Ngày thứ hai sau khi đến trang trại, Chu Công gọi Khương Vô Vi vào thư phòng của mình.
Thư phòng của Chu Công không nằm trong cùng tòa nhà trang trại nơi Khương Vô Vi và mọi người sinh sống, mà nằm ở một khoảng sân riêng biệt bên sườn trang trại. Ba mặt của khoảng sân là những tòa lầu nhỏ hai tầng mang phong cách cổ điển Đan Mạch, mái lợp bằng cỏ tranh. Nghe nói loại cỏ tranh này có giá đắt hơn rất nhiều so với các vật liệu xây dựng khác, nhưng lại giúp ngôi nhà đông ấm hè mát.
Phía trước sân là một khu vườn, đứng từ đây có thể phóng tầm mắt ra vùng biển xa xôi, ngắm nhìn những cánh buồm nhấp nhô. Khu vườn này có thể coi là độc nhất vô nhị ở vùng này, với những lầu đài đình tạ tinh xảo, cầu nhỏ nước chảy, đâu đâu cũng mang đậm phong vị của lâm viên Trung Hoa, do chính Chu Công tự tay thiết kế và xây dựng.
Vô Vi rảo bước qua khu vườn, phát hiện ở ngay giữa vườn có một khoảng đất trống, không trồng hoa cũng chẳng trồng cỏ, mặt đất phẳng phiu và nện rất chặt, chính giữa có một hình bát quái thái cực. Vô Vi cảm thấy kỳ lạ, nhưng không nghĩ ngợi nhiều mà vội vàng đi về phía thư phòng của Chu Công.
Thư phòng nằm ở một bên của tòa lầu chính diện. Vô Vi bước vào trong, thấy diện tích thư phòng rất rộng, chừng hơn trăm mét vuông, nhưng cách bài trí lại vô cùng giản dị. Bức tường lớn nhất một bên kê toàn tủ sách, hai bên tường còn lại treo các tác phẩm thư pháp và tranh sơn thủy thủy mặc Trung Hoa. Bức tường đối diện ngoài ba khung cửa sổ lớn thì không để thêm thứ gì.
Bàn viết và ghế ngồi bằng gỗ hồng sắc khiến thư phòng mang một vẻ cổ kính tao nhã, trên bàn bày văn phòng tứ bảo cùng một số sách đóng chỉ gáy cổ. Góc bàn còn đặt một chiếc chum sứ ngũ sắc bụng tròn đường kính khoảng hai mươi centimet, trên mặt vẽ họa tiết hoa mẫu đơn tượng trưng cho vinh hoa phú quý, trong chum cắm vài cuộn trục tranh.
Chu Công đã thay một bộ Đường trang bằng vải lanh màu xám, chân đi giày vải đen đế mềm, trông vô cùng quắc thước. Thấy Khương Vô Vi bước vào, ông vội đứng dậy chào hỏi, bảo anh ngồi xuống chiếc ghế hồng sắc bên cạnh.
"Vô Vi, lại đây ngồi đi, tối qua nghỉ ngơi thế nào? Có quen không?" Chu Công mỉm cười hỏi.
"Thoải mái quá ạ, cảm giác cứ như ở nhà vậy, một giấc đến sáng bạch. Con bị đánh thức bởi tiếng chim hót ngoài cửa sổ, có cảm giác như đang ngủ ở quê nhà, trong lòng thấy cực kỳ thanh thản."
"Phải rồi, đây cũng chính là lý do ta chọn nơi này, ở đây khiến lòng người đặc biệt bình yên. Vô Vi, môi trường như thế này rất có lợi cho việc học tập, ta định để con tranh thủ thời gian bắt tay vào học ngay, con thấy thế nào?"
"Tốt quá rồi ạ, con nằm mơ cũng mong sớm được theo sư phụ học hỏi kiến thức. Ra nước ngoài rồi mới biết bụng dạ mình rỗng tuếch, mọi việc đều nghe theo sự sắp xếp của sư phụ, con nhất định sẽ tập trung tinh thần học tập." Vô Vi vui mừng nói.
Chu Công nhìn Khương Vô Vi bằng ánh mắt trìu mến, nghiêm túc nói: "Thực ra những thứ ta có thể truyền thụ cho con đã không còn nhiều nữa, các chiến thuật cơ bản trong sòng bạc con cũng đã nắm được hòm hòm rồi. Tiếp theo ta muốn dạy con ba phương diện, ba phương diện này tuy không liên quan gì đến cờ bạc, nhưng sẽ giúp ích rất lớn cho cuộc đời sau này của con. Tất nhiên, bản thân cờ bạc cũng là một lối sống, thậm chí là sự thu nhỏ của cuộc sống. Một người có lối sống lành mạnh, ngay cả khi ở trong sòng bạc, anh ta cũng có thể tự khống chế bản thân rất tốt. Vì vậy ta hy vọng con sẽ đối xử nghiêm túc với những nội dung ta sắp dạy."
"Con biết rồi sư phụ, con nhất định sẽ nghiêm túc tiếp thu tất cả những gì người dạy." Vô Vi nghiêm túc trả lời, nhưng trong lòng lại nghĩ, lẽ nào Chu Công thực sự không nhận ra mục đích mình đến đây? Bản thân đã tiết lộ thông tin của giáo sư hướng dẫn cho sư phụ, với sự thông minh trí tuệ của Chu Công, chắc chắn phải đoán được mình không phải đến đây để học thuật đánh bạc.
Chu Công nói tiếp với Vô Vi: "Lúc ở Las Vegas ta đã nói với con rồi, nội dung đầu tiên ta muốn truyền thụ cho con chính là "Chu Dịch". Vì chuyên ngành của ta là khảo cổ học, nên ta từng nghiên cứu chi tiết về "Chu Dịch". Sau khi ra nước ngoài, ta lại dùng mười năm trời để chuyên tâm nghiên cứu hệ thống "Chu Dịch". Sở dĩ ta có những kiến giải độc đáo trong cờ bạc, hoàn toàn là nhờ vào việc này."
Dù trước đây đã nghe Dương Nham kể sư phụ là tiến sĩ khảo cổ, nhưng nay nghe chính miệng Chu Công nói ra, trong lòng Khương Vô Vi vẫn vô cùng kích động. Anh bỗng dâng lên một nỗi thôi thúc muốn đứng phắt dậy hỏi thẳng sư phụ có phải là sư thúc Mục Thiên Tích hay không. Nhưng anh ra sức kìm nén sự bốc đồng đó, tự cảnh tỉnh bản thân rằng sư thúc làm vậy nhất định có nguyên nhân. Mình đã đến bên cạnh sư thúc rồi thì cứ thuận theo tự nhiên, nước chảy thành sông, tin rằng chẳng bao lâu nữa sẽ phát hiện ra bí mật của sư phụ.
Chu Công không chú ý đến sự thay đổi sắc mặt của Khương Vô Vi. Nói xong, ông đứng dậy đi đến bàn viết, cầm hai cuốn sách và một cuốn sổ tay đặt sẵn trên bàn, có vẻ ông đã chuẩn bị từ trước.
Chu Công quay lại ngồi xuống, đặt sách và sổ tay lên bàn trà trước mặt Khương Vô Vi, khẽ vuốt ve chúng và nói: "Hai cuốn sách này là "Chu Dịch" và "Phép biện chứng duy vật", còn cuốn sổ tay này là tâm đắc học tập và nghiên cứu của ta về hai cuốn sách đó. Thời gian này con cứ tĩnh tâm lại, nghiêm túc nghiên cứu kỹ hai cuốn sách này cùng ghi chép của ta, chỗ nào không hiểu thì cứ hỏi ta bất cứ lúc nào."
Khương Vô Vi cầm lấy hai cuốn sách và sổ tay, khẽ lật xem, phát hiện trong sách có rất nhiều chỗ được chú thích tỉ mỉ, nét chữ ngay ngắn rõ ràng, có thể thấy thái độ nghiên cứu học thuật vô cùng nghiêm túc của sư phụ.
Khương Vô Vi xem qua vài trang rồi khép sách lại, chân thành nói với Chu Công: "Sư phụ, thời đại học con từng học qua "Phép biện chứng duy vật" và "Chu Dịch", nhưng có một số nội dung rất khó lĩnh hội được nội hàm bên trong. Người có thể giảng giải ngắn gọn súc tích trước cho con xem nên bắt đầu học từ góc độ nào được không?"
"Tất nhiên là được." Chu Công sảng khoái nói, "Vô Vi, trước khi học ta đưa ra một yêu cầu cho con, con buộc phải làm rỗng đầu óc của mình trước rồi mới có thể bắt đầu."
Vô Vi chưa hiểu rõ ý của sư phụ, anh nhìn Chu Công bằng ánh mắt nghi hoặc, "Sư phụ, con chưa hiểu rõ ý của người lắm."
"Ha ha..." Chu Công bỗng cười lớn, ông chỉ vào tách trà trước mặt Vô Vi nói: "Nước trong này đã đầy tràn rồi, làm sao con rót thêm nước vào được nữa?"
"Ồ... Con hiểu ý người rồi." Vô Vi cũng cười theo, "Ý sư phụ là muốn con vứt bỏ những nhận thức và quan điểm vốn có trong đầu, để tiếp nhận những tư tưởng và ý niệm mới, đúng không ạ?"
