“DIANE DEMUTH LÀ BÀ NGOẠI CHÁU, HEIDI Ạ. Và con gái bà ấy, Sophia, là mẹ cháu,” ông Thurman Hill mở đầu.
Không đến hai mươi bổn giờ đồng hồ kể từ khi tôi đứng trước chiếc ghế đỏ này, nghe Elliot nói ra cái từ của Mẹ. Giờ đây tôi ở đó và một lần nữa đông cứng lại khi nghe tên Mẹ lần đầu tiên trong đời. Sophia.
“Khi Diane tới chỗ ta nhờ giúp đỡ, ta ước gì mình đã xua bà ta đi, gửi bà ấy tới Roscoe hoặc xa hơn về phía Bắc tới một cơ sở y tế do liên bang quản lý ở Syracuse. Thay vào đó ta lại để bà ấy thuyết phục ta chấp nhận Sophia như một trường hợp từ thiện ở Hilltop. Cô ấy ở đây không có sự hỗ trợ tiền bạc từ bà mẹ trong hơn một năm. Cô ấy rất hợp với nơi này. Cô ấy hạnh phúc, và có một người bạn tốt nhất. Elliot. Họ không tách rời nhau, Sophia và Elliot ấy. Và ta thật mừng cho Elliot, nó chưa từng có những người bạn thật sự, ta thật ngu xuẩn khi nhìn những gì diễn ra lúc đó. Khi Diana đến báo với ta cái tin rằng Sophia có bầu, thoạt tiên ta không tin điều đó. Và khi bà ta quy cho Elliot là cha đứa bé, ta nghĩ điều đó không thể nào xảy ra được.” Ông ngưng lại trong chốc lát. “Họ chẳng khác nào hai đứa trẻ cả,” ông nói.
Tôi không nhìn vào ông khi ông nói. Thay vào đó, tôi gắn chặt mắt vào cái cây bên cạnh ghế ông ngổi, cái cây với những chiếc lá dài nhọn hoắt và những bông hoa nhỏ xíu tuyệt đẹp buông rủ xuống. Rồi tôi vươn người và túm lấy một bông hoa mỏng manh giữa những đầu ngón tay. Nó thật dễ bứt và rụng xuống, những cánh hoa loan xoăn rớt xuống tấm thảm như những giọt nước măt nhỏ xíu màu trắng. Đó là nước mắt thật.
“Những cơ hội để Sophia và Elliot sinh ra một đứa trẻ bình thường hầu như không có,” ông nói tiếp. “Ta cảm thấy điều nên làm là chấm dứt cái thai ấy. Nhưng Diane từ chối. Bà nài nỉ rằng bà có thể tự mình nuôi đứa trẻ. Ta không muốn nuôi nấng thêm một đứa trẻ tật nguyền nào nữa, sau khi ta phải chứng kiến những gì Elliot đã trải qua. Diane nài xin ta, và khi không có kết quả, bà đe dọa tố cáo với nhà chức trách. Danh tiếng của Hilltop sẽ bị phá hủy. Ta sẽ mất tất cả.”
Thurman Hill ngồi ngả người về phía trước, và khi ông cử động, ánh nắng từ cửa sổ lớn phía sau ông lọt vào rọi lên mặt pha lê của chiếc đồng hồ ông đeo, tạo ra quầng sáng tròn nhỏ xíu nhảy múa trên bức tường đối diện.
“Và thế là ta cùng bà ấy đi đến một thỏa thuận,” ông nói tiếp. “Ta đưa cho Diane đủ tiền đưa Sophia đi để cô ấy sinh con, và ta đồng ý đưa thêm tiền hằng tháng để trang trải cho chi phí sinh hoạt của họ. Bà ta chọn địa điểm, Reno, và ta mở một tài khoản ở đó, thu xếp tiền nhà cùng các hóa đơn sinh hoạt cho Diane trực tiếp qua tài khoản đó, do vậy ta có thể nắm được các chi tiêu ra sao. Bà ta không liên lạc với ta, không liên lạc kể từ khi đứa bé ra đời, chưa một lần nào. Ta không biết bất cứ điều gì về cuộc sổng của họ kể từ khi đó. Ta đã trả một gia tài nhỏ để không phải biết.”
Những lới hứa đã được thực thi và được trả phí.
“Ta biết rằng Elliot sẽ nhớ bạn của nó, nhưng ta nghĩ theo thời gian, giống như nhiều thứ khác, nó sẽ quên Sophia. Nếu ta biết được ta đã sai lầm về điều đó như thế nào, có lẽ ta đã thực hiện chuyện này khác đi. Elliot chẳng bao giờ còn như xưa sau khi Sophia rời đi. Nó khóc rất nhiều và động một tí là tự đập đâu mình. Và như thể điều đó chưa đủ khiến ta dày vò trong tội lỗi, mười ba năm qua, hằng ngày thỉnh thoảng nó lại gọi tên mẹ cháu. Nó chưa bao giờ quên cô ấy. Lỗi lẩm lớn nhất của ta là đã nghĩ rằng tinh yêu của Elliot không đủ sâu sắc vì con ta không có ngôn ngữ để diễn đạt điều đó.”
