Ottawa đêm về trời lạnh thấu xương, mây đen bao phủ kín bầu trời, xem chừng trước lúc bình minh sẽ không tránh khỏi một trận bão tuyết. Thủ đô của Canada—ít nhất là theo nhận định của các chuyên gia—dường như sắp sửa đón một mùa Giáng sinh trắng.
Trên băng ghế sau chiếc xe công vụ màu đen hiệu Oldsmobile, Margaret Hauden, phu nhân Thủ tướng Canada, chạm nhẹ vào tay chồng mình rồi nói: "Jamie, anh trông có vẻ mệt mỏi."
Thủ tướng James McCallum Hauden, người đang nhắm mắt dưỡng thần trong chiếc xe ấm áp, mở bừng mắt đáp: "Không mệt lắm." Ông không chỉ là Thủ tướng, mà còn là Thượng nghị sĩ, Cử nhân Luật, Cố vấn Pháp luật Hoàng gia và Hạ nghị sĩ. Dù trong bất cứ hoàn cảnh nào, ông cũng không muốn thừa nhận mình cảm thấy mệt mỏi. "Chỉ là muốn thư giãn một chút thôi. Trong 48 giờ qua..." Ông liếc nhìn tấm lưng rộng của người tài xế rồi ngắt lời. Vách ngăn kính giữa họ và tài xế đã được kéo lên, nhưng dù vậy vẫn nên cẩn trọng thì hơn.
Ánh sáng từ bên ngoài cửa sổ xe hắt vào tấm vách ngăn, phản chiếu hình bóng ông trên đó: khuôn mặt chim ưng đầy ưu tư, chiếc mũi khoằm và cái cằm nhô ra.
Người vợ ngồi bên cạnh trêu chọc: "Đừng soi nữa, nếu không anh sẽ mắc... căn bệnh tâm thần đó, tên gì nhỉ?"
"Tự luyến." Người chồng chớp đôi mắt nặng trĩu, rồi cười nói: "Nhưng anh mắc căn bệnh này nhiều năm nay rồi. Đây là bệnh nghề nghiệp phổ biến trên sân khấu chính trị thôi."
Sau thoáng im lặng, vẻ mặt họ trở nên nghiêm nghị.
"Có chuyện gì xảy ra phải không?" Margaret dịu dàng hỏi. "Chuyện gì trọng đại sao?" Bà quay sang nhìn chồng. Dù gương mặt bà cũng ưu tư và nặng trĩu tâm sự như ông, nhưng ông vẫn thấy được nét đẹp cổ điển không thể che giấu trên khuôn mặt ấy. Margaret vẫn rất xinh đẹp, ông thầm nghĩ. Mỗi khi họ xuất hiện cùng nhau ở bất cứ đâu, người ta đều phải ngoái nhìn.
"Đúng vậy," ông thừa nhận. Một thoáng chốc, ông suýt chút nữa đã muốn nói hết với Margaret, trút hết những gì đang đè nặng trong lòng: trước tiên là cuộc điện thoại bí mật từ Nhà Trắng bên kia biên giới hai ngày trước; chiều nay lại thêm một cuộc nữa. Nhưng rồi ông nghĩ lại, cảm thấy lúc này chưa tiện nói ra.
Margaret ngồi cạnh ông nói: "Dạo này anh bận rộn quá, chúng ta hầu như chẳng có thời gian riêng tư bên nhau."
"Anh biết mà," ông nắm lấy tay Margaret.
Dường như hành động này của ông đã giải phóng những lời bà đang định nói: "Tất cả những điều này có đáng không? Chẳng lẽ anh làm còn chưa đủ sao?" Margaret Hauden khẩn khoản nói. Bà biết rõ từ căn hộ của họ lái xe đến Dinh Toàn quyền Anh tại Canada chỉ mất vài phút, bà nhận ra sự ấm áp và lưu luyến này chỉ có thể kéo dài một hoặc hai phút mà thôi. "Chúng ta kết hôn đã 42 năm rồi, Jamie, trong phần lớn quãng thời gian dài đằng đẵng đó, anh chỉ thuộc về em một phần thôi. Nhưng thời gian cuộc đời còn lại cho chúng ta chẳng còn nhiều nữa."
"Những năm qua em cũng vất vả nhiều rồi, phải không?" Ông nói đầy âu yếm và chân thành. Những lời của Margaret đã chạm đến trái tim ông.
"Vâng, nhưng không phải lúc nào cũng vậy." Lời bà có chút không chắc chắn. Đây là một chủ đề khó nói, cũng là điều họ hiếm khi nhắc tới.
"Sẽ có thời gian thôi, anh hứa với em. Chỉ cần những việc khác..." Ông ngập ngừng, nhớ đến những sự kiện xảy ra hai ngày qua đã mang lại bao ẩn số cho tương lai.
"Việc khác gì chứ?"
"Còn một công việc nữa. Có lẽ là công việc trọng đại nhất mà anh từng gặp phải."
Bà rút tay về. "Tại sao công việc này cứ nhất định phải rơi xuống đầu anh?"
Câu hỏi này không thể trả lời. Ngay cả với Margaret, ông cũng sẽ không bao giờ nói ra niềm tin sâu thẳm trong linh hồn mình: Bởi vì không ai khác có thể làm được; không ai có tài năng và tầm nhìn như tôi, người khác không thể đưa ra quyết định vĩ đại mà tôi sắp công bố.
"Tại sao chứ?" Margaret lại truy vấn thêm một câu.
Họ đã đi vào sân Dinh Toàn quyền. Lốp xe cao su nghiến ken két trên con đường rải sỏi. Trong bóng tối, những bãi cỏ rộng lớn và hàng cây thưa thớt lướt qua hai bên xe.
Ông bỗng cảm thấy một sự tội lỗi mãnh liệt về mối quan hệ giữa mình và Margaret. Mặc dù bà chưa bao giờ say mê chính trị như ông, nhưng bà luôn nhìn nhận cuộc sống chính trị một cách chân thành. Tuy nhiên, ông sớm nhận ra bà luôn hy vọng một ngày nào đó ông sẽ từ bỏ chính trị để họ có thể ôn lại cuộc sống ngọt ngào thuở ban đầu. Nhưng mặt khác, ông cũng luôn là một người chồng tốt. Trong đời ông chưa từng có người phụ nữ nào khác... ngoại trừ một lần tình cờ vài năm trước: cuộc tình thoáng qua đó kéo dài gần một năm, nhưng cuối cùng ông đã kiên quyết kết thúc nó, không để xảy ra khủng hoảng hôn nhân. Nhưng điều đó vẫn thường xuyên khơi dậy cảm giác tội lỗi... và sự bất an, ông sợ rằng một ngày nào đó Margaret sẽ biết được sự thật.
"Tối nay về nhà chúng ta sẽ nói chuyện sau," ông an ủi.
Xe dừng lại, cửa bên trái mở ra, ông cùng phu nhân bước xuống. Một cảnh sát thuộc lực lượng Cảnh sát Hoàng gia Canada trong bộ quân phục màu đỏ lịch lãm chào họ. James Hauden mỉm cười bắt tay vị cảnh sát để tỏ ý cảm ơn và giới thiệu phu nhân Margaret với anh ta. Trong những tiểu tiết này, Hauden luôn ứng xử rất mực thước, không hề có vẻ gượng ép. Đồng thời ông cũng biết rõ, vị cảnh sát này sau đó sẽ kể lại tình tiết nhỏ này với người khác, và độ lan truyền của nó sẽ khiến người ta phải kinh ngạc.
Khi họ bước vào Dinh Toàn quyền, một sĩ quan tùy tùng—một đại úy trẻ tuổi của Hải quân Hoàng gia Canada—bước tới đón. Bộ quân phục trang trí chỉ vàng của vị sĩ quan này bó chặt lấy cơ thể, tạo cảm giác không thoải mái; Hauden thầm nghĩ, có lẽ là do anh ta ở văn phòng tại Ottawa quá nhiều mà thời gian sống trên biển lại quá ít. Vì hải quân trong thời đại hiện nay gần như đã trở thành một lực lượng quân sự mang tính biểu tượng, khiến các sĩ quan phải luân phiên ra khơi làm nhiệm vụ—theo một nghĩa nào đó, đây quả là một trò đùa, nhưng đối với những công dân đóng thuế bình thường, cái giá của trò đùa này thực sự quá đắt đỏ.