Chu Công hài lòng gật đầu, nói tiếp: "Điểm chung của hai cuốn sách "Phép biện chứng duy vật" và "Chu Dịch" là đều nghiên cứu quy luật vận động phát triển của sự vật. "Phép biện chứng duy vật" là khoa học về những quy luật phổ biến nhất của sự phát triển tự nhiên, xã hội loài người và tư duy, đối tượng nghiên cứu của nó là quy luật phổ biến của sự phát triển toàn bộ thế giới. Bản chất và hạt nhân của phép biện chứng duy vật là: Quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập. Các mặt đối lập chính là mâu thuẫn. Các mặt mâu thuẫn nương tựa lẫn nhau, sự tồn tại của mặt này lấy sự tồn tại của mặt kia làm điều kiện, cả hai cùng tồn tại trong một thể thống nhất. Các mặt mâu thuẫn dựa vào những điều kiện nhất định để chuyển hóa sang hướng ngược lại với chính mình. Thống nhất của các mặt đối lập là nguồn gốc của sự phát triển sự vật. Phần nội dung này chắc con quen thuộc lắm đúng không?"
Vô Vi gật đầu, "Vâng, những nội dung này con đều đã học qua."
"Còn "Chu Dịch" thì dùng sự tiêu trưởng của âm dương để hiển thị quy luật phát triển của sự vật. Sự tiêu trưởng của âm dương và sự thống nhất của các mặt đối lập thực chất hoàn toàn là một, nội dung biểu đạt của chúng là nhất trí, chỉ là từ ngữ sử dụng khác nhau mà thôi. Nhưng so với "Phép biện chứng duy vật", "Chu Dịch" luận thuật về quy luật và xu thế phát triển của sự vật một cách tinh tế và sâu sắc hơn. "Phép biện chứng duy vật" chỉ đơn giản dùng hai mặt mâu thuẫn để biểu đạt và nghiên cứu quy luật phát triển của sự vật. Trong khi đó, tư tưởng triết học âm dương tiêu trưởng của "Chu Dịch" lại dùng sự sinh khắc chế hóa của âm dương ngũ hành để biểu thị, nhờ đó mà chuẩn xác và khoa học hơn. Tổ tiên chúng ta vô cùng thông minh, họ dùng năm loại vật chất Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ để biểu thị một cách hình tượng cho sự cấu thành của thế giới vật chất. Điều này đã hình tượng hóa những sự vật trừu tượng, thông qua phân tích sự sinh khắc chế hóa của năm loại vật chất hình tượng này để nghiên cứu quy luật và xu thế phát triển của mọi sự vật. Phương pháp này cực kỳ đơn giản mà lại chính xác."
"Sư phụ, con nhớ ở Las Vegas người từng giảng, chìa khóa chiến thắng trong sòng bạc nằm ở việc nắm bắt 'xu thế' của cuộc chơi, vậy phương pháp nắm bắt xu thế có phải là phán đoán thông qua sự tiêu trưởng âm dương của "Chu Dịch" không ạ?" Khương Vô Vi có linh tính nhạy bén, đầu óc thông suốt, lập tức liên tưởng đến những nội dung Chu Công từng giảng trước đây.
"Ha ha... Đúng thế, Vô Vi con rất thông minh, vừa nói đã thông suốt. Hạt nhân lý luận của "Chu Dịch" là: Tượng của bát quái có thể quy nạp vạn vật, vạn vật tùy theo mùa màng thay đổi mà hưng suy. Bất cứ sự vật nào cũng không thoát khỏi sự thay đổi hưng suy, cho nên chỉ cần nắm bắt được xu thế hưng suy của sự vật, chính là đã nắm bắt được quy luật phát triển của nó..." Chu Công thao thao bất tuyệt giảng giải cho Vô Vi, đồng thời từ đáy lòng vô cùng tán thưởng năng lực hiểu biết của anh.
"Sư phụ, từ lần trước nghe người giảng về khái niệm ngũ hành, trong lòng con luôn có một câu hỏi luẩn quẩn. Vạn vật trên đời đều cấu thành từ năm thuộc tính vật chất Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ, sự vận động biến hóa của năm loại vật chất cơ bản này cấu thành nên thế giới vật chất phong phú đa dạng. Cách nói này liệu có quá thô sơ không ạ? Ý con là nghiên cứu chúng liệu có thực sự nắm bắt được xu thế phát triển của sự vật?"
"Ta hiểu ý con rồi, thực tế đây chính là điểm thông minh của tổ tiên chúng ta. Ban đầu ta cũng có sự hoài nghi giống con. Vừa rồi ta có đưa ra một yêu cầu, trước khi học phải làm rỗng tư tưởng của mình. Ở đây yêu cầu con phải vứt bỏ đặc tính gốc của năm loại vật chất Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ trong đầu đi. Ngũ hành trong "Chu Dịch" chỉ mượn thuộc tính của năm loại vật chất này để biểu hiện nội hàm của các sự vật khác nhau, chứ không phải đặc tính vật lý thông thường của chúng. Người xưa đã dùng năm loại vật chất hình tượng này để biểu đạt những thứ cực kỳ trừu tượng, nói thế này con hiểu chưa?"
Khương Vô Vi mỉm cười mãn nguyện, "Con hiểu rồi, nghe sư phụ giảng xong con cảm thấy thông suốt hẳn ra."
"Tốt lắm, trước tiên con cứ tự mình đọc kỹ những thứ này vài lần, chỗ nào nghĩ không thông thì lại hỏi ta. Sáng sớm mai khi trời vừa hửng sáng, con nhớ dậy sớm qua đây tìm ta, ta sẽ bắt đầu truyền thụ cho con nội dung thứ hai."
"Vâng, sư phụ, vậy con xin phép đi trước." Khương Vô Vi vừa nói vừa cầm sách đứng dậy.
Chu Công mỉm cười gật đầu, hài lòng nhìn Khương Vô Vi rời khỏi thư phòng.
Khương Vô Vi ôm sách sư phụ cho, vừa về đến phòng khách mình ở, Dương Nham và chị em Song Kiều đã líu lo bước vào, Alun cũng lẳng lặng đi theo phía sau họ, trước mặt ba cô gái thì không có chỗ cho anh ta chen lời.
"Anh Vô Vi, anh đi đâu thế? Bọn em tìm anh mãi, mau dọn dẹp chút đi rồi tụi em dẫn anh đi chơi quanh trang trại." Giọng điệu của Dương Nham ra vẻ như mình là khách quen ở đây.
Đại Kiều và Tiểu Kiều cũng hùa vào khuyên Vô Vi, "Đúng đó anh Vô Vi, anh cứ nghỉ ngơi cho khỏe vài ngày đi, làm quen với môi trường ở đây, những chuyện khác tính sau..."
Khương Vô Vi vội cười ngắt lời Song Kiều, trêu chọc: "Khoan đã, hai người tuyệt đối đừng gọi tôi là anh, sư phụ ở sân bay đã nói rồi, hai người là sư tỷ của tôi, vai vế không thể loạn được, để sư phụ biết là người không vui đâu."
"Ha ha... Không ngờ anh còn cổ hủ thế đấy, buồn cười thật..." Đại Kiều cười đến gập cả người.
"Không thể nào, lại có người gọi tôi là chị cơ đấy..." Tiểu Kiều nói cường điệu, vẻ mặt đầy hóm hỉnh.
"Anh Vô Vi, anh đừng đùa nữa, bọn họ toàn gọi em là chị thôi đấy, làm sao có chuyện bắt anh gọi họ là sư tỷ được, anh không đến mức hủ lậu như ông đồ già thế chứ." Dương Nham cũng trêu chọc.
Khương Vô Vi biết mình cãi không lại ba cô gái, đành giơ tay chịu thua, nói với họ: "Được rồi, tùy các cô muốn gọi thế nào thì gọi, nhưng tôi không có thời gian đi chơi với các cô đâu." Vô Vi chỉ vào đống sách trên bàn, nói tiếp: "Sư phụ đã giao nhiệm vụ học tập cho tôi rồi, tôi phải bắt đầu khóa huấn luyện đây."
"Anh vừa mới đến còn chưa kịp thở dốc, thế nào cũng phải nghỉ ngơi hai ngày chứ, sư phụ thật là..." Tiểu Kiều có chút bất bình thay cho Vô Vi.
Dương Nham hiểu tính cách của Vô Vi, một khi sư phụ đã bảo anh bắt đầu học thì nói gì cũng vô ích, thế là cô nói với chị em Song Kiều: "Xem ra chỉ có chúng ta đi chơi thôi, đi thôi không làm phiền anh ấy nữa." Vừa nói cô vừa kéo hai chị em ra khỏi phòng Vô Vi.
Bốn người buồn bã bước ra khỏi phòng Vô Vi, bàn nhau đi đâu chơi. Dương Nham là người không chịu ngồi yên một chỗ, lần trước đến đã chơi khắp xung quanh trang trại rồi, liền nói với Song Kiều: "Chúng ta đi Copenhagen đi, quanh đây đi hết rồi, chẳng có gì chơi cả."
"Thế cậu thích chơi gì?" Thiên Kiều cười hỏi.
"Tớ thích nhất là món ăn ngon, ở đây có gì ngon không?" Nhắc đến ăn là Dương Nham lập tức phấn chấn hẳn lên.
"Cậu đến đúng nơi rồi đấy, ở Đan Mạch chín mươi phần trăm người Hoa làm nghề nhà hàng, mà đa số là mở quán đồ nướng. Cậu có biết câu đầu tiên cảnh sát quản lý người nước ngoài ở đây nói với người Trung Quốc mới đến Đan Mạch là gì không?" Tiểu Kiều tỏ vẻ thần bí hỏi Dương Nham.
"Là gì? Tớ chịu không đoán được."
" 'Chúng ta lại có thêm một quán đồ nướng rồi.' Đó là câu đầu tiên cảnh sát nói khi gặp người Trung Quốc đấy, ha ha..."
Thiên Kiều cũng cười nói: "Báo chí Đan Mạch cũng từng đưa tin: 'Ở Copenhagen, nơi nào có nhiều quán đồ nướng nhất, thì sòng bạc nơi đó làm ăn phát đạt nhất.'"
