý. - Rồi bằng một giọng ngọt xớt: - Tôi nghĩ, bằng cách nào đó, tôi cần phải giúp mọi người. Dẫu sao thì trước đây chúng ta cũng đã từng làm phép cưới và…

- Ông im đi! - Bà Anastasya hét lên bằng một giọng the thé rất lạ, đập bàn tay xương xẩu xuống bàn làm chén đĩa nảy tung lên, còn Cậu bé thì hoảng sợ nhảy lùi lại, suýt ngã, đánh rơi cây vĩ xuống sàn.

- Bà xin lỗi, xin lỗi. - Bà lão ôm lấy thằng bé và không thèm nhìn vị khách, nói tiếp: - Tôi yêu cầu ông, không biết phải gọi ông thế nào cho đúng, Zaitsev hay Zverev, - rồi bà quay hẳn về phía ông ta, cố tỏ ra kiêu hãnh: - Yêu cầu ông ra khỏi nhà chúng tôi, nhanh lên! Nếu không thì chiếc xe đặc biệt ấy sẽ chạy mất và bỏ lại con người đặc biệt đấy.

- Nastya, bà làm sao thế? - Vị khách bước giật lùi ra cửa và quay về phía Roza, than thở: - Lúc nào bà ấy cũng thế, cầu xin Chúa tha thứ. - Ông ta gian giảo nhìn về phía cái bao rỗng rồi ngập ngừng bước đến chỗ Cậu bé vẫn đang trong vòng tay bà lão và đưa tay ra vuốt vuốt những lọn tóc xoăn của cậu: - Một đứa bé kỳ lạ. Thật tiếc là nó sẽ bị thui chột mất. - nói và ông ta vội chộp lấy cây đàn.

- Đừng nói bậy, đồ khốn nạn! - Bà Anastasya không còn khách sáo nữa. - Hãy thương hại chính cái cuộc sống “thui chột” của mình ấy!

Bà Anastasya lẩm nhẩm câu gì đó nữa, còn ông khách thì vội vàng gói lại cây đàn.

- Cây đàn rất tốt. - Đột nhiên Cậu bé bỗng thốt lên.

- Cháu có thích không? - Bà Anastasya cúi xuống, và không chờ câu trả lời, cương quyết bước tới, đẩy mạnh vị khách, giằng lại cây đàn, giữ chặt trong hai tay rồi trang trọng đưa cho Cậu bé: - Bà tặng cháu! Ngoài cây đàn này ra, bà không có gì để cho cháu cả.

- Đồ ngu! Bà điên rồi. - Vị khách nhào tới, định lấy lại cây đàn. - Bà có biết nó đáng giá bao nhiêu tiền không?

- Biết chứ. - Bà Anastasya cương quyết ngăn ông ta lại:

- Nó là thanh danh đã bị sỉ nhục của tôi!

- Ha-ha-ha! “Thanh danh” của bà là cái thá gì! Đây là bảo vật lịch sử mà Interpol[54] đang săn lùng đấy…

- Cút đi! Tôi đã bảo, cút đi! - Bà Anastasya lại hét lên.

- Ôi, bà thật là! - Vị khách giơ tay chống đỡ và bước lùi ra cửa. - Trong cái hang này mà bà vẫn chưa từ bỏ kiểu cách địa chủ của mình.

- Cút ngay!

- Ha-ha! Tôi đã không uổng công đến đây! Cây đàn này không thể bán được, mà giữ nó thì rất nguy hiểm. Ai mà biết được, có thể bị giết lắm. Nhưng ném đi thì không nỡ. Nói chung, “thanh danh” của bà thì bà cứ việc giữ, còn lương tâm của tôi, giờ đây trong sạch. - Ông Zhenya khoái trá vội vàng bước xuống theo các bậc thang.

- Lương tâm?! Lương tâm nào? - Bà Anastasya lẩm nhẩm, cả người run lên, nhìn cây đàn lần nữa như lần đầu tiên nhìn thấy nó, rồi như sực nhớ ra điều gì đó, bà hét theo vị khách: - Đồ đê tiện! Đồ đê tiện bẩn thỉu!

Nguồn: TVE 4U
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 22 tháng 6 năm 2026

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Kanta Ibragimov