Họ được dẫn vào đại sảnh với những cột trụ cao, bước lên cầu thang đá cẩm thạch trải thảm đỏ sang trọng, đi qua hành lang rộng rãi trải thảm hoa, bước vào phòng khách dài. Đây thường là nơi tổ chức những bữa tiệc nhỏ như tối nay. Phòng khách này vừa lớn vừa dài, hình hộp giày, trần cao với các dải thạch cao trang trí đan xen, khiến căn phòng giống như sảnh nghỉ trong khách sạn, nhưng thoải mái hơn nhiều. Những chiếc ghế và ghế dài bọc đệm màu xanh lục nhạt và vàng nhạt được sắp xếp theo nhóm rất hấp dẫn, nhưng đến lúc này vẫn chưa có ai ngồi. Hơn 60 vị khách đều tự giác đứng thành từng nhóm ba năm người trò chuyện. Phía trên họ là bức chân dung toàn thân của Nữ hoàng Anh, ánh mắt kiêu ngạo của bà nhìn xuyên qua đại sảnh, chăm chú vào tấm rèm gấm thêu chỉ vàng đã được kéo lại. Ở phía bên kia phòng khách, ánh đèn trên cây thông Noel nhấp nháy lúc ẩn lúc hiện. Khi Thủ tướng cùng phu nhân bước vào phòng khách, tiếng xì xào bàn tán rõ ràng nhỏ dần. Margaret Hauden mặc một chiếc váy dạ hội dài bằng vải lưới tinh xảo màu đỏ tím, để lộ đôi vai trần.
Vị đại úy hải quân vẫn đi phía trước, dẫn thẳng họ đến bên lò sưởi đang cháy rực. Toàn quyền vẫn đang tiếp đón khách khứa. Sĩ quan tùy tùng lớn tiếng tuyên bố: "Thủ tướng và phu nhân Hauden đã đến."
Toàn quyền Anh tại Canada, người từng nhận huân chương Victoria và huân chương Chữ thập bay ưu tú, Trung tướng Không quân Hoàng gia Canada (đã nghỉ hưu) Sheldon Griffith đưa tay ra. "Chào buổi tối, Thủ tướng." Sau đó, ông lại lịch sự gật đầu nói: "Chào phu nhân Margaret."
Margaret Hauden thành thục thực hiện một cái nhún gối, mỉm cười với ông và phu nhân Natalie Griffith đứng cạnh đó.
"Chào buổi tối, Ngài," James Hauden nói. "Tối nay trông Ngài rất khỏe khoắn."
Toàn quyền tóc bạc trắng, mặt hồng hào, dù tuổi đã cao nhưng vẫn giữ được phong thái quân nhân. Ông mặc bộ lễ phục buổi tối cắt may tinh tế, trên ngực đeo hàng huân chương và huy chương khiến người ta khó quên. Ông hơi cúi người về phía trước, giả vờ bí mật nói: "Tôi cảm thấy cái đuôi máy bay chết tiệt của mình như đang bốc cháy vậy." Ông chỉ tay về phía lò sưởi nói. "Vì anh đã tới rồi, chúng ta hãy rời khỏi địa ngục này thôi."
Toàn quyền với tư cách là một chủ nhà chu đáo, thân thiện, dẫn nhóm 4 người họ dạo quanh phòng khách.
"Tôi đã xem bức chân dung mới mà Karsh vẽ cho bà rồi," ông nói với Melissa Tyne, phu nhân điềm đạm, trang trọng của Bộ trưởng Y tế và Phúc lợi xã hội Borden Tyne. "Thật đẹp, lại còn phản ánh rất chân thực diện mạo của bà nữa." Chồng bà đứng bên cạnh đầy vẻ đắc ý.
Đứng cạnh họ là Daisy Cawston, người có vóc dáng thấp béo, vô tư lự, gương mặt nhân hậu, bà lẩm bẩm: "Thưa Ngài, tôi đã cố gắng thuyết phục chồng mình cũng để Karsh vẽ cho một bức, ít nhất là khi anh ấy vẫn còn chút tóc trên đầu." Bên cạnh bà, Bộ trưởng Tài chính Stuart Cawston, người được đối thủ và bạn bè gọi là "Stuart mỉm cười", khẽ mỉm cười.
Toàn quyền nghiêm nghị nhìn cái đầu đang rụng tóc nhanh chóng của Cawston rồi nói: "Nên tôn trọng lời khuyên của phu nhân đi, người bạn già. Nghe tôi này, thời gian không còn nhiều đâu." Giọng điệu của ông không hề có ý xúc phạm, khiến mọi người cười ồ lên, chính Bộ trưởng Tài chính cũng cười theo. Toàn quyền dẫn nhóm người này đi tiếp, James Hauden bị tụt lại phía sau. Ông nhìn thấy Bộ trưởng Ngoại giao Arthur Lexington và vợ là Susan đang đứng cách ông vài nhóm người, liền gật đầu nhẹ với họ. Lexington tùy ý xin lỗi những người xung quanh, rồi rời khỏi họ chậm rãi bước tới. Ông khoảng năm mươi bảy, năm mươi tám tuổi, béo một cách đáng yêu, vóc dáng thấp đậm, phong thái điềm đạm và dễ gần của ông che giấu một trí tuệ sắc bén vượt trội trong các vấn đề chính trị quốc tế.
"Chào buổi tối, Thủ tướng," Arthur Lexington chào hỏi. Sau đó, ông giữ nguyên biểu cảm nhưng hạ thấp giọng nói: "Mọi thứ đã sẵn sàng."
"Anh đã nói chuyện với 'Người giận dữ' chưa?" Hauden hỏi thẳng. Người được gọi là "Người giận dữ" này chính là Đại sứ Mỹ tại Canada Philip Angrove. Bạn bè gọi ông ta như vậy vì trong tiếng Anh, cách phát âm của Angrove rất giống từ "giận dữ" (angry).
Lexington gật đầu, nói khẽ: "Cuộc gặp của anh với Tổng thống Mỹ được ấn định vào ngày 2 tháng 1, địa điểm tất nhiên vẫn là Washington. Như vậy chúng ta còn 10 ngày."
"Chúng ta rất cần khoảng thời gian dài như vậy."
"Tôi biết."
"Lịch trình hội đàm đã thảo luận chưa?"
"Đã thảo luận sơ bộ rồi. Ngày đầu tiên sẽ tổ chức tiệc chiêu đãi quốc gia chào mừng anh—toàn là những nghi thức rườm rà—sau đó là cuộc gặp riêng tư vào ngày thứ hai, chỉ có 4 người chúng ta tham gia—tôi nghĩ lúc đó chúng ta mới bàn đến những vấn đề thực chất." "Phát hành thông cáo báo chí thế nào?" Lexington gật đầu ra hiệu cho ông, Thủ tướng lập tức im lặng, nhìn theo ánh mắt của ông. Chỉ thấy một người hầu nam đang bưng khay đồ uống đi tới. Trong số đồ uống này chỉ có một ly nước nho, được cho là loại đồ uống mà James Hauden, một người tuyệt đối không uống rượu, rất ưa thích. Ông chấp nhận ly đồ uống này với thái độ mập mờ.
Người hầu đi rồi, Lexington vừa nhấp một ngụm rượu whisky lúa mạch đen pha nước khoáng, thì Allen Aird, vị nghị sĩ Do Thái duy nhất trong nội các, cũng là Tổng cục trưởng Bưu điện, đã bước đến giữa họ. "Chân tôi đau chết mất," ông ta nói lớn. "Thủ tướng của tôi ơi, anh không thể nói với Ngài Toàn quyền một tiếng sao—xin ông ấy vì Chúa mà ngồi xuống đi, để chúng ta có thể trút bỏ gánh nặng trên người."
"Tôi chưa bao giờ biết anh lại sốt sắng muốn trút bỏ hơn trăm cân của mình như vậy đấy, Allen," Arthur Lexington cười nhếch mép trêu chọc. "Dù sao thì chỉ dựa vào những bài diễn văn của anh cũng hoàn toàn không nhìn ra điều đó."
Stuart Cawston đứng bên cạnh tình cờ nghe được cuộc trò chuyện của họ. Ông nói lớn: "Allen, sao lại đau chân? Là do mệt vì chuyển thư Giáng sinh à?"
"Thứ tôi cần bây giờ là sự dịu dàng và quan tâm," Tổng cục trưởng Bưu điện ủ rũ nói, "nhưng thứ tôi gặp lại toàn là những bậc thầy hài hước."
"Theo tôi biết, anh đã nhận được sự quan tâm dịu dàng rồi mà," Hauden cũng trêu đùa. Đây là những kẻ ngốc đang diễn kịch, ông nghĩ, giống như lời thoại hài hước trên sân khấu phụ trong vở "Macbeth". Nhưng có lẽ đây là điều cần thiết. Lựa chọn chính trị đang bày ra trước mắt đủ để quyết định sự sống còn của Canada, đã đủ nan giải rồi. Trong đại sảnh này, ngoài Lexington và ông ra, còn ai biết được... Lúc này những người khác đã bỏ đi.