Lần đầu tiên kể từ khi ông bắt đầu nói, tôi ngước nhìn Thurman Hill, ông nội tôi. Có hai quầng thâm phía dưới mắt ông, như thể ông không ngủ ngon vào đêm trước, và ông đang chà xát những ngón tay lên trán. Mắt của chúng tôi chạm nhau, và rồi tôi nhìn đi chỗ khác. Ông thở dài và lại ngồi ngả vào lòng ghế.
“Mười ba năm qua Diane đã giữ đúng thỏa thuận, và trong khi Elliot tiếp tục giữ những ký ức của nó, ta thì đã gần như quên lãng. Bất ngờ ta bắt đầu nhận được những cuộc gọi từ ai đó từ Nevada tên là Bernadette. Ta nghĩ đó là Diane - ta chắc chắn về điều đó. Và khi cháu đến, ta hình dung ra rằng bà ta đã gửi cháu đến đây để cố bòn rút thêm tiền từ ta. Nhưng chẳng còn gì nữa. Chỉ có Hilltop, và khi ta đi, Hilltop là tất cả những gì mà ta để lại cho Elliot.”
Nói đến đó Thurman Hill ngừng lại và nhìn tôi.
“Cháu có câu hỏi nào không?” ông hỏi.
Tất cả sự thật này, đang đổ ập đến quanh tôi, xô vào tôi như những con sóng khổng lổ, bỏ mặc tôi ngồi giữa trận lụt mà không biết nói gì. Tôi có câu hỏi gì ư? Chỉ có một. Câu hỏi giống như tôi khi tôi bắt đầu với hành trình này.
“ Soof là gì ạ?” tôi hỏi.
Ông mỉm cười buôn bã.
“Đó là biệt danh mà Elliot đặt cho mẹ cháu.” Ông nói. “Nó không phát âm được từ Sophia. Mẹ cháu cũng thế. Cô ấy tự gọi mình là…”
Tôi biết.
“So be it,” tôi đáp.
“So be it,” ông lặp lại. Và cách ông nói từ đó, nghe như ông thốt ra từ “Amen”.
Sau đó Thurman Hill yêu cầu chú Roy và ông Dietz quay lại, để giúp điển và những ô trắng cuối cùng.
Suốt những năm qua không có hóa đơn thuê nhà hay hóa đơn tiền điện nào hiển thị trong tài khoản ngân hàng tại Reno mà Thurman Hill đã tạo ra để thanh toán tự động.
“Vậy giờ bà ngoại cháu ở đâu?” tôi hỏi.
Cách mọi người nhìn nhau cho thấy rõ ràng họ không mong đợi câu hỏi đó.
“Ta rất tiếc, Heidi ạ, nhưng bà ấy đã chết,” ông bảo tôi. “Ta có nhờ vài người thân ở Monticello kiểm tra chéo thông tin ở Reno, và họ đã có một giấy chứng nhận đây.”
Giấy chứng tử mà chú Roy đã tìm thấy về Diane DeMuth ghi nguyền nhân cái chết là do tai nạn giao thông.
“Bà ấy bị xe buýt tông vào,” Roy bảo tôi.
“Xe buýt ạ?” tôi hỏi.
“Cái chết được xác nhận là trong thời gian trên đường chuyển tới bệnh viện County General ở Reno, Nevada.”
“Đó là vào tháng hai phải không ạ?” tôi hỏi.
“Đúng, ngày mười chín tháng hai.” Joy đáp.
Ngày mười chín tháng hai là ngày Bernadette đã tìm ra Mẹ đứng ở ngoài cửa nhà bác với tôi trong vòng tay bà.
Một cuốn phim câm phát trong đầu tôi. Mẹ và bà ngoại tôi, Diane DeMuth, đang đứng ở góc đường, đợi để đi qua phố. Chuyện gì đó xảy ra, Diane mất tập trung và bước khỏi lề đường quá sớm ngay khi chiếc xe buýt to lớn màu xanh-và-trắng lượn vòng qua góc đường. Chiếc váy của Mẹ bay tung lên và bà cố vịn nó xuống bằng một tay. Ai đó thét lên. Khi Mẹ nhìn lên, Diane đang nằm sóng soài trên phố. Mọi người từ tứ phía đổ xô tới tụ tập quanh bà, cố giúp đỡ. Người lái xe nhảy ra khỏi xe và lách qua đám đông, cúi xuống phía bà, nghe nhịp tim đập. Trong tình cảnh rổi loạn ầy, không ai để ý tới người phụ nữ trẻ sợ hãi với đôi mắt xanh mở to tay ôm chặt đứa bé đang gào khóc vào ngực và hối hả xuống phố hướng về phía căn hộ trống.
