CẢNH VẬT THẬT KHÁC LẠ so với nó trong các bức hình. Cũ kỹ hơn. Các cánh cửa chớp đã bị tháo bỏ và toàn bộ nơi đây được sơn lại thành màu xanh lá đậm thay cho màu trắng. Chỉ có tấm biển vẫn như cũ: TRẠI HILLTOP, LIBERTY, NEW YORK.
“Chúng ta đến rồi,” người lái xe nói, dừng ở cuối lỗi đánh xe vào nhà bằng đường đất khá dài. “Cháu có chắc là nó còn mở cửa không đấy?”
“Cháu chắc mà,” tôi nói. “Chú thấy không? Có ánh đèn ở phía trên kia.”
“Ồ, đúng, ta thấy rồi. Ừm, ta chở khách lên đây mỗi năm có một lẩn, và ta nhớ rằng đây là nơi không dễ để quay đầu khi lên trên đỉnh kia, mà giờ không còn mưa nữa đâu, cháu không ngại khi đi bộ lên đó chứ?”
Tôi nói không hề gì, cảm ơn ông và ra khỏi xe.
“Vậy là nhờ chút may mắn mà cháu đã tới được chốn này đấy” người lái xe nói trước khi ông đánh xe đi. “Ái dà dà, mình sẵn sàng đánh đổi thứ gì đó để lấy chút vận may cho đêm nay.”
Tôi đứng ngước nhìn lên tòa nhà mà tôi đã đi một chặng đường dài để tới đây, và nó đang đứng nhìn lại tôi với những cửa sổ khép hờ như cặp mắt ngái ngủ và một vòm cổng tựa cái miệng đầy răng sắt tua tủa.
Hãy lắng nghe những đôi mắt, Heidi.
Nhưng tôi không thể nói lên điều gì từ khuôn mặt của Hilltop.
Mặc dù nó không xa khu trung tâm của Liberty, chỉ khoảng mười lăm phút hoặc hơn, cơn mưa dông đã biến mất khỏi khu vực này hay không lên được tới đây. Bầu trời xám đen một cách đáng ngại, nhưng mặt đất vẫn khô ráo. Lúc tôi bắt đầu chậm rãi leo lên con đường dốc đứng, một cơn gió mạnh thình lình ào qua và lay động những cành lá rậm ri của cây độc cần già nua. Soof , chúng thì thào khe khẽ khi đung đưa phía trên đầu. Lần này, tôi không bịt tai nữa. Tôi vui mừng vì nghe thấy cái từ của Mẹ ở đây, nhắc nhở tôi một lần nữa lý do tại sao tôi tới chốn này. Giày của tôi đá tung lên một đám bụi màu nằu trong lúc tăng tốc và vội vã đi trên con đường lái xe lên nhà.
Đi lên trên những bậc thềm rộng rãi của cổng vòm, ngang qua vài chậu hoa cảnh và một cặp ghế ngựa sơn trắng với đệm ngổi làm từ cây liễu gai. Những ô kính vuông ở cửa trước phía trong phủ một tấm rèm đăng ten. Tôi gõ cửa nhưng không thấy ai trả lời. Đặt chiếc vali và hộp kẹo đậu xuống hàng hiên, tôi lại gõ cửa. Khi không thấy ai xuất hiện, tôi vặn tay nắm cửa rổi bước vào nhà.
Căn nhà toát lên mùi cũ kỹ và ẩm mốc, như chiếc hộp đựng thuốc của Bernadette khi lần đầu tiên tôi mở nó ra. Không có nhiều đổ đạc ở phòng phía trước, có một đi văng bọc nhựa vinyl với những chiếc khuy tròn lớn trên nệm lót và hai ghế bành cùng kiểu.
“Xin chào?” tôi gọi to, và một phút sau lại lặp lại - “Xin chào?”
Không có tiếng trả lời, vì vậy tôi đi xuống sảnh hướng về phía có tiếng nói lao xao. Tôi đi qua một phòng bếp rộng ở phía tay phải với những nổi kim loại lớn treo trên giá dọc một bàn bếp dài, và bên phải là một phòng tắm sàn lát gạch carô đen trắng. Rồi tới một phòng nhỏ bày biện như một phòng làm việc, với chiếc bàn có điện thoại và máy chữ. Những tiếng nói vọng đến từ phía sau một cánh cửa gỗ cao ở cuối sảnh, và khi đến gần hơn, tôi có thể nghe loáng thoáng cuộc nói chuyện ở trong vọng ra. Đang có tiếng nhạc, phát ra từ đĩa hay ai đó đang bập bùng đàn guitar.
“David, cậu có muốn đóng vai miếng phó mát không?” tôi nghe có tiếng hỏi của một phụ nữ.
ít nhất thì đó là những gì người đó đã nói. Tôi cảm thấy không thoải mái khi đứng ở ngoài nghe lén như thế này.