Arthur Lexington hạ thấp giọng nói: "Tôi đã nói chuyện với 'Người giận dữ' về vấn đề phát hành thông báo cuộc gặp, sau đó ông ta đã gọi điện cho Bộ Ngoại giao Mỹ. Phía bên kia nói rằng Tổng thống đã dặn tạm thời không phát hành thông báo cuộc gặp. Họ có thể cho rằng công hàm của Liên Xô vừa mới qua, mà nhanh chóng gặp gỡ người đứng đầu Canada như vậy sẽ khiến người ta nhìn ra có sự liên quan trong đó."
"Tôi không thấy phát hành sớm có hại gì," Hauden nói, gương mặt chim ưng của ông có chút ưu tư. "Dù sao cũng không lâu nữa là phải phát hành thôi, nhưng nếu ông ta muốn như vậy..."
Tiếng cụng ly và tiếng người xung quanh đan xen vào nhau. "...Tôi khó khăn lắm mới giảm được 14 pound, thế mà sau đó phát hiện ra tiệm bánh tuyệt vời này, kết quả là mọi nỗ lực đều đổ sông đổ biển..." "...Giải thích rằng tôi không nhìn thấy đèn đỏ, vì tôi đang vội đi đón chồng mình làm nghị sĩ nội các..." "...Với tạp chí 'Time', tôi phải nói một lời công bằng; ngay cả sự bóp méo này cũng rất thú vị..." "...Thật đấy, người Toronto bây giờ thật không thể chịu nổi; họ mắc chứng khó tiêu văn hóa..." "...Vì tôi bảo anh ta, ngay cả khi chúng ta cần luật cấm rượu ngớ ngẩn đó, thì đó cũng là chuyện của chúng ta; dù sao thì anh cứ thử gọi điện đến London đi..." "...Tôi thấy người Tây Tạng rất thông minh; có những đặc điểm của người nguyên thủy..." "...Anh có để ý không? Các cửa hàng bách hóa bây giờ gửi hóa đơn đòi tiền ngày càng nhanh. Trước đây anh có thể trông chờ họ cho hai tuần thời gian..." "...Chúng ta đáng lẽ phải chặn Hitler ở sông Rhine, chặn Khrushchev ở Budapest..." "...Đúng vậy, nếu đàn ông mà phải mang thai thì dân số sẽ ít đi nhiều—cảm ơn, cho tôi một ly gin lạnh."
"Khi chúng ta phát hành thông báo," Lexington vẫn hạ thấp giọng nói, "chúng ta sẽ nói đây là một cuộc hội đàm thương mại."
"Được," Hauden tán đồng, "tôi thấy nói như vậy là tốt nhất."
"Khi nào anh thông báo cho nội các?"
"Việc này tôi chưa quyết định. Tôi nghĩ tốt nhất là thông báo cho Ủy ban Quốc phòng trước. Tôi muốn xem phản ứng thế nào đã." Hauden cười nhạt. "Không phải ai cũng hiểu biết về các vấn đề quốc tế như anh đâu, Arthur."
"Ồ, tôi nghĩ đó là do điều kiện của tôi thuận lợi hơn thôi." Lexington dừng lại, khuôn mặt thân thiện của ông lộ vẻ trầm tư, ánh mắt dường như đang thăm dò. "Ngay cả như vậy, ý tưởng đó của anh cũng sẽ phải tốn rất nhiều nỗ lực mới khiến mọi người hiểu được."
"Đúng vậy," James Hauden nói, "tôi nghĩ là vậy."
Hai người họ tách ra, Thủ tướng quay trở lại nhóm của Toàn quyền. Toàn quyền đang gửi lời chia buồn chân thành tới một thành viên nội các vừa mất cha tuần trước, rồi lại đi tới chỗ một vị nghị sĩ khác có con gái vừa nhận bằng tốt nghiệp để chúc mừng. Ông già này ứng xử trong những việc như vậy thật không thể chê vào đâu được, Hauden thầm nghĩ—vừa hòa nhã vừa không mất đi sự uy nghiêm; cả hai đều vẹn toàn, đúng mực.
James Hauden không khỏi thắc mắc: Sự sùng bái đối với Hoàng đế, Hoàng hậu và đại diện hoàng gia sẽ còn kéo dài bao lâu ở Canada. Tất nhiên, Canada cuối cùng cũng phải thoát khỏi chế độ quân chủ Anh, giống như vài năm trước nó đã thoát khỏi sự kiểm soát của Nghị viện Anh. Những nghi thức hoàng gia đó—lễ nghi kỳ quái, xe ngựa mạ vàng, người hầu cung đình, và đồ ăn bằng vàng—thật không hài hòa với nhịp độ của thời đại, đặc biệt là ở Bắc Mỹ, rất nhiều nghi lễ liên quan đến hoàng gia đã trở nên nực cười, giống như đang kiên nhẫn chơi một trò đố chữ dài dòng.
Đến một ngày, khi người ta bắt đầu công khai chế giễu nó, sự suy tàn sẽ bắt đầu. Có lẽ trước đó, ở Canada và Anh sẽ xuất hiện một vài vụ bê bối hoàng gia bẩn thỉu, và thế là chế độ này sẽ nhanh chóng sụp đổ.
Nghĩ đến vương quyền lại khiến ông liên tưởng đến một vấn đề khác, vấn đề mà tối nay ông nhất định phải nêu ra. Nhóm người đi cùng này dừng lại. Hauden lặng lẽ kéo Toàn quyền sang một bên hỏi: "Thưa Ngài, tôi nghĩ Ngài đã định sang Anh vào tháng tới phải không?" Hauden gọi ông là "Ngài" để tỏ ý nhấn mạnh và trang trọng. Trong riêng tư, hai người họ nhiều năm nay đều trực tiếp gọi tên nhau.
"Ngày mùng 8," Toàn quyền nói. "Natalie cứ nằng nặc bắt tôi khởi hành từ New York bằng đường biển. Đúng là làm khó cựu Tổng tham mưu trưởng Không quân này mà, phải không?"
"Ngài chắc chắn sẽ gặp Nữ hoàng tại London," Thủ tướng nói, "khi Ngài gặp bà ấy, không biết Ngài có thể nhắc đến việc chúng ta mời bà ấy đến đây thực hiện chuyến thăm chính thức vào tháng 3 không. Tôi nghĩ nếu Ngài nói vài lời, sẽ giúp bà ấy đưa ra quyết định có lợi cho chúng ta."
Từ vài tuần trước, Chính phủ Canada đã thông qua Cao ủy (đặc phái viên giữa các nước thành viên Khối thịnh vượng chung và Anh—ND) phái đến London để đưa ra lời mời Nữ hoàng Anh. Sự sắp xếp này đã được tính toán kỹ lưỡng—ít nhất là James Hauden và các đảng viên cấp cao của ông đã tính toán như vậy—là một chiến lược trước cuộc tổng tuyển cử vào cuối xuân hoặc đầu hè, bởi vì chuyến thăm của hoàng gia chắc chắn sẽ mang lại nhiều phiếu bầu cho đảng cầm quyền. Bây giờ do sự phát triển của tình hình trong vài ngày qua và quyết định trọng đại sắp được thông báo, lời mời này càng trở nên quan trọng hơn bao giờ hết.
"Vâng, tôi nghe nói đã gửi lời mời rồi," giọng điệu của Toàn quyền dường như có chút dè dặt. "Theo tôi, việc này có chút quá vội vàng. Điện Buckingham thường thích nhận được lời mời trước một năm."
"Việc này tôi biết," Griffith lại giáo huấn về vấn đề mà họ cực kỳ quen thuộc, khiến Hauden nhất thời cảm thấy vô cùng khó chịu. "Nhưng đôi khi những việc như thế này vẫn có thể sắp xếp được. Tôi nghĩ điều này có lợi cho đất nước, thưa Ngài."
Mặc dù ông lại nói một lần nữa "thưa Ngài", nhưng James Hauden thông qua sự thay đổi tinh tế trong giọng điệu, đã biểu thị rõ ràng rằng ông đang ra lệnh. Đồng thời, ông cũng nghĩ, khi phía London nhận được lời mời này, cũng sẽ cảm thấy như nhận được một mệnh lệnh. Đối với vị thế của Canada là thành viên giàu có và có ảnh hưởng nhất trong Khối thịnh vượng chung đang lung lay, Hoàng gia Anh hoàn toàn hiểu rõ, nếu các công việc khác có thể sắp xếp được, Nữ hoàng và chồng bà chắc chắn sẽ tới dự. Thực tế, Hauden nghi ngờ sự trì hoãn của Nữ hoàng trong việc chấp nhận lời mời này có lẽ hoàn toàn là để làm bộ; nhưng dù vậy, ông cũng phải sử dụng mọi áp lực mình có để đảm bảo mọi việc vạn vô nhất thất.