“Xong, xong, xong, Heidi, suỵt.”
Nhưng tất nhiên tôi chỉ đang giả định, vì rốt cuộc tôi đang bắt đầu hiểu rằng có vài thứ trong cuộc đời mà một con người không thể nào biết được.
Vào lúc hai giờ mười lăm phút, tôi gọi cho Bernadette. Một lúc lâu bác mới bắt máy, tới hơn mười lần chuông reo. Thoạt tiên tôi nghĩ có lẽ bác không ở nhà, nhưng rồi tôi nhận ra điều đó là không thể. Bernie luôn luôn ở nhà. Cuối cùng bác trả lời điện thoại, nhưng nghe giọng bác thật buồn cười - có vẻ xa vời. Tôi nghĩ đường dây điện thoại kết nổi không tốt.
“Bác có nghe thấy cháu nói không, bác Bernie?” tôi hỏi.
“Có, bác có thể nghe thấy cháu nói mà,” bác đáp. “Bác đang đợi điện thoại của cháu nãy giờ.”
“Cháu có rất nhiều chuyện để kể cho bác,” tôi nói. “Bác sẽ không tin được đâu. Mẹ cháu có ngày sinh, bác Bernie ạ, một người mẹ và một cái tên. Mẹ cháu có một cái tên đẹp tuyệt.”
“Không phải lúc này, bé con,” Bernie nói.
Đó hoàn toàn không phải điều tôi mong đợi được nghe thấy. Thông thường bác sẽ bắt đầu đặt ngay cho tôi những câu hỏi, háo hức nghe về những gì tôi đã khám phá ra. Nhưng bác lại hỏi tôi xem Ruby có đó không.
“Ruby ư?” tôi hỏi. “Không, cháu đang ở Hilltop, bác Bernie à. Cháu đi với chú Roy.”
“Vậy chúng ta sẽ nói chuyện sau nhé,” bác bảo. “Cháu sẽ gọi cho bác nhé.”
“Khoan đã, bác Bernie,” tôi nói. “Đừng gác máy. Cháu muốn kể cho bác nghe về Mẹ.” “Không phải lúc này, bé con. Cháu sẽ gọi cho bác nhé,” bác nói, và rồi bác gác máy.
Tôi đứng đó cầm ống nghe trong một lúc lâu, không biết chuyện gì đã xảy ra. Tại sao Bernie không muốn nói chuyện với tôi? Tại sao bác có vẻ lạ lùng đến thế? Có lẽ Mẹ đã khiến bác thức cả đêm hay có chuyện gì đó chăng. Tôi bước qua phòng khách và ra hiên trước để khí trời làm đầu óc mình tỉnh táo. Mọi thứ vẫn còn quay cuồng ở trong đầu. Tôi cảm thấy chóng mặt.
Trời đủ lạnh để tôi nhìn thấy hơi thở của mình tỏa ra trên hiên, và tôi nhớ rằng ai đó đang đốt lá khô ở gần đó. Tôi ngước lên để nhìn xem có bầy chim nào nữa không, nhưng bầu trời hoàn toàn trống trải. Tôi nghe tiếng xe hơi đang lái lên lỗi vào nhà. Đó là một chiếc xe taxi, và tôi ngạc nhiên khi thấy Ruby ngồi ở ghế sau.
Tôi đứng lên và quan sát Ruby từ cửa sổ trong lúc cô trả tiền cho tài xế. Cô bước ra và sập cửa xe lại, nhưng giờ đây khi tôi nghĩ lại, thật là là tôi không nhớ nó phát ra âm thanh. Cứ như thể thế giới đột ngột vặn nhỏ âm lượng xuống. Gió giật từng cơn và thổi tung món tóc ngang qua khuôn mặt Ruby. Nó mắc vào giữa làn môi cô và cô gạt nó đi, giắt nó vào vành tai.
Cô không nói lời chào, cô chỉ vội vã bước tới chỗ tôi đang đứng và quàng hai cánh tay quanh tôi, và bỗng nhiên tôi hiểu ra. Cái làn sương u buồn mà tôi đã thả nó từ trong ngăn kéo ra không hề bám theo Ruby. Nó bám theo tôi. Khi nó lùa những ngón tay băng giá vào trong tôi và bọc nó xung quanh trái tim tôi, là lúc Ruby thì thẩm nho nhỏ:
“Tội nghiệp. Tội nghiệp quá.”