"Tại sao lại nói thế?" Alun không hiểu hỏi.
"Bởi vì khách quen lui tới sòng bạc mỗi ngày cơ bản là người gốc Á tóc đen, người bản địa rất ít."
"Ầy, thật không ngờ ở bất cứ nơi nào trên thế giới cũng vậy, người châu Á, đặc biệt là người Hoa chúng ta nổi tiếng là ham mê cờ bạc." Alun cảm thán nói.
Vừa nói bốn người đã đi đến bên chiếc xe hơi trong sân, Dương Nham gọi họ mau lên xe, "Lâu rồi tớ cũng chưa vào sòng bạc chơi, vậy chúng ta đi ăn một bữa đồ nướng, rồi chơi vài ván."
Bốn người bỏ mặc Khương Vô Vi ở lại trang trại, lái xe đi Copenhagen.
Khương Vô Vi tự nhốt mình trong phòng, trước tiên chuyên tâm nghiên cứu cuốn sổ tay của Chu Công. Anh muốn tìm ra thứ mình cần từ trong sổ tay, quả nhiên không ngoài dự đoán, rất nhiều quan điểm học thuật của Chu Công có cùng một nguồn gốc với giáo sư hướng dẫn Âu Dương Minh Bác của anh. Nhưng Chu Công có nhiều kiến giải rất độc đáo đối với một số vấn đề, mổ xẻ vấn đề thấu triệt hơn, thêm vào những mô tả cụ thể và hình tượng, giúp người ta dễ dàng hiểu được các khái niệm trừu tượng.
Từ cuốn sổ tay học thuật của Chu Công, Khương Vô Vi hoàn toàn khẳng định phán đoán của mình: Chu Công chính là sư thúc Mục Thiên Tích của anh.
Cùng với việc nghiên cứu sâu hơn sổ tay của sư thúc, Khương Vô Vi nhanh chóng bị nội dung bên trong thu hút. Anh bỗng dấy lên một cảm giác, Chu Công để anh học những thứ này nhất định là có dụng ý rất sâu xa, bởi vì trong sổ tay toàn bộ đều dùng lý luận của "Phép biện chứng" và "Kinh Dịch" để làm rõ các vấn đề gặp phải trong khảo cổ học. Hơn nữa, nhiều vấn đề trong đó cũng chính là những bài toán khó mà anh đang trăn trở. Những vấn đề chưa được giải đáp khi anh học tại Khoa Khảo cổ học thuộc Đại học Edinburgh hóa ra lại tìm thấy câu trả lời trong sổ tay của sư phụ. Khương Vô Vi chìm đắm vào việc học quên cả thời gian...
Đã là rạng sáng, Khương Vô Vi sực nhớ Chu Công dặn mình mai phải dậy sớm, anh liền ép mình gác sổ tay của sư phụ lại để lên giường đi ngủ.
Nhưng nằm trên giường Khương Vô Vi lại không ngủ được, đầu óc vẫn ở trạng thái phấn khích, anh đoán xem ngày mai sư phụ sẽ truyền thụ nội dung gì cho mình? Từ lần đầu tiên gặp Chu Công ở Atlantic, lần nào sư phụ cũng khiến anh cảm thấy bất ngờ, qua việc học sổ tay của sư phụ càng khiến anh thêm phần kính nể Chu Công.
Sáng hôm sau, trời vừa tờ mờ sáng, Khương Vô Vi đã vội vàng thức dậy, anh không đoán ra vì sao sư phụ lại bắt mình đến gặp sớm như thế.
Khương Vô Vi mang theo sự tò mò đi về phía khuôn viên nơi Chu Công ở. Còn chưa đến khu vườn, anh đã thấy bóng người thấp thoáng ở khoảng đất trống giữa vườn, lại gần nhìn kỹ, hóa ra là sư phụ đang luyện thái cực quyền.
Chỉ thấy bước đi của Chu Công thanh thoát, động tác như mây trôi nước chảy, nhẹ nhàng uyển chuyển, liên tục không dứt. Thân hình lúc nhanh lúc chậm, lên xuống trái phải, xoay vần thuận nghịch. Quyền chưởng lúc ẩn lúc hiện, hư hư thực thực.
Khương Vô Vi tiến lại gần không dám làm phiền sư phụ, lặng lẽ đứng bên cạnh quan sát. Điều khiến anh kinh ngạc là tuy sư phụ liên tục di chuyển, né tránh, nhảy vọt nhưng không phát ra một tiếng động nào, chân dưới đất như thể đang đạp trên bông. Khương Vô Vi từng học tự do vật lộn, rất rành về quyền thuật, nhìn một cái là biết sư phụ là một cao thủ nội gia.
Đi hết một bài quyền, Chu Công thu thế đứng lại, hai tay nhẹ nhàng buông thõng, sắc mặt không đổi, hơi thở không dồn dập, vẻ mặt bình thản không khác gì bình thường.
"Vô Vi, con đến rồi." Chu Công quay người lại, thân thiết nói với Khương Vô Vi.
"Sư phụ, thái cực quyền của người đã luyện đến mức xuất thần nhập hóa rồi, hoàn toàn không nhận ra người lại là một cao thủ võ thuật đấy ạ." Vô Vi kinh ngạc nói.
"Ta chưa tính là cao thủ võ thuật gì đâu. Võ thuật nước nhà và văn hóa của chúng ta có cùng một nguồn cội, đặc biệt là thái cực quyền, thực chất chính là một nhánh của nền văn hóa cổ xưa của chúng ta. Ta tu luyện thái cực quyền không chỉ để phòng thân khỏe người, mà còn để hấp thu tinh túy từ trong đó. Vô Vi, con có thích võ thuật không?"
"Dĩ nhiên là thích rồi ạ, con theo cha sống trong doanh trại quân đội, trong đơn vị của ông ấy có một nhà vô địch vật lộn, con đã tập luyện với chú ấy vài năm, tập toàn là ngạnh công chứ chưa từng tiếp xúc với thái cực quyền."
"Vô Vi, nội dung thứ hai ta muốn truyền thụ cho con chính là thái cực quyền. Thái cực quyền và "Chu Dịch" con đang nghiên cứu có thể nói là bổ trợ cho nhau, có rất nhiều điểm tương thông về nội hàm. Giữa trời đất, vạn vật và cơ duyên không lúc nào là không biến đổi. Thứ duy nhất không thay đổi trên thế giới này chính là 'sự thay đổi'. Điểm này dường như ngược lại với chuyên ngành con đang học, khảo cổ là tìm kiếm những thứ không thay đổi. Thái cực quyền chính là dùng quyền để diễn luyện mọi sự biến hóa đó. Động tĩnh mở đóng, cương nhu nhanh chậm, lúc ẩn lúc hiện, hư hư thực thực, liên miên không dứt, toàn thân một nhà, một bộ phận cử động thì không nơi nào không động, khi hiển lộ thì khí thế dồi dào, khi ẩn đi thì như khói mây tan biến, lấy ý dẫn lực, đến điểm thì hòa tan vào toàn thân, khiến kình đứt nhưng ý không đứt, múa may tự nhiên. Một ý một niệm, một cử một động, tùy tâm sở dục, đều nằm trong tầm tự kiểm soát của bản thân, để đạt được hiệu quả dưỡng sinh phòng thân, đó chính là thái cực quyền." Chu Công vừa giải thích vừa dang rộng hai tay, lấy ý dẫn lực làm mẫu động tác cho Vô Vi.
Hôm qua khi đến đây Khương Vô Vi còn thắc mắc tại sao giữa vườn lại có khoảng đất trống này, hóa ra đây là nơi sư phụ luyện công. Anh không kìm được cũng đứng sau lưng Chu Công, học theo từng chiêu từng thức.
Chu Công vừa luyện vừa giảng giải: "Bài thái cực quyền chúng ta đang luyện là Ngô thị thái cực quyền, quyền thế ngay ngắn, chiêu thức tròn trịa, khoáng đạt tự nhiên. Thái cực quyền quán triệt và thể hiện chính là tư tưởng triết học của Lão Tử, lấy nhu khắc cương, lấy tĩnh chế động, lấy nhỏ thắng lớn, lấy lùi làm tiến. Với sự hiểu biết sâu sắc của con về "Đạo Đức Kinh" của Lão Tử, việc lĩnh hội tinh túy của thái cực quyền chắc chắn sẽ rất dễ dàng. Khi luyện tập phải tĩnh tâm dùng ý, hít thở tự nhiên. Thân thể phải giữ thư thái tự nhiên, không thiên không lệch, động tác như mây trôi nước chảy, nhẹ nhàng uyển chuyển, linh hoạt trầm ổn, cương nhu hài hòa, ngoài nhu trong cương, phát kình phải trọn vẹn, giàu tính đàn hồi, không được dùng sức vụng về..."
Chu Công thị phạm xong bài quyền này, thu người lại rồi nói với Khương Vô Vi: "Từ hôm nay nội dung huấn luyện của con là hai hạng mục này, một tĩnh một động, nghiên cứu "Chu Dịch" và luyện thái cực quyền. Vô Vi, con nắm vững hai thứ này là có thể thực sự vẫy vùng thiên hạ rồi."
"Sư phụ, con nhớ người nói muốn truyền thụ cho con ba phương diện, người đã nói cho con hai hạng mục rồi, có thể cho con biết nốt hạng mục thứ ba được không, để con khỏi phải bận lòng mong ngóng."
"Ha ha... Nôn nóng rồi phải không? Chúng ta cứ lấy mốc ba tháng làm hạn, con chuyên tâm nghiên cứu hai nội dung này, ba tháng sau ta sẽ nói cho con biết hạng mục thứ ba."