"Tôi sẽ chuyển đạt ý kiến của Ngài, Thủ tướng."
"Cảm ơn," Hauden lại nhớ đến việc ông phải bắt đầu cân nhắc vấn đề người kế nhiệm của Sheldon Griffith. Nhiệm kỳ Toàn quyền hai khóa liên tiếp của Sheldon Griffith sẽ hết hạn vào năm sau.
Trong phòng họp hình chữ nhật xếp một hàng dài. Hàng người đi qua đại sảnh, kéo dài đến tận bàn ăn trong phòng ăn. Điều này không có gì đáng ngạc nhiên: kỹ thuật nấu nướng siêu hạng của bếp trưởng Alphonse Goubaux tại Dinh Toàn quyền đã nổi tiếng từ lâu. Từng có thời gian lan truyền tin đồn phu nhân Tổng thống Mỹ muốn kéo đầu bếp Goubaux từ Ottawa về Washington, làm ầm ĩ cả thành phố, suýt chút nữa đã gây ra một sự kiện quốc tế, cho đến cuối cùng mới được đính chính.
Hauden nhận ra Margaret chạm vào tay mình, thế là họ cùng đi tiếp với những người khác. "Natalie khoe khoang về món thạch tôm hùm; bà ấy tuyên bố chỉ khi tự mình nếm thử mới tin được sự thơm ngon của nó."
"Khi nào tôi nhai nó, hãy báo cho tôi biết nhé, cưng," anh nói với nụ cười rạng rỡ. Đây là trò đùa quen thuộc giữa họ. James Howden không mấy chú trọng đến ăn uống, nếu không có người nhắc, anh thường quên cả bữa. Có lúc anh ăn uống trong vô thức. Đôi khi Margaret cố ý chuẩn bị những món thịnh soạn cho anh, nhưng anh thường ăn sạch sành sanh mà chẳng hề hay biết mình vừa dùng món gì. Những ngày mới cưới, Margaret từng vì sự thờ ơ của anh đối với ẩm thực mà giận dỗi, thậm chí rơi lệ, nhưng giờ đây cô đã sớm buông bỏ và thuận theo tự nhiên.
Howden liếc nhìn bàn tiệc đầy ắp, chú ý đến một nhân viên phục vụ đang lịch sự bưng hai chiếc đĩa đã chuẩn bị sẵn. "Trông ngon mắt thật. Đây là những món gì vậy?"
Người phục vụ cảm thấy tự hào khi được phục vụ Thủ tướng, anh ta nhanh nhảu liệt kê tên từng món: Trứng cá tầm Beluga, bánh nhân hàu, thạch tôm hùm, cá trích xông khói Winnipeg, pa-tê gan ngỗng, sườn bò nướng tái, cuộn gà thiến đông lạnh, gà tây xông khói hạt hồ đào, và giăm bông Virginia.
"Cảm ơn," Howden nói, "tôi chỉ cần một ít thịt bò nướng chín kỹ và thêm chút salad."
Sắc mặt người phục vụ thoáng trầm xuống, Margaret khẽ gọi: "Jamie!" Thủ tướng vội vàng bổ sung: "Lấy thêm vài món mà vợ tôi gợi ý nữa."
Khi họ rời khỏi bàn, sĩ quan tùy tùng hải quân lại bước vào. "Xin thứ lỗi, thưa ông. Ngài Toàn quyền gửi lời chào đến ông, ngoài ra cô Friedman có điện thoại tìm ông."
Howden đặt chiếc đĩa còn nguyên xuống, nói: "Được rồi."
"Anh phải đi ngay bây giờ sao, Jamie?" Giọng Margaret đầy vẻ không hài lòng.
Anh gật đầu. "Nếu không có việc gấp, Millie sẽ không gọi điện đâu."
"Điện thoại đã được chuyển vào phòng làm việc rồi, thưa ông." Sĩ quan tùy tùng cúi chào Margaret rồi đi trước dẫn đường cho Howden.
"Millie," vài phút sau, anh nói vào ống nghe điện thoại, "anh đã cam đoan với phu nhân rằng chắc chắn em có việc gấp."
Thư ký riêng của anh đáp bằng chất giọng nữ trầm dịu dàng: "Em nghĩ là vậy."
Anh thích trò chuyện với Millie, đôi khi chỉ để nghe chất giọng mê hồn ấy. Anh hỏi: "Em đang gọi từ đâu?"
"Tại văn phòng, em đã quay lại rồi. Brian đang ở chỗ em, đó là lý do em gọi cho anh."
Nghĩ đến việc Millie Friedman đang ở riêng với người khác, một nỗi ghen tuông vô cớ trào dâng trong lòng anh... Nhiều năm trước, Millie từng có một mối tình cũ với anh, đêm nay anh lại cảm thấy một chút tội lỗi về cuộc tình vụng trộm đó. Khi ấy, cuộc tình của họ lan tràn theo dục vọng, gần như không thể kiểm soát, nhưng cuối cùng mọi thứ vẫn kết thúc như anh đã dự đoán từ đầu. Cả hai đều bắt đầu lại cuộc sống riêng, tựa như việc đóng và khóa cánh cửa giữa hai căn phòng, nhưng hai căn phòng vẫn nằm sát cạnh nhau. Từ đó, cả hai chưa từng nhắc lại trải nghiệm bất thường này. Nhưng đôi khi, giống như lúc này, dung mạo và giọng nói của Millie vẫn khơi dậy khao khát trong anh, như thể anh đã quay về thời thanh xuân rực rỡ, thời kỳ đam mê cháy bỏng, như thể dấu vết thời gian đột ngột biến mất trên cơ thể anh.
Tuy nhiên, mỗi lần như thế anh đều cảm thấy căng thẳng, bởi với một người như anh, bất kỳ hành vi sai lệch nào trong hoạt động xã hội cũng sẽ trở thành cái cớ để người khác tấn công, xuyên thủng lớp giáp bảo vệ của chính mình.
"Được rồi, Millie," Thủ tướng chỉ đạo, "để tôi nói chuyện với Brian."
Đầu dây bên kia không nói gì, trong ống nghe truyền đến tiếng chuyển máy. Tiếp đó là giọng nói dứt khoát của một người đàn ông: "Sếp, giới truyền thông Washington đã làm lộ tin. Một phóng viên Canada ở đó đã biết chuyện ông sắp đến Washington để gặp nhân vật quan trọng. Chúng ta cần đưa ra tuyên bố ngay lập tức, nếu không, nếu tin tức này bị rò rỉ từ Washington trước, trông ông sẽ như đang bị họ triệu tập vậy."
Brian Richardson, người chỉ đạo công tác đảng và kiêm nhiệm điều phối viên tổ chức toàn quốc của đảng, năm nay 40 tuổi, là một người tràn đầy năng lượng. Anh ta không bao giờ nói lời thừa thãi, dù là giao tiếp bằng lời hay văn bản, anh ta vẫn giữ phong cách rõ ràng, súc tích như thời còn viết quảng cáo thương mại. Anh ta từng là một người viết quảng cáo lành nghề, sau đó trở thành một tổng giám đốc xuất sắc. Tuy nhiên, hiện tại anh ta đã ủy thác công việc kinh doanh quảng cáo cho người khác, giờ đây anh đảm nhận vai trò cố vấn cho James McCallum Howden trong việc duy trì uy tín chính phủ.
Howden vội hỏi: "Nội dung cuộc hội đàm không bị lộ chứ?"
"Không," Richardson nói. "Phía đó đã phong tỏa chặt chẽ. Họ chỉ biết về chính cuộc hội đàm mà thôi."
Brian Richardson được bổ nhiệm chức vụ này không lâu sau khi Howden trở thành lãnh đạo đảng. Trước đó, anh ta đã lên kế hoạch và đạo diễn thành công hai chiến dịch tranh cử, cùng một số hoạt động khác. Anh ta sắc sảo, thông tuệ và có tài tổ chức vượt trội. Cả Canada chỉ có ba, bốn người có thể trực tiếp gọi điện cho Thủ tướng bất cứ lúc nào mà không bị ngăn cản, và anh ta là một trong số đó. Anh ta cũng là một trong những nhân vật có ảnh hưởng nhất, mọi quyết định trọng đại của chính phủ đều phải tham khảo ý kiến hoặc thông báo cho anh ta. Các bộ trưởng khác của Howden đều không biết gì về cuộc hội đàm sắp tới tại Washington cũng như ý nghĩa của nó, nhưng với Richardson, Howden đã tiết lộ hết thảy.