“Xin chào?” tôi lại lên tiếng, hy vọng có lẽ người phụ nữ bên trong có thể nghe thấy tôi, nhưng cánh cửa thật dày, và bên trong có quá nhiều âm thanh nên ai đó khó có thể nghe được giọng của tôi. Tôi liếc nhìn về phía tay phải, vào trong căn phòng làm việc nhỏ với máy chữ và điện thoại. Thoạt tiên tôi không để ý, nhưng trong đó còn có một cái tủ có ngăn kéo màu xám, lèn chặt những kẹp tài liệu bằng nhựa, các ngăn kéo không thể đóng lại được. Cơ man nào là tài liệu. Có tới hàng trăm tệp. Mỗi tệp gắn một nhãn hiệu nhỏ màu xanh da trời ở phía trên trông như có tên viết ở trên đó.
Hãy kiếm cho được bất cứ câu trả lời nào, Heidi.
Tôi ước gì tôi có thể nói là mình gặp rắc rối khi quyết định làm gì tiếp theo - nhưng tôi đã không hành động như thế. Tôi biết như vậy là sai trái, song ý nghĩ rằng một trong những tài liệu kia có lẽ chứa đựng một sự thật mà tôi đã đi cả đoạn đường rất xa để tìm ra nó khiến chuyên trở nên đơn giản.
Khi bước vào trong và đóng cánh cửa phía sau lưng lại, tôi nhận ra căn phòng thực tế rộng hơn so với hình dung của mình. Có một hốc tường khuất hẳn vào trong, với tấm thảm trang trí hoa văn trải trên sàn, vài cây cảnh trồng trong mấy chậu đất sét lớn, và một ghế bành màu đỏ đặt xoay lưng về phía tôi, ngay trước khung cửa sổ lớn rất đẹp, nhìn ra đồi cây.
Căn hộ của chúng tôi ở Reno không có nhiều ánh sáng cho lắm, vì thế cây cối khó có thể sống được. Chúng tôi cố công trổng vài loại cây - cây thường xuân, xương rồng lá mọng và cả một cây lê tàu mà chúng tôi ươm mầm từ một cái hạt, rào xung quanh bằng tăm xỉa răng và treo phía bên trên một bình nước - nhưng rốt cuộc mọi cây cối đều chết sạch. Vì thế, thay vào đó, Bernie đặt mua cây và hoa vải trong một cuốn catalog rồi đặt chúng thành một hàng ở bậu cửa sổ để làm không gian sáng sủa hơn. Thỉnh thoảng bác còn xịt nước hoa cologne lên chúng.
“Không lừa được lũ ong đâu, nhưng nó đánh lừa đứợc bác đó,” bác bảo vậy trong khi xịt lên chúng bằng chiếc bình phun với quả nắm xịt màu hông bạc thếch, chiếc bình của bố bác để lại.
Cây cối ở hốc tường tại Hilltop thật tuyệt, tôi tự hỏi không biết chúng có phải là cây thật hay không, nhất là một chậu cây đặt ngay cạnh chiếc ghế bành màu đỏ. Nó có những chiếc lá dài, mảnh, nhọn, màu xanh sẫm, và ở đầu của mấy chiếc lá đung đưa những chùm hoa bé tí xíu màu trắng thật mảnh mai, tôi phải xem thế nào mới được.
Tôi bước ngang tấm thảm và định chạm vào một bông hoa, bóp nát những cánh hoa giữa ngón tay trỏ và ngón cái, thì tôi chợt há hốc miệng vì kinh ngạc và phải đưa tay che miệng lại để ngăn không kêu to lên. Không chỉ có mình tôi trong phòng. Có một người đàn ông đang ngồi trên ghế.
“Cháu xin lỗi. Cháu không định làm phiền chú. Cháu nghĩ… cháu không nghĩ,” tôi lắp bắp. “Không có ai ở phòng trước lúc cháu vào đây, vì thế cháu…”
Mặt người đàn ông quay đi chỗ khác, và phải một phút sau tôi mới nhận ra lý do người đó không đáp lại là chú ấy có vẻ buồn ngủ. Tôi nghe thấy một âm thanh chầm chậm đều đều trong hơi thở của chú như thể ngực chú nâng lên và hạ xuống. Sau đó tôi lẽ ra có thể đã quay đi và ra khỏi phòng, hoặc tận dụng cơ hội để thực hiện kế hoạch mình đã định từ lúc đầu - xem qua các tệp tài liệu để tìm thông tin về Mẹ. Thay vào đó, tôi nhón chân đi vòng qua ghế để nhìn vào mặt người đàn ông.
Cổ người đàn ông ngoẹo sang một bên, cằm và má tì xuống một bên vai như con chim cố rúc đầu xuống dưới cánh của nó trong lúc ngủ. Mái tóc sẫm màu của chú được cắt ngắn, trông như đám lông gai lua tua trên da đầu, làn da chú nhẵn bóng và thật xanh xao, tôi có thể nhìn thấy những mạch máu xanh xanh rung rung trên trán chú. Bất ngờ, người đàn ông cựa quậy trong giấc ngủ, rồi đầu chú ngặt ngoẹo từ trước ra sau và rồi chú mở choàng mắt, nhìn thẳng vào tôi. Thoạt tiên người này nhìn với cái nhìn trống rỗng, quai hàm trễ ra, má phải hằn một vết đỏ từ chất liệu bọc ghế. Rồi bất ngờ khuôn mặt ấy bừng lên vẻ tỉnh táo và nở ra một nụ cười rộng ngoác.
“Sooooof…” người đàn ông nói với giọng là lạ, nhẹ nhàng phát ra từ nơi yết hầu, “soooooooof.”