---❊ ❖ ❊---
Trang trại yên bình và tường hòa, điều kiện học tập tuyệt vời đã giúp tố chất bên trong của Vô Vi tiến bộ vượt bậc. Vô Vi dành một nửa thời gian học "Chu Dịch", nửa thời gian còn lại khổ luyện thái cực quyền. Nền tảng tốt được rèn luyện từ nhỏ giúp Vô Vi tiến bộ cực nhanh, thành tựu của ba tháng huấn luyện vượt qua cả những gì đạt được trong một năm, chính Vô Vi cũng kinh ngạc trước sự thay đổi trong tâm trí và thể xác của mình.
Mọi thay đổi của Khương Vô Vi đều được Chu Công thu vào tầm mắt, vui mừng trong lòng, đồng thời kinh ngạc trước sự thông minh tài trí của Vô Vi, chỉ một điểm là thông suốt. Điều khiến ông an lòng nhất là bí mật giấu kín trong lòng nhiều năm qua cuối cùng đã tìm được người để gửi gắm.
Sau khi đợt huấn luyện ba tháng tạm thời khép lại, Chu Công lại gọi Khương Vô Vi vào thư phòng của mình. Ông hài lòng nhìn anh và nói: "Vô Vi, có thể thấy thời gian qua con đã vô cùng nỗ lực. Trước khi đợt huấn luyện bắt đầu, ta từng nói với con rằng việc học tập gồm ba nội dung, bây giờ ta sẽ nói với con về nội dung thứ ba. Ngay từ đầu, ta đã khái quát nội dung huấn luyện dành cho con bằng sáu chữ: Tu tâm, dưỡng thân, lập chí. Thời gian qua, mục đích học tập và rèn luyện của con là tu tâm và dưỡng thân, hôm nay ta sẽ bàn với con về việc lập chí."
"Trước khi chúng ta rời khỏi Las Vegas, Robert từng thảo luận với con về vấn đề mục tiêu cá nhân, nhưng nói rất nông. Không ngờ lần đó lại là lần cuối cùng chúng con bàn về nhân sinh. Sư phụ, việc lập chí mà ngài nói có liên hệ gì với mục tiêu không?" Nghe sư phụ đề cập đến chuyện lập chí, Khương Vô Vi bỗng nhiên nghĩ đến Hạo Thịnh. Về phương diện này, Hạo Thịnh đã nhiều lần nhắc tới.
"Có liên hệ nhưng không hoàn toàn giống nhau. Vô Vi, ta nhớ trong lần đầu tiên chúng ta gặp mặt, con đã nói với ta rằng con muốn trở thành Vua Bài thế giới. Thực ra đó chỉ có thể coi là mục tiêu mang tính giai đoạn, điều ta muốn bàn với con hôm nay là lập chí cho mục tiêu tối thượng của một đời người."
"Mục tiêu tối thượng? Mục tiêu tối thượng là gì ạ?" Khương Vô Vi hiếu kỳ hỏi.
"Người Trung Quốc chúng ta có câu tục ngữ: 'Kẻ không chí thì thường lập chí, người có chí thì lập chí dài lâu'. Chữ chí được nói đến ở đây chính là chí hướng, cũng tức là mục tiêu cuộc đời. Người không thể không có mục tiêu, không có mục tiêu thì chẳng khác nào mũi tên không có đích bắn. Do đó, việc xác định mục tiêu phát triển của bản thân là vô cùng quan trọng. Thế nhưng, nếu một người chỉ có những mục tiêu nhỏ mang tính giai đoạn, khi đạt được rồi sẽ trở nên vô định, mất đi phương hướng tiến lên, và người đó cũng sẽ nhanh chóng thụt lùi. Đây cũng là nguyên nhân chính khiến một số người không thể phát triển thêm sau khi đạt được những thành công nhất định."
"Đúng vậy, sau khi giành chức vô địch giải World Series of Poker, con từng có cảm giác này. Lúc đó đột nhiên thấy mất đi mục tiêu phấn đấu, trong lòng vô cùng hoang mang. Khi chuẩn bị cho giải đấu, toàn bộ tinh lực đều tập trung vào đó, đến lúc thành công rồi ngược lại chẳng còn việc gì để làm." Khương Vô Vi sâu sắc đồng cảm nói.
Chu Công nhìn Vô Vi rồi nói tiếp: "Chỉ cần phương pháp đúng đắn, mục tiêu một người tự xác định đều có thể thực hiện được. Nếu con coi việc đạt được mục tiêu là thành công, thì sau khi đạt được, nó sẽ khiến con tự mãn. Con người một khi tự mãn sẽ có hai biểu hiện: Một là bay bổng trên mây, không biết mình là ai, đây là điều nguy hiểm nhất. Hai là dừng chân tại chỗ, một khi đã tự mãn, con sẽ mất đi động lực tiến bước. Người sáng lập McDonald's, ngài Kroc từng nói: 'Khi bạn còn xanh, bạn còn có thể phát triển; một khi bạn đã chín muồi, bạn sẽ bắt đầu thối rữa.' Muốn giải quyết vấn đề này, chỉ có một phương pháp duy nhất, đó là thiết lập mục tiêu tối thượng của con."
"Sư phụ, con nên thiết lập mục tiêu tối thượng như thế nào? Con vẫn chưa hiểu rõ lắm, ngài có thể giảng chi tiết hơn không?" Khương Vô Vi có một trực giác rằng sư phụ tuyệt đối không vô duyên vô cớ nói với mình những điều này, tuy ông không nói thẳng nhưng chắc chắn có ẩn ý sâu xa.
"Vô Vi, thực tế mỗi người chúng ta đều coi thành công, của cải, hạnh phúc làm mục tiêu theo đuổi, điều này không có gì sai. Chìa khóa nằm ở chỗ làm thế nào để theo đuổi và đạt được những mục tiêu đó. Rất nhiều người cả đời khó lòng có được thành công, của cải và hạnh phúc mà họ mong muốn, con có biết vì sao không?"
Vô Vi thành thật lắc đầu: "Con không biết. Chớ hồ là do vận mệnh của họ không tốt?"
"Vận mệnh đối với bất kỳ ai cũng đều công bằng. Ta lấy việc kiếm tiền mà ai ai cũng quan tâm làm ví dụ để giải thích. Nhiều người luôn vắt óc suy nghĩ phương pháp kiếm tiền, một mực nghĩ cách làm sao lấy được tiền từ người khác. Những người như vậy sẽ vĩnh viễn không biết rằng, chính tư duy đi ngược đường này đã khiến họ trắng tay, rơi vào cảnh khốn cùng. Muốn kiếm tiền, phương pháp đơn giản nhất chính là bước ra khỏi cửa, nhìn ngắm và hỏi han xung quanh xem mọi người đang có nhu cầu gì. Chỉ cần cung cấp dịch vụ đáp ứng nhu cầu của mọi người là có thể nhận lại báo đáp. Henry Ford từng nói: 'Dịch vụ phải đi trước lợi nhuận, lợi nhuận đến được chắc chắn phải xây dựng trên nền tảng dịch vụ tốt. Nếu một nhà sản xuất sản xuất vì mục đích cung cấp dịch vụ, tức là sản xuất để đáp ứng lợi ích của con người, thì việc tài lộc của ông ta cuồn cuộn đổ về không có gì là lạ.' Dốc lòng phục vụ người khác sẽ mang lại cho con vận may ngoài ý muốn. Gánh vác trách nhiệm phục vụ người khác sẽ giúp con thực hiện được giá trị của đời người. Báo đáp nhận được trong cuộc sống luôn tương đương với dịch vụ và giá trị mà con tạo ra cho người khác. Con bỏ ra bao nhiêu sẽ nhận lại bấy nhiêu. Nếu con muốn tăng số lượng và chất lượng báo đáp nhận được, con bắt buộc phải nâng cao số lượng và chất lượng phục vụ người khác. Có người từng hỏi Einstein rằng nếu không làm nghiên cứu khoa học thì ông sẽ làm gì? 'Tất nhiên là phục vụ nhân loại rồi', Einstein không cần suy nghĩ đã trả lời ngay..."
"Con hiểu ý của sư phụ rồi, ngài muốn nói con nên thiết lập mục tiêu tối thượng là phục vụ người khác." Vô Vi bừng tỉnh đại ngộ nói.
"Đúng vậy, Vô Vi. Một khi con coi 'phục vụ người khác' là mục tiêu tối thượng của mình, con đã nắm giữ chiếc chìa khóa mở ra cánh cửa thành công, của cải và hạnh phúc."
Vô Vi cuối cùng đã hiểu được ý đồ thực sự trong cuộc trò chuyện hôm nay của sư phụ. Sư phụ đang dạy anh cách để đạt được thành công và hạnh phúc trên con đường đời sau này.
Chu Công thấy Vô Vi nhanh chóng hiểu được ý mình, bèn tiếp tục nói: "Cốt lõi của việc phục vụ người khác là sự cho đi hào phóng. Cho đi hào phóng chính là sự dâng hiến không mưu cầu báo đáp. Nhiều người luôn nghĩ sai lệch rằng mình đã bỏ ra bao nhiêu cho người khác thì phải nhận lại bấy nhiêu báo đáp từ họ. Nhưng trong cuộc sống thực tế, điều đó rất ít khi xảy ra. Khi con hào phóng trao cho người khác tiền bạc, của cải, tình cảm, người tiếp nhận rất hiếm khi là người báo đáp lại con. Thế nhưng, con sẽ nhận được sự báo đáp ngoài mong đợi vượt xa những gì con đã bỏ ra từ một thời gian khác, địa điểm khác, và từ những người khác. Bất kỳ thứ gì cũng đều như vậy, con muốn có được nó thì trước tiên con phải cho đi. Đây là một đạo lý vô cùng đơn giản, nhưng một vấn đề đơn giản như vậy lại làm khó rất nhiều người, thậm chí là cả đời họ. Có mục tiêu thế nào sẽ có cuộc đời thế ấy. Nếu con muốn có một cuộc đời sung túc, hạnh phúc, vui vẻ, thì xin hãy đặt việc phục vụ người khác làm mục tiêu cuộc đời, đặt sự cho đi ở vị trí hàng đầu trong hệ giá trị của con. Con sẽ phát hiện ra một con đường đời mới trải ra trước mắt, trên con đường tiến bước của con không còn khó khăn, có vô số cơ hội đang chờ đợi con, vô số người sẽ giúp đỡ con. Trong lúc phục vụ người khác, con cũng đồng thời thực hiện được mục tiêu của chính mình..."