Tuy nhiên, ngoài vòng tròn hạn hẹp đó, cái tên Brian Richardson gần như không ai biết đến. Ngay cả trong những dịp hiếm hoi ảnh của anh ta xuất hiện trên báo chí, sự sắp xếp cũng vô cùng thận trọng - thường là ở hàng thứ hai hoặc thứ ba của các chính trị gia.
"Thỏa thuận của chúng ta với Nhà Trắng là tạm thời không công bố việc hội đàm," Howden nói, "sau đó sẽ đưa ra một tuyên bố che đậy, nói rằng cuộc gặp này nhằm thảo luận về các vấn đề chính sách thương mại và tài chính."
"Chết tiệt, Thủ tướng, ông cứ theo kế hoạch mà làm," Richardson nói. "Nhưng tuyên bố phải được đưa ra sớm, tốt nhất là vào sáng mai."
"Còn cách nào khác không?"
"Cách khác là để tin đồn lan truyền khắp thành phố, ngay cả những chủ đề mà chúng ta muốn tránh nhắc đến công khai cũng khó tránh khỏi bị người ta đồn đoán lung tung. Một người có thể nghe ngóng được hôm nay, thì người khác cũng làm được vào ngày mai," người chỉ đạo đảng tiếp tục nói một cách dứt khoát. "Hiện tại chỉ có một phóng viên biết về kế hoạch công du của ông - đó là Newton của tờ Toronto Express, một kẻ sắc sảo. Anh ta đã báo tin này cho nhà xuất bản của mình, và nhà xuất bản đó đã gọi điện thông báo cho tôi ngay lập tức."
James Howden gật đầu. Toronto Express là người ủng hộ mạnh mẽ của chính phủ, đôi khi gần như đóng vai trò là cơ quan ngôn luận của đảng. Trước đây, hai bên từng có những lần hỗ trợ qua lại.
"Tôi có thể giữ kín tin này thêm 12 tiếng, có lẽ là 14 tiếng," Richardson tiếp tục. "Lâu hơn nữa sẽ rất mạo hiểm. Đến lúc đó, Bộ Ngoại giao có thể xoay xở liên lạc với Mỹ để phát tuyên bố không?"
Thủ tướng dùng bàn tay rảnh rỗi xoa chiếc mũi khoằm dài của mình. Dừng lại một chút, anh quyết đoán nói: "Tôi sẽ bảo họ công bố." Điều này có nghĩa là Arthur Lexington và các trợ lý cấp cao của ông ta lại phải trải qua một đêm bận rộn, họ sẽ phải nỗ lực thuyết phục Đại sứ quán Mỹ và chính phủ Washington, nhưng chỉ cần Nhà Trắng biết giới truyền thông đã đánh hơi được tin tức, họ sẽ hành động ngay lập tức; bởi họ luôn đề phòng chuyện như thế này. Hơn nữa, việc đưa ra một tuyên bố che đậy hoa mỹ cũng quan trọng đối với Tổng thống Mỹ không kém gì đối với chính anh. Nội dung cuộc hội đàm 10 ngày tới quá tinh tế, không cho phép công chúng bàn tán vào lúc này.
Richardson nói: "Nhân tiện hỏi ông, chuyến thăm của Nữ hoàng có tiến triển gì mới không?"
"Không, nhưng vài phút trước tôi đã nói chuyện với Sheldon Griffiths, ông ấy nói sẽ xem thử liệu có thể giúp chúng ta chút gì ở London không."
"Tôi hy vọng sẽ có kết quả," giọng người chỉ đạo đảng đầy vẻ nghi ngờ. "Lão già đó lúc nào cũng đúng mực như vậy. Ông đã bảo ông ta nói cứng với vị phu nhân đó chưa?"
"Tôi không nói thẳng thừng như cậu," Howden cười. "Nhưng thực tế tôi cũng có ý đó."
Trong điện thoại truyền đến tiếng cười lớn. "Dù thế nào, chỉ cần bà ấy chịu đến là được. Điều này sẽ giúp ích rất nhiều cho công việc của chúng ta vào năm tới."
Howden vừa định cúp máy thì đột nhiên nảy ra một ý nghĩ. "Brian."
"Vâng, tôi đây."
"Dịp lễ nhớ ghé chỗ tôi ngồi chơi."
"Cảm ơn, nhất định sẽ đến."
"Vợ cậu thế nào?"
Richardson đáp rất nhanh: "Tôi đoán ông sẽ phải mời riêng tôi thôi."
"Tôi chỉ hỏi thăm thôi," James Howden ngập ngừng. Anh nhận ra Millie đang ở bên cạnh nghe họ trò chuyện. "Tình hình không cải thiện sao?"
"Eloise và tôi hiện đang trong trạng thái trung lập vũ trang," Richardson đáp bình thản. "Nhưng điều này cũng có cái lợi."
Howden có thể đoán được cái lợi mà Richardson nói đến là gì, nghĩ đến việc người chỉ đạo đảng này đang ở riêng với Millie, anh lại nảy sinh sự ghen tuông vô lý. Nhưng anh nói: "Xin lỗi."
"Thật ngạc nhiên, con người ta lại có thể dần thích nghi với hoàn cảnh như vậy," Richardson nói. "Ít nhất Eloise và tôi biết mình đang ở vị thế nào, tất nhiên là ly thân rồi. Còn việc gì nữa không, sếp?"
"Không," Howden nói, "không có gì. Giờ tôi phải đi tìm Arthur nói chuyện đây."
Anh bước ra khỏi phòng làm việc và quay lại phòng khách dài, tiếng trò chuyện ồn ào ập đến. Không khí ở đây đã thoải mái hơn lúc nãy nhiều; những màn chúc rượu và bữa tối sắp kết thúc đã làm tăng thêm bầu không khí nhẹ nhàng. Khi anh mỉm cười đi ngang qua vài nhóm người, mọi người ngẩng đầu lên đầy mong đợi, nhưng anh cố gắng tránh ánh mắt của họ, đi thẳng về phía trước.
Một nhóm người đang cười nói vui vẻ vây quanh Bộ trưởng Tài chính Stewart Cawston xem ông ta làm ảo thuật nhỏ, Arthur Lexington đang đứng ở vòng ngoài. Cawston thỉnh thoảng tận dụng giờ nghỉ của các cuộc họp nội các để biểu diễn những màn ảo thuật tiêu khiển như vậy, nhằm điều tiết bầu không khí ngột ngạt của những cuộc họp dài lê thê. "Mời xem, đây là 1 đô la," Cawston nói, "tôi chuẩn bị làm nó biến mất đây."
"Chết tiệt!" ai đó nói. "Ảo thuật gì chứ; ông lúc nào cũng chơi trò tiểu xảo này." Toàn quyền đứng giữa nhóm người này cũng cười lớn cùng mọi người.
Thủ tướng chạm vào cánh tay của Bộ trưởng Ngoại giao Lexington, gọi ông ta ra một bên lần nữa. Anh truyền đạt ý chính của cuộc điện thoại từ người chỉ đạo đảng, nói về sự cần thiết phải phát hành thông cáo báo chí vào chiều hôm sau. Lexington như thường lệ không đặt thêm một câu hỏi thừa nào. Ông gật đầu đồng ý. "Tôi sẽ gọi điện cho Đại sứ quán, nói chuyện với 'kẻ giận dữ'," ông nói, "rồi bảo người của tôi bắt tay vào việc." Ông tiếp tục cười: "Sắp xếp cho người khác làm việc đêm luôn mang lại cho tôi cảm giác ưu việt."
"Này, hai người! Đêm nay không được bàn chuyện quốc gia đại sự." Người đến là phu nhân Toàn quyền Natalie Griffiths. Bà nhẹ nhàng vỗ vai họ.
Arthur Lexington quay lại, mỉm cười hỏi: "Ngay cả một cuộc khủng hoảng nhỏ tầm cỡ thế giới cũng không được sao?"
"Cũng không được, huống chi trong bếp của tôi cũng vừa xuất hiện khủng hoảng đây. Cái này quan trọng hơn." Phu nhân Toàn quyền đi về phía chồng mình. Bà nói nhỏ bằng giọng lo lắng, cốt để người khác không nghe thấy, nhưng vẫn bị người bên cạnh nghe rõ. "Sheldon, rượu Brandy Pháp của chúng ta hết sạch rồi."
"Không thể nào!"
"Suỵt! Tôi không biết chuyện gì xảy ra, nhưng đúng là hết sạch rồi."
"Chúng ta đành phải bổ sung khẩn cấp thôi."
"Charles đã gọi điện cho căng tin không quân rồi. Họ sẽ gửi đến ngay thôi."
"Chúa ơi!" Ngài Toàn quyền nói bằng giọng ai oán. "Chẳng lẽ chúng ta không bao giờ có thể tiếp đãi khách khứa một cách suôn sẻ được sao?"