Nghe Chu Công giảng giải những nội dung này, Khương Vô Vi bỗng nhiên không kìm được lòng mà nói: "Người dẫn dắt Âu Dương Minh Bác trong di thư để lại cho con cũng từng đề cập đến những lời sư phụ vừa nói."
"Ồ? Cậu ấy nói thế nào?" Chu Công hiếu kỳ hỏi.
"Thầy Âu Dương trong di thư đã dạy con hai đạo lý, một là về khảo cổ học, hai là về cách làm người. Thầy nói, là những người làm công tác khảo cổ, chúng ta phải tin rằng bất kỳ truyền thuyết nào (bao gồm cả thần thoại) đều có nguồn gốc sự thật nhất định, đây cũng là lý do vì sao chúng ta luôn tìm kiếm và nghiên cứu kho báu của Sấm Vương. Điều nữa là phải kiên tin rằng thế giới này luôn cân bằng, mọi sự cho đi cuối cùng đều sẽ nhận lại báo đáp, tuy rằng báo đáp không nhất định xuất hiện ngay lúc con cho đi, nó có thể đến muộn hơn, hoặc đến bằng phương thức mà con không ngờ tới."
Nghe Khương Vô Vi nói đến đây, Chu Công nhìn ra ngoài cửa sổ, dường như chìm vào ký ức thuở xưa, tự lẩm bẩm: "Xem ra chúng ta đều còn nhớ những lời thầy đã dạy."
Khương Vô Vi đương nhiên hiểu được hàm ý trong câu nói của Chu Công, nhưng anh không lên tiếng, chỉ lặng lẽ nhìn sư phụ. Anh biết sớm muộn gì sư phụ cũng sẽ nói rõ chân tướng với mình...
Trong lúc bận rộn, thời gian trôi qua đặc biệt nhanh. Khương Vô Vi dồn hết tinh lực vào việc học tập và luyện công, chớp mắt đã đến trang trại được mấy tháng. Ngày hôm đó, Khương Vô Vi đang tập trung tinh thần đọc sách trong phòng thì bỗng nhiên Chu Công sai người đến gọi anh sang thư phòng.
Vô Vi lập tức chạy đến thư phòng của Chu Công, thấy ông đang đọc sách, bèn khẽ hỏi: "Sư phụ, ngài tìm con?"
"Vô Vi, con đến rồi đấy à." Chu Công vừa nói vừa đặt cuốn sách đóng chỉ cổ xuống, mỉm cười chào Khương Vô Vi.
"Sư phụ tìm con có việc gì ạ?"
"Vô Vi, hồi ở Las Vegas, con từng đề nghị muốn gia nhập tổ chức đoạt bảo của chúng ta. Để không làm ảnh hưởng đến việc huấn luyện của con, ta vẫn luôn chưa bàn với con chuyện này. Bây giờ việc học tập huấn luyện của con đã bước đầu có thành quả, ta nghĩ đã đến lúc cho con biết một số tình hình về tổ chức rồi."
"Tuyệt quá, con vẫn luôn nghĩ về chuyện này, chỉ là không dám hỏi sư phụ. Con thật sự rất muốn đóng góp chút sức lực cho tổ quốc." Khương Vô Vi vui mừng nói, trong lòng anh lờ mờ cảm nhận được sư phụ sắp sửa nói cho mình biết chuyện quan trọng.
Chu Công bảo Vô Vi ngồi xuống, sau đó đứng dậy từ sau bàn viết, bước tới ngồi đối diện anh, tiếp tục nói: "Vô Vi, sư phụ biết con có một tấm lòng yêu nước, đây cũng là nguyên nhân chính khiến sư phụ quý mến con. Những người trong tổ chức chúng ta đều giống như con, đều mang trong mình một trái tim yêu nước nồng nàn."
Khương Vô Vi nhìn sư phụ gật đầu. Anh tin lời sư phụ nói. Qua những lần tiếp xúc với Hạo Thịnh cùng chị em Song Kiều, Vô Vi đã bị hành động của họ làm cho cảm động sâu sắc.
Chu Công tiếp tục: "Trước kia khi còn ở trong nước, ta chưa cảm nhận được sự nghiêm trọng của việc chảy máu cổ vật nước nhà. Vì học khảo cổ học nên ta có hứng thú đặc biệt với văn vật. Sau khi ra nước ngoài, mỗi khi đến một nơi nào đó, ta luôn tới các bảo tàng để xem, bất kể là bảo tàng công lập hay tư nhân đều phải ghé qua. Càng tham quan, ta càng phát hiện ra bảo tàng các nước phương Tây lại thu thập một lượng lớn văn vật trân quý của quốc gia chúng ta. Ta đã bị chấn động sâu sắc, đồng thời trái tim cũng nhói đau. Ta đã dành một năm để làm một cuộc điều tra xác minh đơn giản, và phát hiện ra những con số kinh hoàng. Thế kỷ 20 là thời kỳ di sản văn hóa Trung Quốc bị thất thoát nhiều nhất, hai đỉnh điểm thất thoát xuất hiện vào thời kỳ Chiến tranh Nha phiến và sau khi cải cách mở cửa. UNESCO có một số liệu thống kê rằng, trong hơn 200 bảo tàng ở 47 quốc gia có tới 1,67 triệu món cổ vật Trung Quốc. Chỉ riêng trong thời kỳ Nhật Bản xâm lược Trung Quốc, lượng văn vật thất thoát của nước ta đã lên tới hơn 3,6 triệu món. Hơn một nghìn bảo tàng công tư của Nhật Bản hầu như đều có lưu giữ cổ vật Trung Quốc, số lượng ước chừng vài mươi vạn món. Hiện tại, theo thống kê sơ bộ về các bức danh họa qua các triều đại của Trung Quốc lưu lạc hải ngoại, số lượng có hồ sơ ghi chép để tra cứu đã lên tới 20.000 đến 30.000 bức, châu Mỹ (chủ yếu là Mỹ, Canada), Nhật Bản và châu Âu mỗi bên chiếm một phần ba. Châu Âu chủ yếu phân bố ở các nước Đức, Anh, Pháp, Bỉ, Thụy Điển... Đây đều là những con số có căn cứ rõ ràng, còn số lượng lưu lạc trong tay tư nhân thì nhiều không kể xiết. Sau khi trải qua những suy nghĩ đau đớn, ta quyết định dốc hết sức lực mọn của mình để đòi lại quốc bảo, nghĩ đủ mọi cách để đưa các văn vật trân quý trở về Trung Quốc. Để những quốc bảo lưu lạc hải ngoại được trở về nhà là một phương thức quan trọng để khôi phục lòng tự tôn dân tộc của chúng ta, vì vậy việc này cũng nhận được sự tán dương và ủng hộ nhiệt tình của rất nhiều kiều bào yêu nước..." Chu Công nói đến đây thì đứng dậy.
"Vô Vi, ta đưa con đi xem một phần thành quả của chúng ta." Chu Công gọi Khương Vô Vi đi về phía một bên thư phòng.
Khương Vô Vi trước đây không chú ý tới việc bên cạnh thư phòng còn có một cánh cửa nhỏ không mấy nổi bật. Chu Công đẩy cánh cửa đang khép hờ ra rồi bước vào, Vô Vi bám sát theo sau.
Phía sau cánh cửa nhỏ là một hành lang khép kín dài khoảng bốn năm mét, tiếp đó là một cánh cửa an ninh có mật mã. Chỉ thấy Chu Công nhập mật mã, cánh cửa an ninh dày nặng tự động mở ra.
Khương Vô Vi theo Chu Công bước vào trong cửa an ninh. Bên trong hóa ra là một kho an toàn rộng khoảng ba bốn mươi mét vuông. Hai bên kho là các kệ trưng bày, phía trên bày biện đa phần là các văn vật gốm sứ. Ngoài ra, ở một góc kho an toàn còn có hai chiếc két sắt cỡ lớn.
Chu Công chỉ vào những món đồ sứ đang trưng bày và nói với Khương Vô Vi: "Đây chỉ là một phần thôi, vài món bảo vật cấp quốc gia chúng ta đã gửi trả về các bảo tàng trong nước rồi. Đối tượng nghiên cứu của ta là gốm sứ cổ đại, cho nên văn vật thu thập được chủ yếu là đồ sứ."
Chu Công vừa nói vừa đeo vào một đôi găng tay vải trắng tinh, nhẹ nhàng nhấc một chiếc bát miệng hoa ánh lên sắc men thanh từ trên kệ trưng bày xuống.
Khương Vô Vi chú ý thấy sau khi sư phụ cầm món đồ sứ lên, đôi mắt ông dường như sáng hơn hẳn ngày thường, lộ ra ánh nhìn ôn hòa. Ánh mắt ấy giống như của một người mẹ hiền đang nhìn đứa con yêu dấu của mình. Sư phụ chắc chắn đã ngắm nghía những món đồ sứ này không biết bao nhiêu lần, nhưng hiện tại vẫn tràn đầy sự kinh ngạc và vui mừng như vừa mới phát hiện ra.
"Vô Vi, con đã là học trò của Âu Dương Minh Bác thì chắc chắn phải nhận ra món đồ trong tay ta. Con có thể nói cho sư phụ biết lai lịch của nó không?" Chu Công vừa nói vừa đưa chiếc bát miệng hoa trong tay cho Vô Vi.
Trong lòng Khương Vô Vi khẽ động, phải chăng sư phụ đang kiểm tra xem mình có thực sự là học trò của thầy Âu Dương hay không? Anh không kịp nghĩ nhiều, vội vàng đeo đôi găng tay vải cotton trắng tinh vào, cẩn thận đón lấy chiếc bát miệng hoa màu thanh này, sau đó chăm chú quan sát dưới ánh đèn một lát, rồi không kìm được tiếng trầm trồ khen ngợi: "Đây là lần đầu tiên con được chiêm ngưỡng món bí sắc sứ đẹp đẽ đến thế này."
"Ồ! Con có thể nhận ra đây là 'bí sắc sứ' sao." Trên gương mặt kinh ngạc của Chu Công lộ ra vẻ mừng rỡ, ông vội vàng thúc giục Vô Vi: "Rất tốt, nói tiếp đi con."
"'Bí sắc sứ' chính là loại thanh sứ cao cấp mà người ta thường nói, là một loại thanh sứ đặc biệt do ngự dao Việt Dao ở Chiết Giang chuyên thiêu chế để tiến cống cho triều đình vào thời vãn Đường, Ngũ Đại và Bắc Tống. Các thi nhân thời Đường từng ví thanh sứ Việt Dao như 'thiên phong thúy sắc' (sắc biếc của ngàn ngọn núi), như 'băng', như 'ngọc'... Không phải mọi loại thanh sứ Việt Dao thông thường đều được gọi là bí sắc sứ, mà phải phán đoán tổng hợp dựa trên sắc men, độ chuẩn xác của tạo hình cùng độ tinh tế của xương gốm và nước men. Những món bí sắc sứ còn bảo tồn được nguyên vẹn không sứt mẻ cho đến ngày nay đều có thể coi là văn vật cấp quốc bảo." Khương Vô Vi vừa nói vừa cẩn thận đặt chiếc bát miệng hoa màu thanh trở lại chỗ cũ, rồi tiếp tục: "Chiếc bát hoa 'bí sắc sứ' này hẳn là thuộc chủng loại thời vãn Đường. Chiếc bát miệng cánh hoa này là một loại bát của Việt Dao, tạo hình trang nhã, xương gốm và nước men mịn màng, là tuyệt phẩm trong các đồ Việt Dao. Món này hẳn là đồ tùy táng, bị kẻ trộm mộ đào lên rồi buôn lậu ra nước ngoài, có thể nói là một món trân phẩm cấp quốc bảo."
Chu Công vừa nghe vừa liên tục gật đầu, trên mặt lộ ra vẻ tán thưởng. Đợi Vô Vi nói xong, ông vui mừng bảo: "Tốt, giảng rất hay, không hổ danh là hậu sinh khả úy của giới khảo cổ. Vô Vi, con nói hoàn toàn chính xác. Đúng như con nói, món đồ sứ này quả thực là bí sắc sứ thời vãn Đường, là món ta vừa mua với giá cắt cổ từ chợ đen cách đây không lâu."
Lời giải thích của Khương Vô Vi cũng khơi dậy hứng thú của Chu Công. Ông cũng hào hứng mở tủ kính, thao thao bất tuyệt nói: "Vô Vi, văn hóa Trung Hoa chúng ta bác đại tinh thâm, chỉ riêng các loại đồ sứ thôi cũng đủ để chúng ta nghiên cứu cả đời. Đồ sứ phát triển từ đồ đất nung mà thành, đã có lịch sử hơn ba nghìn năm. Đến thời Tống, các lò danh tiếng và đồ sứ nổi tiếng đã có mặt ở khắp nửa phần Trung Quốc, đó là thời kỳ phồn vinh nhất của ngành gốm sứ. Khi ấy, Quân dao, Ca dao, Quan dao, Nhữ dao và Định dao được xưng tụng là năm đại danh dao. Nơi được mệnh danh là thủ phủ gốm sứ - Cảnh Đức Trấn ở Giang Tây - vào thời Nguyên sản xuất ra thanh hoa sứ (sứ hoa lam) đã trở thành đại diện cho đồ sứ. Nước men thanh hoa trong suốt như nước, xương gốm mỏng nhẹ tinh xảo, trên thân sứ trắng muốt điểm xuyết hoa văn màu lam, thanh nhã tươi mát..." Chu Công vừa nói vừa chỉ vào một chiếc bình thanh hoa miệng nhỏ cao hơn hai mươi phân trên kệ trưng bày và bảo Vô Vi: "Món này chính là thanh hoa sứ, là sản phẩm của thời Minh."
Chu Công nhìn những món đồ sứ này, trong mắt ánh lên niềm vui sướng, dường như quên mất mục đích đi vào đây, ông như đếm bảo bối trong nhà mà lần lượt giới thiệu cho Vô Vi: "Đồng hành cùng thanh hoa sứ để hợp thành bốn loại sứ nổi tiếng nhất còn có sứ thanh hoa linh lung, sứ phấn thái và sứ men màu. Ngoài ra còn có sứ điêu khắc, sứ xương mỏng, sứ ngũ thái... đều vô cùng tinh mỹ, có thể nói là đa dạng sắc màu, mỗi loại một vẻ đặc sắc riêng."
Vô Vi nghe sư phụ hứng khởi giải thích, bỗng nhiên nhớ tới một chuyện, bèn hỏi Chu Công: "Sư phụ, con nhớ lần đầu tiên gặp ngài ở Atlantic City, Triển Hùng Phi của Hoa Long Bang từng đề nghị dùng một triệu năm mươi vạn để mua một chiếc chén trà của ngài, lúc đó đã bị ngài từ chối. Rốt cuộc đó là báu vật thế nào mà lại đáng giá đến vậy?"
"Ồ, con vẫn còn nhớ chuyện đó sao. Thực ra chiếc chén trà đó tuy rất trân quý, nhưng giá trị của nó lại không cao đến thế. Chủ yếu là vì phía sau bộ trà cụ này có khả năng đang ẩn giấu một bí mật. Ta sẽ cho con xem chiếc chén trà này trước, hiện tại ta đã gom được hai chiếc chén trà rồi." Chu Công vừa nói vừa bước tới chiếc két sắt ở phía trong cùng.
Khương Vô Vi phát hiện bàn phím mật mã của chiếc két sắt này được điều khiển bằng điện tử, phía trên có một màn hình hiển thị hình chữ nhật. Chỉ thấy Chu Công trước tiên nhập mật mã để giải trừ hệ thống báo động, sau đó lại nhập mật mã mở khóa, cuối cùng mới mở két sắt ra.
Chu Công lấy từ trong két sắt ra một chiếc hộp gỗ hình chữ nhật tinh xảo. Ông đặt chiếc hộp gỗ lên chiếc bàn bên cạnh, nhẹ nhàng mở nắp hộp. Bên trong còn phủ một tấm vải nhung đỏ, lật tấm vải nhung ra thì lộ ra hai chiếc chén trà nằm ngăn cách nhau.
Chu Công cẩn thận lấy một chiếc chén trà ra, đóng hộp gỗ lại rồi đặt chén trà lên nắp hộp. Ông lại đưa tay bật chiếc đèn làm việc ở phía trong bàn lên, lập tức một luồng sáng tỏ rạng rọi xuống mặt bàn, soi rõ mồn một các họa tiết trên chén trà.
Chu Công gọi Vô Vi cùng ngồi xuống bên bàn. Ông cầm một chiếc kính lúp ở bên cạnh lên, dùng kính lúp chăm chú thưởng thức chiếc chén trà trong tay. Có thể thấy Chu Công thường xuyên nghiên cứu những văn vật này ở đây.
Khương Vô Vi phát hiện mắt sư phụ sáng rực lên, trên mặt mang theo vẻ biểu cảm như vừa có được bảo vật vô giá.
"Thật đẹp, ta không rõ bản thân đã ngắm bao nhiêu lần rồi, nhưng lần nào cũng đều rất phấn khích. Lại đây Vô Vi, con xem thử đi." Chu Công vừa nói vừa đưa chiếc kính lúp trong tay cho Vô Vi.
"Con hãy quan sát kỹ họa tiết trên chén trà, con rồng đó sống động như thật, như thể đang cưỡi mây lướt gió vậy. Loại sứ ngũ thái này được phát minh vào những năm Gia Tĩnh, Vạn Lịch thời Minh, không dùng thanh hoa để vẽ viền mà vẽ trực tiếp bằng nhiều màu sắc rồi đem nung mà thành. Sứ ngũ thái sau này vào thời Thanh lại được phát triển rực rỡ hơn, có thể nói là trân phẩm trong các đồ sứ. Đồ sứ thời Minh vô cùng phong phú đa dạng, sự đa dạng hóa trong phương pháp phủ men đồ sứ đánh dấu kỹ thuật chế tác gốm sứ Trung Quốc đã nâng cao đến một trình độ rất lớn. Sứ màu thông thường được chia làm hai loại lớn là thái dưới men và thái trên men. Vẽ họa tiết trên xương gốm trước, sau khi phủ men mới đưa vào lò nung gọi là thái dưới men. Đồ sứ sau khi phủ men được nung thành hình rồi mới vẽ màu lên, sau đó lại qua lò lửa nung nhẹ mà thành gọi là thái trên men..." Chu Công thao thao bất tuyệt giải thích cho Vô Vi.
Khương Vô Vi cầm kính lúp quan sát kỹ họa tiết của chén trà một lát, anh bỗng nhiên cảm thấy con rồng này rất quen mắt, tạo hình của con rồng này dường như đã gặp ở nơi nào đó rồi.