Arthur Lexington lẩm bẩm: "Có vẻ tôi phải uống cà phê đen của mình rồi." Ông liếc nhìn cốc nước nho tươi vừa được đưa cho James Howden vài phút trước. "Còn anh thì không cần lo lắng. Đồ uống loại này họ chắc có hàng chục gallon."
Toàn quyền vẫn còn đang hậm hực: "Ai làm chuyện này, tôi nhất định phải tính sổ với kẻ đó."
"Này, Sheldon," - nữ chủ nhà phớt lờ những khán giả đang cố nhịn cười, vẫn hạ thấp giọng nói, "đây chỉ là một chuyện nhỏ nhặt thôi, ông biết đấy, những người giúp việc thật làm người ta đau đầu!"
"Chết tiệt, đúng là càng giúp càng rối!"
Natalie Griffiths bao dung nói: "Tôi chỉ thông báo cho ông biết thôi, cưng à. Để tôi xử lý việc này."
"Ồ, tốt lắm," Toàn quyền mỉm cười - nụ cười vừa chứa đựng sự bất lực, vừa chứa đựng tình cảm yêu thương - sau đó họ cùng quay lại phía lò sưởi.
"Đúng là lòng người không bằng xưa. Giọng nói từng chỉ huy hàng nghìn chiếc máy bay giờ lại không thể khiển trách một cô giúp việc," một người nói to bằng giọng châm biếm và ảm đạm. Thủ tướng nhíu mày.
Người vừa nói là Bộ trưởng Bộ Công dân và Nhập cư Harvey Warrender, lúc này ông ta đang đứng cạnh họ. Ông ta vạm vỡ, nhưng tóc thưa, sở hữu chất giọng nam trầm dày dặn. Ông ta luôn tỏ ra thái độ giáo điều quen thuộc - có lẽ đây là thói quen nghề nghiệp hình thành từ nhiều năm làm giáo sư đại học trước khi tham gia chính trường.
"Chú ý đấy, Harvey," Arthur Lexington nói. "Ông đang xúc phạm hoàng gia đấy."
Warrender hạ thấp giọng đáp: "Đôi khi tôi thực sự ghét những thứ đánh dấu sự tồn tại vĩnh viễn của các tướng lĩnh cao cấp."
Một khoảng lặng không thể chịu nổi. Ý nghĩa của câu nói này ai cũng rõ. Con trai độc nhất của Warrender, một sĩ quan không quân trẻ tuổi, đã hy sinh anh dũng trong Thế chiến II. Kể từ đó, ông ta luôn chìm đắm trong niềm tự hào và nỗi đau buồn vì con trai mình.
Với những lời bàn tán của ông ta về các tướng lĩnh cao cấp, người ta có thể dễ dàng đáp lại. Ngài Toàn quyền từng chiến đấu anh dũng trong hai cuộc chiến tranh thế giới, và Huân chương Chữ thập Victoria không phải là thứ dễ dàng đạt được... hơn nữa, cái chết và sự hy sinh trong chiến tranh không phân biệt địa vị và tuổi tác...
Tuy nhiên, xem ra tốt nhất là không nói gì cả.
"Được rồi, tiếp tục đóng vai hề của ông đi," Arthur Lexington vui vẻ nói. "Xin lỗi nhé, Thủ tướng, Harvey." Ông gật đầu với họ, rồi đi xuyên qua đại sảnh, quay lại bên vợ mình.
"Tại sao lại như vậy?" Warrender hỏi, "Tại sao trong mắt một số người, vài vấn đề lại gây khó xử đến thế? Chẳng lẽ ký ức cũng nên có ngày hết hạn sao?"
"Tôi nghĩ đây chủ yếu là vấn đề thời gian và địa điểm." James Howden không muốn tiếp tục thảo luận vấn đề này. Đôi khi anh thực sự muốn bãi miễn chức vụ thành viên nội các của Harvey Warrender, nhưng vì vài lý do bất khả kháng, anh không thể làm vậy.
Để đổi chủ đề, Thủ tướng nói: "Harvey, tôi luôn muốn nói chuyện với ông về công việc của bộ ông." Anh cảm thấy việc lợi dụng dịp xã giao để giải quyết quá nhiều công việc là không thỏa đáng. Nhưng gần đây, một số vấn đề đáng lẽ phải được giải quyết trên bàn làm việc lại phải nhường chỗ cho những công việc cấp bách hơn. Vấn đề nhập cư là một trong số đó.
"Ông muốn khen thưởng tôi, hay muốn tìm lỗi của tôi đây?" Câu hỏi của Harvey Warrender đầy mùi thuốc súng, rõ ràng ly rượu trên tay ông ta không phải là ly đầu tiên.
Howden nhớ lại cuộc trò chuyện với người chỉ đạo đảng vài ngày trước. Họ thảo luận về vấn đề chính trị hiện tại. Brian Richardson nói: "Bộ Nhập cư khiến chúng ta liên tục bị báo giới chỉ trích, và đáng tiếc là vấn đề nhập cư lại là một trong số ít những vấn đề mà công chúng có thể hiểu được. Ông có thể tùy ý lừa gạt người khác về thuế quan và tỷ giá ngân hàng, những thứ đó ảnh hưởng không đáng kể đến số phiếu bầu. Nhưng hãy thử để báo giới đăng một bức ảnh người mẹ và đứa con bị trục xuất - giống như sự việc tháng trước - đó mới là điều khiến đảng thực sự lo lắng!"
Trong khoảnh khắc, Howden cảm thấy tức giận vì bản thân phải tiêu tốn tâm trí vào những chuyện vặt vãnh - đặc biệt là lúc này - khi anh phải suy nghĩ về những vấn đề cực kỳ trọng đại. Nhưng anh lại nghĩ, việc trộn lẫn chuyện nhà với chuyện nước vốn là số phận của các chính trị gia. Không bao giờ bỏ qua chuyện nhỏ trong đại sự, đó thường là nguồn gốc của sức mạnh - và vấn đề nhập cư luôn là vấn đề làm phiền họ, vấn đề này liên quan đến mọi mặt, chứa đầy cơ hội chính trị, cũng giăng đầy bẫy chính trị. Khó khăn là làm sao phân biệt được đâu là đâu.
Đối với nhiều người, Canada là vùng đất hy vọng, và sẽ tiếp tục tồn tại như một vùng đất hy vọng. Vì vậy, bất kỳ chính phủ nào cũng phải kiểm soát cẩn thận van nhập cư của mình. Nếu nhập cư từ một khu vực nào đó quá nhiều, mà từ khu vực khác lại quá ít, thì chỉ trong một thế hệ là đủ để thay đổi cán cân quyền lực trong nước. Thủ tướng nghĩ, ở mức độ nào đó chúng ta cũng có chính sách phân biệt chủng tộc của riêng mình, chỉ may mắn là chính sách phân biệt chủng tộc và màu da được xây dựng một cách thận trọng, và được thực hiện ở tận bên ngoài biên giới quốc gia, tại các đại sứ quán và lãnh sự quán Canada ở nước ngoài. Mặc dù những chính sách này rất rõ ràng, nhưng chúng ta cố gắng giả vờ như không biết gì trong nước.
Anh biết rõ trong nước có những người hy vọng cho phép nhập cư nhiều hơn, nhưng những người khác lại hy vọng ít đi. Nhóm hy vọng "nhiều" bao gồm những người theo chủ nghĩa lý tưởng muốn mở rộng cửa biên giới, không từ chối ai, và những người chủ hy vọng có lực lượng lao động rộng lớn hơn. Nỗ lực phản đối nhập cư chủ yếu đến từ các công đoàn, mỗi khi vấn đề nhập cư được đưa ra, họ luôn hô hào "vấn đề thất nghiệp". Họ không nhìn thấy hiện tượng thất nghiệp, ít nhất ở một mức độ nào đó, đó là sự thật tất yếu trong đời sống kinh tế. Những người giữ quan điểm này còn bao gồm người Anglo-Saxon và một bộ phận người Tin lành - số lượng đáng kinh ngạc - họ phản đối "quá nhiều người nước ngoài", đặc biệt là khi những người nhập cư đó tình cờ lại là người Công giáo. Để tránh mâu thuẫn với bất kỳ bên nào, chính phủ thường phải giữ thăng bằng như đi trên dây.