Chu Công thấy Vô Vi đang chăm chú quan sát chén trà, bèn nói tiếp: "Vô Vi, con chú ý nhìn vào móng vuốt của rồng xem, một con rồng nhỏ thế này mà lại vẽ sống động như thật. Móng rồng gồm có năm ngón, đây là biểu tượng của đồ dùng hoàng gia, móng rồng trong dân gian chỉ có bốn ngón, điều này thời cổ đại có quy định vô cùng nghiêm ngặt, tuyệt đối không được phép làm bừa."
"Sao con nhìn họa tiết này quen thuộc thế nhỉ..." Vô Vi nói đến đây thì bỗng nhiên sực nhớ ra trên đảo Anrla, chiếc ấm của Alina có hình rồng rất giống với chiếc chén trà này. Anh vội vàng nói với Chu Công: "Con nhớ ra rồi, sư phụ! Con từng nhìn thấy một chiếc ấm trà có họa tiết rất giống với chiếc chén trà này."
"Thế sao? Đó là một chiếc ấm trà như thế nào?"
"Sau khi con nhảy xuống biển, con được hai cha con cứu lên đảo Anrla. Cô gái đó tên là Alina. Trong phòng cô ấy con có nhìn thấy một chiếc ấm trà bằng sứ ngũ thái, vì phát hiện ra đó là một món văn vật thời Minh vô cùng có giá trị nên con đã hỏi thăm cô ấy một chút. Alina nói chiếc ấm này là di vật do người cha đẻ để lại cho cô ấy làm kỷ niệm, là do tổ tiên của cô ấy mang ra từ trong hoàng cung Trung Quốc. Hơn nữa cô ấy còn nói đi kèm với chiếc ấm này còn có mấy chiếc chén trà, dường như đã bị họ hàng chia nhau rồi..."
Chưa đợi Vô Vi nói hết câu, Chu Công đã kích động hỏi: "Những điều con nói đều là thật sao? Chiếc ấm trà đó có tạo hình như thế nào?"
Khương Vô Vi mô tả đơn giản lại hình dáng của chiếc ấm trà.
Chu Công cố gắng kiềm chế sự kích động trong lòng, ông khẳng định nói: "Đúng vậy, rất có khả năng đó chính là chiếc ấm Cửu Long Phi Thiên."
"Sư phụ, ấm Cửu Long Phi Thiên là gì ạ?" Vô Vi không hiểu hỏi.
"Ấm trà dựa theo vị trí của quai ấm mà tạo hình được chia làm năm loại. Ví dụ quai ấm hình vành tai nằm đối diện với vòi ấm gọi là ấm quai bên. Quai ấm nằm phía trên nắp ấm có hình cầu vồng gọi là ấm quai xách. Còn quai ấm nằm ở một bên phía trên thân ấm, uốn lượn như dải lụa bay múa thì được gọi là ấm phi thiên. Chiếc ấm con nói, vì trên thân ấm có họa tiết chín con rồng, mà tạo hình của ấm lại là ấm phi thiên, cho nên được gọi là ấm Cửu Long Phi Thiên. Ta đã tìm kiếm nó nhiều năm nay rồi, không ngờ lại được con vô tình phát hiện ra. Vô Vi, xem ra con và chiếc ấm Cửu Long Phi Thiên này thực sự có nhân duyên..."
"Sư phụ, sao ngài lại quan tâm đến bộ trà cụ này như vậy? Có phải bộ ấm này vô cùng trân quý không?" Khương Vô Vi tò mò hỏi, anh cảm giác chuyện này có ẩn tình rất lớn.
Chu Công khẽ lắc đầu, chậm rãi nói: "Bộ ấm Cửu Long Phi Thiên này quả thực là văn vật vô cùng trân quý, nhưng lý do ta đặc biệt quan tâm đến nó không chỉ dừng lại ở đó, mà là vì phía sau chiếc ấm Cửu Long Phi Thiên này rất có thể đang ẩn giấu một bí mật động trời."
"Bí mật động trời? Đó là bí mật động trời gì thế ạ?" Vô Vi không kìm được kinh ngạc hỏi.
Chu Công không trả lời Vô Vi, ông đứng dậy đi đến trước két sắt, lấy ra một vật được bọc trong vải lụa. Sau khi mở ra, bên trong là mấy cuốn cổ thư rất cũ kỹ. Bìa sách có vẻ được làm bằng lụa vàng, tuy đã nhuốm màu thời gian nhưng được bảo quản rất tốt.
Chu Công đeo găng tay, nhẹ nhàng vuốt ve những cuốn cổ tịch này, nét mặt hiện lên vẻ phức tạp. Nội tâm ông dường như đang trải qua một sự giày vò nào đó, mất một lúc lâu mới dùng giọng trầm ổn nói với Vô Vi: "Mấy cuốn sách này là do ta lén mang từ chỗ sư phụ ra. Đằng sau chuyện này có rất nhiều câu chuyện không ai biết, đều là những vãng sự không muốn ngoảnh đầu nhìn lại. Vô Vi, có lẽ con đã biết ta và đạo sư của con là Âu Dương Minh Bác là sư huynh đệ..."
Khương Vô Vi thành thật gật đầu. Anh không lên tiếng, vì anh biết sư phụ nhất định có rất nhiều điều muốn nói với mình.
"Vô Vi, sau khi con vô tình hay cố ý nhắc đến sư huynh của ta ở Las Vegas, ta đã đoán được mục đích của con và tiến hành điều tra chi tiết về con. Sở dĩ ta không nhận con ngay là vì chuyện này quá mức quan trọng. Có rất nhiều tập đoàn tội phạm đang nhìn chằm chằm vào kho báu, chúng ta buộc phải hành sự cẩn trọng. Ngoài ra, ta cũng muốn con tiếp nhận huấn luyện nghiêm khắc. Dù là sư huynh Minh Bác hay ta thì đều trông cậy vào con để hoàn thành di nguyện của sư phụ. Ta phải rèn luyện con đến mức bản thân cảm thấy hài lòng mới có thể để con đi khám phá bí mật này."
"Sư phụ, con hiểu được nỗi khổ tâm của người. Từ khoảnh khắc tiếp nhận sứ mệnh bí mật do thầy giao phó, con đã chuẩn bị sẵn sàng để đón nhận mọi thử thách."
Chu Công vui mừng nhìn Khương Vô Vi, biết rằng đối với người đệ tử này thì không cần phải nói nhiều, bởi ông đã quá hiểu anh. Nếu không, Âu Dương sư huynh cũng sẽ không giao phó sứ mệnh quan trọng như vậy cho anh.
Chu Công tiếp tục nói với Vô Vi: "Mấy cuốn sách này đều là mật phủ điển tịch của hoàng cung triều Thanh, bên trong ghi chép một số bí mật ít ai biết. Khi ta nghiên cứu những mật phủ điển tịch này, ta đã phát hiện ra nội dung liên quan đến bộ Cửu Long Phi Thiên Hũ. Ban đầu ta cũng rất hoài nghi về nội dung này, không ngờ trong lúc vô tình ta lại thực sự tìm thấy hai chiếc chén trà này, cho nên bây giờ ta đã có phần tin tưởng vào bí mật được ghi chép trong mật phủ điển tịch..."
Vô Vi toàn thần quán chú lắng nghe Chu Công kể: "Sau khi Sấm Vương Lý Tự Thành đánh chiếm Bắc Kinh, ông ta đã dùng nghiêm hình tra khảo các phú thương, quan lại và hoạn quan trong kinh thành, ép buộc họ phải nộp tiền bảo mạng, tổng cộng tống tiền được hơn bảy mươi triệu lượng bạc ròng."
Chu Công vừa giảng giải vừa lật mật tịch, chỉ vào một đoạn trong đó rồi nói tiếp: "Về khoản của cải này, mật phủ điển tịch có ghi chép thế này: 'Lý thị ở trong cung bắt giữ hàng ngàn thợ bạc thợ sắt, đem gom góp số vàng trong kho cùng số vàng bạc tra khảo có được mà nung chảy đi. Cứ một ngàn lượng đúc thành một thỏi bánh, ở giữa đục một lỗ, xỏ thanh sắt lớn qua. Có đến vài vạn thỏi như thế, vơ vét hàng ngàn cỗ xe la, hàng ngàn lừa ngựa lạc đà, chất lên chở về Thiểm Tây.'"
Chu Công đọc xong đoạn này liền gấp mật tịch lại để lên bàn, tiếp tục giảng giải: "Theo Thanh sử ghi chép: Ngày 22 tháng 4 năm 1644, tổng binh trấn thủ Liêu Đông của nhà Minh là Ngô Tam Quế cùng quân Đại Thuận của Lý Tự Thành kịch chiến tại Sơn Hải Quan. Ngô Tam Quế lấy điều kiện 'tiền tài lụa là', 'cắt đất' để cầu viện triều đình nhà Thanh. Đa Nhĩ Cổn dẫn quân Thanh nhập quan tham chiến, khiến Lý Tự Thành bại trận tháo lui về Sơn Tây, Thiểm Tây. Quân Thanh tiến thẳng đến Bắc Kinh, Ái Tân Giác La Phúc Lâm, tức Thuận Trị đế lúc sáu tuổi, đã đăng cơ xưng đế tại Bắc Kinh vào ngày 1 tháng 10 cùng năm. Hòa Thạc Duệ Thân vương Đa Nhĩ Cổn sau khi nhập quan đã mật lệnh cho đại tướng A Tế Cách phái nhiều cao thủ võ lâm bí mật bám theo đội ngũ vận chuyển kho báu của Sấm Vương. Ngày mười ba tháng giêng năm Thuận Trị thứ hai, Lý Tự Thành rút lui từ Tây An về phía nam, số của cải khổng lồ này của ông ta được cháu trai là Lý Diên dẫn theo một bộ phận thân binh của Trung Trinh Doanh áp tải. Vì các thỏi bạc quá lớn và nặng nề, không tiện vận chuyển bằng đường bộ, nên họ đã xếp lên thuyền đi theo đường thủy sông Hán Thủy xuôi nam. Những chiếc thuyền chở đầy châu báu sau khi đến vùng Vũ Xương thì mật thám quân Thanh bám theo đã mất dấu mục tiêu, không biết những con thuyền này đã đi về hướng nào? Sau đó, tại nơi giáp ranh giữa tỉnh Hồ Bắc và tỉnh Giang Tây, người ta lại phát hiện ra Lý Diên cùng thân binh dưới trướng. Mà lúc này Sấm Vương Lý Tự Thành đã bị hương dũng Trình Cửu Bách sát hại tại núi Cửu Cung thuộc Thông Thành. Mật thám của A Tế Cách đã cướp được một bộ Cửu Long Phi Thiên Hũ từ trên người Lý Diên. Theo lời khai của thân binh dưới trướng Lý Diên, bí mật về số của cải khổng lồ kia nằm chính trong bộ Cửu Long Phi Thiên Hũ này. Nhiếp chính vương Đa Nhĩ Cổn sai người nghiên cứu bí mật ẩn giấu trong Cửu Long Phi Thiên Hũ, nhưng suốt thời gian dài vẫn không có phát hiện gì. Cuối cùng, bộ Cửu Long Phi Thiên Hũ này được cất giữ trong cung. Dù nghiên cứu không hề gián đoạn nhưng đến cuối cùng vẫn không thể giải mã được bí mật bên trong, cho đến khi bị Liên quân Tám nước mang ra khỏi Trung Quốc."
Chu Công chi tiết kể lại những gì mình biết. Vô Vi không ngờ bí mật khổng lồ này lại ẩn giấu trong Cửu Long Phi Thiên Hũ, mà bản thân anh lại từng lỡ mất cơ hội với chiếc hũ này.
"Hai năm gần đây ta đã nghiên cứu và suy ngẫm lại về đoạn lịch sử này. Độ tin cậy về kho báu của Sấm Vương là cực kỳ lớn. Khoảng thời gian từ lúc Sấm Vương tháo chạy khỏi Bắc Kinh cho đến khi chết là rất ngắn, chưa đầy một năm, bảy mươi triệu lượng bạc chắc chắn không thể nào tiêu hết được. Tháng 3 năm 2002, trong cuốn "Niên giám thế giới" xuất bản năm năm một lần của tổ chức quốc tế có liên quan đã chỉ ra rằng, những kho báu chưa được phát hiện trên thế giới nằm ở Trung Quốc gồm có kho báu của Dực Vương Thạch Đạt Khai, kho báu của Hoàng đế nước Đại Thuận Lý Tự Thành, kho báu của Lâu Lan Vương, kho báu của Hoàng đế nước Đại Tây Trương Hiến Trung, kho báu của Tây Hạ Vương Lăng, kho báu khổng lồ của Tần Thủy Hoàng v.v. Kho báu của Sấm Vương nằm trong số đó tuyệt đối không phải là chuyện vô căn cứ. Cho nên mấy năm nay, phần lớn tâm huyết của ta đều đặt vào việc khảo cứu chuyện này, đồng thời không tiếc công sức tìm kiếm bộ Cửu Long Phi Thiên Hũ này."
"Âu Dương thầy dạy có nhắc đến việc ông từng nhận được một bức thư điện tử từ hải ngoại gửi về, thầy đoán là do người gửi cho ông ấy..."
"Không sai, ta biết những năm nay sư huynh cũng luôn tìm kiếm kho báu, nên đã báo cho huynh ấy biết thành quả nghiên cứu của mình, hy vọng có thể giúp ích được cho huynh ấy."
"Mục đích chuyến đi hải ngoại lần này của con là để tìm sư phụ. Âu Dương thầy dạy có nhắc đến trong di thư rằng nếu muốn tìm kho báu của Sấm Vương thì buộc phải tìm được người trước. Thầy nói chỉ có người mới nắm giữ chiếc chìa khóa mở ra kho báu."
Chu Công mỉm cười lắc đầu, đầy ý vị sâu xa nói: "Ta chỉ phát hiện ra phương pháp chứ không hề nắm giữ chiếc chìa khóa mở ra kho báu. Vô Vi, rất nhiều việc phía sau phải cậy nhờ vào con để hoàn thành."
"Con hiểu rồi thưa sư phụ. Người cứ nói đi, có việc gì cần con làm." Vô Vi kiên định nói.
"Vô Vi, sư phụ tin tưởng vào trí tuệ của con. Nếu thực sự có thể khai quật được kho báu của Sấm Vương, đối với đất nước và dân tộc chúng ta thì đây tuyệt đối không đơn giản chỉ là một khoản của cải, mà bên trong rất có thể chứa đựng giá trị lịch sử không thể đong đếm được. Cho nên chúng ta hãy cùng nỗ lực để hoàn thành nhiệm vụ gian khổ này." Chu Công nghiêm túc nói với Vô Vi.
"Con hiểu rồi thưa sư phụ, con có niềm tin sẽ giải mã được bí mật này." Vô Vi kiên định nói.
Chu Công suy nghĩ một chút rồi nói: "Việc cần làm hiện tại là phải gom đủ Cửu Long Phi Thiên Hũ và tám chiếc chén trà, chúng là chiếc chìa khóa duy nhất để mở ra kho báu."
Nghe Chu Công nói đến đây, Khương Vô Vi vỗ vào đầu mình một cái, vô cùng hối hận nói: "Lúc đó Alina muốn tặng chiếc Cửu Long Phi Thiên Hũ cho con làm kỷ niệm nhưng con đã từ chối. Ôi, nếu biết nó ẩn chứa bí mật quan trọng như vậy thì dù thế nào con cũng đã nhận lấy."
"Mọi sự đều có cơ duyên, rất nhiều cơ hội cứ thế lướt qua vai chúng ta, con cũng không cần phải hối hận. Vô Vi, manh mối con phát hiện ra vô cùng quan trọng, không những có thể tìm được Cửu Long Phi Thiên Hũ mà còn có thể thông qua Alina để dò hỏi tung tích của vài chiếc chén trà khác, điều này cực kỳ then chốt cho việc tìm kiếm phía sau của chúng ta."
"Sư phụ, có phải con nên lập tức lên đường đến đảo Anrla không?"
"Ừm, con mau chuẩn bị đi, khởi hành càng sớm càng tốt, phải bằng mọi giá lấy được Cửu Long Phi Thiên Hũ."
"Rõ ạ, có cần để Alun đi cùng con không?"
"Được, con mau về chuẩn bị đi, ta bảo Thiên Kiều ra sân bay tiễn các con." Vừa nói chuyện hai người vừa bước ra khỏi két sắt bảo mật, Vô Vi vội vàng trở về phòng mình thu dọn đồ đạc.
Khương Vô Vi đi tới trang trại phía trước nhưng không thấy bóng dáng của Alun và mọi người đâu, đoán chừng họ lại đi đâu đó chơi rồi. Anh lấy điện thoại ra gọi cho Alun.
"Alo, Alun, cậu đang ở đâu thế?" Sau khi kết nối cuộc gọi, Vô Vi hỏi.
"Em đang ở trong vườn giúp công nhân hái táo, có chuyện gì thế đại ca?"
"Cậu về ngay đi, càng nhanh càng tốt, chúng ta phải đi Vancouver." Vô Vi nói xong liền cúp máy rồi bắt đầu chuẩn bị hành lý.
Chuyến đi Bắc Mỹ lần trước đã để lại cho Vô Vi nhiều vết thương lòng, đặc biệt là sự ra đi của Hạo Thịnh. Trong lòng Vô Vi luôn có một bóng ma ám ảnh, anh luôn cảm thấy cái chết của Hạo Thịnh có phần trách nhiệm của mình. Chuyến đi Bắc Mỹ lần này tốt nhất đừng xảy ra sóng gió gì...
Vô Vi đang nghĩ ngợi về những việc tiếp theo thì Alun và Dương Nham chạy về, thở hổn hển hỏi: "Đại ca, chúng ta đi ngay bây giờ sao?"
"Đúng vậy, đi ngay lập tức."
"Anh Vô Vi, hai người đi làm gì thế? Sao không đưa em đi cùng?" Dương Nham vội vàng hỏi.
"Chúng tôi đi đảo Anrla, sẽ về nhanh thôi, nhiều nhất là vài ngày. Cô đi theo nháo nhào cái gì." Khương Vô Vi cười nói.
Dương Nham vừa nghe nói đi đảo Anrla liền hỏi ngay: "Có phải anh đi tìm cô Alina kia không?"
"Phải, trong tay Alina có một cổ vật quý giá, sư phụ bảo tôi đi lấy về, đồng thời tìm hiểu một số tình hình từ cô ấy." Vô Vi nói thật với Dương Nham.
Dương Nham nghe xong cơn ghen lập tức nổi lên. Cô biết Alina rất thích Vô Vi liền nói ngay: "Em cũng đi cùng, đợi em với..." Vừa nói cô vừa quay người chạy đi thu dọn đồ đạc.
Lúc này, Alun đã thu dọn xong hành lý, xách túi du lịch đi vào, cười nói với Vô Vi: "Đại ca, cứ để Nham Nham đi cùng chúng ta đi, đông người cho vui vẻ."
Vô Vi biết muốn không cho Dương Nham đi là điều không thể, đành nói: "Được rồi, chúng ta ra sân đợi cô ấy."
Khi họ ra đến sân, Thiên Kiều đã lái chiếc xe du lịch Mercedes ra khỏi gara, đỗ ở đó chờ họ...