Anh cho rằng đây là lúc cần nói thẳng. "Bộ của ông liên tục bị báo giới chỉ trích, Harvey, tôi nghĩ đây chủ yếu là lỗi của ông. Tôi hy vọng ông có thể kiểm soát chặt chẽ cục diện, đừng để cấp dưới tự tung tự tác. Nếu cần thiết có thể thay thế vài người, ngay cả với quan chức cấp cao cũng đừng nương tay. Chúng ta không thể sa thải công chức, nhưng chúng ta có rất nhiều chức vụ hờ để treo họ lên. Vì Chúa, đừng để những vấn đề nhập cư dễ gây tranh cãi này lên mặt báo nữa! Ví dụ, sự việc tháng trước - về người phụ nữ và đứa trẻ đó!"
"Người phụ nữ đó vốn mở nhà chứa ở Hồng Kông," Harvey Warrender nói. "Hơn nữa bà ta còn mắc bệnh tình dục."
"Có lẽ ví dụ này không thỏa đáng lắm, nhưng những ví dụ kiểu này nhiều vô kể, khi những vấn đề nhạy cảm như vậy bị đưa ra, ông làm chính phủ trông như một con quỷ ăn thịt người vô cảm, và điều này vô cùng bất lợi cho chúng ta."
Thủ tướng nói bằng giọng bình tĩnh nhưng thái độ nghiêm túc, ánh mắt sắc bén của anh nhìn chằm chằm vào đối phương.
Warrender nói: "Rõ ràng vấn đề của tôi đã được giải đáp. Hôm nay sẽ không có lời khen ngợi nào cả."
James Howden nghiêm nghị nói: "Đây không phải là vấn đề khen hay chê. Đây là vấn đề liệu có khả năng phán đoán chính trị tốt hay không."
"Và phán đoán chính trị của ông luôn cao minh hơn tôi, Jamie, tôi nói không sai chứ?" Warrender nheo mắt nhìn lên. "Nếu không, người lãnh đạo đảng phải là tôi chứ không phải ông."
Howden không lên tiếng, rõ ràng rượu đã phát huy tác dụng trên người đối phương. Lúc này Warrender nói: "Việc cấp dưới của tôi làm là đang thực thi pháp luật. Tôi lại thấy họ làm rất tốt. Nếu ông không thích, tại sao chúng ta không cùng nhau sửa đổi 'Luật Nhập cư'?"
Thủ tướng nhận ra mình đã sai lầm trong việc chọn thời điểm và địa điểm. Để kết thúc cuộc trò chuyện khó chịu này, anh nói: "Chúng ta không thể làm vậy. Chúng ta còn nhiều rắc rối khác ở khâu lập pháp."
"Hồ đồ!"
Câu nói này của ông ta như một tiếng roi quất nổ vang trong đại sảnh. Đại sảnh lập tức yên tĩnh lại, mọi người đều đồng loạt quay đầu nhìn. Howden thấy Toàn quyền liếc nhìn về phía này. Tiếp đó, tiếng trò chuyện ồn ào lại vang lên, nhưng Howden có thể cảm nhận được những người khác đang chăm chú lắng nghe cuộc trò chuyện của họ.
"Ông sợ vấn đề nhập cư," Wallender nói, "tất cả chúng ta đều vậy—chính phủ nào cũng thế. Thế nên chúng ta không thể thành thật thừa nhận sự thật, ngay cả trong nội bộ chúng ta cũng không dám nhìn thẳng vào thực tế."
Stewart Cawston vừa kết thúc trò ảo thuật nhỏ của mình, giả vờ thờ ơ tiến về phía họ. "Harvey," Bộ trưởng Tài chính vui vẻ nói, "ông làm quá lên rồi đấy."
"Stu, để ông ấy yên," Thủ tướng nói. Ông có thể cảm nhận được cơn giận đang dâng trào; nếu tiếp tục tự mình xử lý việc này, ông sợ mình sẽ nổi cáu. Tính khí ông vốn thất thường như vậy, và điều đó chỉ khiến tình hình thêm tồi tệ. Ông rời khỏi họ, đi tới chỗ nhóm của Margaret.
Nhưng ông vẫn nghe thấy Wallender đang nói với Cawston.
"Tôi nói thật với ông, mỗi khi đụng đến vấn đề nhập cư, người Canada chúng ta lại trở thành một lũ đạo đức giả. Chính sách nhập cư của chúng ta—chính sách mà tôi chịu trách nhiệm thực thi đấy, bạn tôi ạ—luôn là nói một đằng làm một nẻo."
"Để lúc khác hẵng nói với tôi," Stewart Cawston nói. Anh ta vẫn cố gượng cười, nhưng cảm thấy rất khó khăn.
"Tôi sẽ nói với ông ngay bây giờ!" Harvey Wallender nắm chặt lấy cánh tay vị Bộ trưởng Tài chính. "Nếu Canada muốn tiếp tục phát triển lớn mạnh, nó cần hai trụ cột. Một là phải có một đội quân thất nghiệp đáng kể để cung phụng cho giới công nghiệp, hai là phải giữ cho người Anglo-Saxon tiếp tục chiếm đa số. Nhưng chúng ta có bao giờ công khai thừa nhận điều đó không? Không!"
Bộ trưởng Bộ Nhập cư dừng lại một lát, nhìn quanh rồi tiếp tục nói lớn: "Cả hai việc này đều đòi hỏi phải cân bằng kỹ lưỡng thành phần nhập cư. Chúng ta buộc phải cho phép nhập cư, bởi khi công nghiệp mở rộng, nguồn nhân lực phải sẵn sàng ở đó—không phải tuần sau, tháng sau hay năm sau, mà là đúng lúc các nhà máy cần. Nhưng nếu mở cửa nhập cư quá rộng hoặc quá thường xuyên, hoặc cả hai, thì kết quả sẽ ra sao? Nó sẽ gây ra mất cân bằng dân số. Sai lầm kiểu này không cần đến vài thế hệ sẽ dẫn đến cảnh tranh luận tại Hạ viện bằng tiếng Ý, và chính phủ bị người Trung Quốc thao túng."
Nghe giọng Wallender ngày càng lớn, vài vị khách khác xì xào phản đối. Toàn quyền nghe rất rõ câu cuối cùng của Wallender, sau đó Holden thấy ông ta ra hiệu gọi một tùy tùng. Phu nhân Harvey Wallender, người có gương mặt nhợt nhạt và cơ thể yếu ớt, lảo đảo bước đến bên chồng, khoác lấy tay ông. Nhưng ông ta chẳng hề bận tâm đến bà.
Bộ trưởng Bộ Y tế và Phúc lợi Borden Tyne, người cao lớn hơn họ hẳn một cái đầu và từng là nhà vô địch quyền anh thời đại học, thì thầm đủ để người khác nghe thấy: "Vì Chúa, im miệng lại đi!" Anh ta đứng về phía Cawston, bên cạnh Wallender.
"Đuổi ông ta đi!" Một người lẩm bẩm thúc giục.
Người khác đáp: "Không đuổi được. Toàn quyền chưa đi thì không ai được phép rời khỏi đây."
Harvey Wallender vẫn bình thản tiếp tục nói.
"Khi bàn về vấn đề nhập cư," ông ta lớn tiếng, "tôi nói cho các người biết, dân chúng muốn cảm xúc chứ không muốn sự thật. Sự thật thường rất khó chịu. Mọi người muốn đất nước mình mở rộng vòng tay với những kẻ nghèo khổ và khốn cùng. Điều đó làm họ cảm thấy mình cao thượng. Vấn đề duy nhất là, một khi những kẻ nghèo khổ đó đến đây rồi, họ lại muốn những người đó tránh xa mình ra, đừng mang chấy rận đến khu biệt thự ngoại ô của họ, cũng đừng đến làm loạn tại những nhà thờ sang trọng của họ. Không, thưa các quý ông, dân chúng Canada không hề hoan nghênh nhập cư ồ ạt. Hay hơn nữa là công chúng biết chính phủ sẽ không bao giờ cho phép nhập cư ồ ạt, vì thế dân chúng cứ việc phàn nàn về chính sách nhập cư của chính phủ mà chẳng lo rủi ro gì. Nhờ vậy, ai cũng có thể vừa thể hiện sự công chính, vừa không gây nguy hại cho an toàn của chính mình."
Thủ tướng tận sâu trong lòng thừa nhận những điều Harvey nói đều rất có lý, nhưng về mặt chính trị thì lại không thể chấp nhận được.
"Rốt cuộc chuyện này là sao?" một người phụ nữ hỏi.
Harvey Wallender nghe thấy liền nói: "Là do có người yêu cầu tôi thay đổi cách quản lý Bộ Nhập cư, nhưng tôi xin nhắc lại, tôi đang thực thi luật nhập cư—đó là luật." Ông nhìn quanh những người đàn ông. "Và tôi sẽ tiếp tục thực thi luật này cho đến khi lũ khốn các người đồng ý sửa đổi nó."
Có người nói: "Có lẽ ngày mai cái Bộ đó không còn thuộc về ông nữa đâu, bạn ạ."
Một tùy tùng—lần này là một Đại úy không quân—xuất hiện bên cạnh Thủ tướng. Anh ta thì thầm: "Thưa ngài, Toàn quyền bảo tôi nhắn với ngài rằng ông ấy muốn cáo từ."
James Holden nhìn ra ngoài hành lang, thấy Toàn quyền đang mỉm cười bắt tay từ biệt vài vị khách. Thủ tướng cùng Margaret đi xuyên qua đại sảnh, những người khác nhường đường cho họ.
"Tôi hy vọng ngài không phiền vì chúng tôi ra về sớm," Toàn quyền nói, "Tôi và Natalie đều hơi mệt."
"Tôi vô cùng xin lỗi," Holden nói.
"Đừng khách sáo, người bạn già. Tốt nhất là tôi chẳng thấy gì cả," Toàn quyền mỉm cười thân thiện. "Chúc Thủ tướng Giáng sinh vui vẻ. Cả bà nữa, phu nhân Margaret thân mến."
Giữa những cái nhún gối liên tiếp của các nữ khách và những cái cúi đầu của chồng họ, vợ chồng ngài Toàn quyền bước ra khỏi sảnh với vẻ uy nghiêm bình thản, dưới sự dẫn đường của một sĩ quan tùy tùng.
Trong xe trở về từ phủ Toàn quyền, Margaret hỏi: "Sau chuyện tối nay, liệu Harvey Wallender có bị buộc phải từ chức không?"
"Anh không biết, em yêu," James Holden trầm ngâm đáp, "có lẽ ông ta sẽ không từ chức."
"Anh không thể ép ông ta sao?"
Ông không biết nếu nói cho bà sự thật thì bà sẽ nói gì: Đúng, anh không thể ép Harvey Wallender từ chức. Bởi vì, ở đâu đó trong thành phố này—có lẽ trong một chiếc két sắt nào đó—có một mảnh giấy viết tay của chính anh. Nếu mảnh giấy đó bị phơi bày ra ánh sáng, nó có thể tuyên án tử hình chính trị của anh. Đó là di thư trước khi tự sát chính trị của James McCallum Holden.
Tuy nhiên, ông lại đáp: "Em biết đấy, Harvey có một nhóm đông đảo người ủng hộ trong đảng."
"Nhưng thực tế thì nhóm người ủng hộ đó sẽ không tha thứ cho những gì xảy ra tối nay đâu."
Ông không trả lời.
Ông chưa bao giờ kể với Margaret về đại hội đảng 9 năm trước, cũng không nhắc tới giao kèo về quyền lãnh đạo đảng giữa ông và Harvey. Đó là một giao kèo vội vã và cấp bách, được hai người thực hiện riêng tư trong phòng hóa trang của một nhà hát ở Toronto. Khi đó, ở ngoài hội trường, các phe phái của họ đang reo hò cuồng nhiệt, chờ đợi cuộc bầu cử bị trì hoãn không rõ lý do—tất nhiên, những người biết lý do chỉ có hai vị lãnh đạo đứng sau màn.
9 năm rồi, tâm trí James Holden lại bay về lúc đó...
...Trong cuộc bầu cử sắp tới, họ chắc chắn sẽ thắng. Tất cả mọi người trong đảng đều hiểu điều đó. Khắp đảng tràn ngập một bầu không khí nhiệt huyết, không khí chiến thắng và kỳ vọng. Đảng tổ chức đại hội đại biểu để quyết định người lãnh đạo. Không nghi ngờ gì nữa, bất kể ai được bầu làm lãnh đạo đảng đều sẽ trở thành Thủ tướng trong vòng một năm. Đây là vinh dự và cơ hội mà Holden hằng mơ ước từ khi bước chân vào chính trường.
Ứng viên lãnh đạo mới là ông và Harvey Wallender. Wallender có uy tín rất lớn trong giới trí thức; Holden thì có đông đảo người ủng hộ trong số đảng viên bình thường, là một người theo phái ôn hòa. Thực lực của họ gần như ngang bằng.
Tiếng ồn ào và reo hò ngoài hội trường không ngớt.
"Tôi sẵn sàng rút lui khỏi cuộc đua," Harvey nói. "Nhưng có điều kiện."
"Điều kiện gì?" James Holden nói.
"Điều thứ nhất—chừng nào chúng ta còn cầm quyền, chức vụ của tôi trong nội các phải do tôi tự chọn."
"Ngoài Bộ Ngoại giao và Bộ Y tế ra, các chức vụ khác ông cứ tùy ý chọn."
Holden không muốn để ông ta trở thành mối đe dọa đối với mình. Ngoại giao có thể giúp Bộ trưởng thường xuyên xuất hiện ở vị trí nổi bật trên trang nhất báo chí. Bộ Y tế phát trợ cấp cho dân thường, Bộ trưởng rất oai vệ, được công chúng yêu thích.
"Tôi chấp nhận," Harvey Wallender nói, "nhưng ông còn phải đồng ý với điều kiện thứ hai của tôi."
Các đại biểu bên ngoài bắt đầu trở nên lo lắng. Qua cánh cửa đóng chặt, họ có thể nghe thấy tiếng dậm chân và những tiếng kêu gào thiếu kiên nhẫn.
"Nói điều kiện thứ hai của ông đi," Holden nói.
"Trong thời gian chúng ta cầm quyền," Harvey chậm rãi nói, "khoa học kỹ thuật sẽ có nhiều thay đổi. Ví dụ như mạng lưới truyền hình. Nhà nước đang xây dựng thêm các đài truyền hình. Chúng ta đã nói rằng chúng ta sẽ tái cơ cấu Cục Quản lý Phát thanh. Chúng ta có thể đưa người của mình vào, đồng thời cũng có thể đưa vài người ngoài sẵn sàng hợp tác với chúng ta vào." Ông ngập ngừng.
"Nói tiếp đi," Holden nói.
"Tôi muốn giành được—" ông nêu tên một thành phố—thành phố là trung tâm công nghiệp thịnh vượng nhất Canada. "Giành đặc quyền truyền hình của thành phố này cho cháu trai tôi."
James Holden khẽ hít một hơi. Đó là một món quà hậu hĩnh. Đặc quyền truyền hình là miếng bánh béo bở nhất. Đã có rất nhiều kẻ tìm kiếm ân huệ đang tranh giành—trong đó liên quan đến lợi ích tiền bạc khổng lồ.
"Miếng mồi béo bở này trị giá 2 triệu đô la," Holden nói.
"Tôi biết," Harvey Wallender có vẻ hơi đỏ mặt. "Nhưng tôi cân nhắc rằng mình đã lớn tuổi, thu nhập của giáo sư đại học không hề là một tài sản đáng kể, và từ khi tham gia chính trị tôi chưa có tích lũy gì."
"Nếu việc này bị phát hiện..."
"Việc này sẽ không bị phát hiện," Harvey nói, "tôi đảm bảo. Tên tôi sẽ không xuất hiện ở bất cứ đâu. Họ có thể nghi ngờ tùy ý, nhưng việc này tuyệt đối sẽ không bị phát hiện."
Holden nghi ngờ lắc đầu. Bên ngoài lại vang lên một đợt ồn ào—lần này là tiếng la ó phản đối và tiếng vo ve châm chọc.
"Tôi thề với ông, Jamie," Harvey Wallender nói, "nếu tôi bị hạ bệ—dù là vì việc này hay bất cứ chuyện gì khác—tôi sẽ tự chịu trách nhiệm, tuyệt đối không liên lụy đến ông. Nhưng nếu ông cách chức tôi, hoặc không ủng hộ tôi trong một vấn đề công bằng nào đó, tôi cũng sẽ không buông tha cho ông."
"Ông chứng minh thế nào..."
"Chúng ta lập văn bản làm bằng chứng," Harvey nói. Ông chỉ tay về phía đại sảnh. "Viết ngay trước khi chúng ta bước ra khỏi đây. Nếu không, chúng ta gặp nhau ở cuộc bầu cử."
Đó sẽ là một cuộc bầu cử với số phiếu sít sao. Cả hai đều hiểu rõ điều này. James Holden như thấy chiếc cúp chiến thắng mà ông hằng thèm khát đang tuột khỏi tay mình.
"Tôi viết," ông nói, "đưa tôi thứ gì đó để viết."
Harvey đưa cho ông một tờ chương trình đại hội. Ông viết nguệch ngoạc lời đảm bảo ở mặt sau—thứ này một khi bị sử dụng, ông sẽ lập tức thân bại danh liệt.
"Xin hãy yên tâm," Harvey nói rồi đút tờ chương trình vào túi. "Tôi sẽ cất giữ nó cẩn thận. Khi cả hai chúng ta đều từ bỏ chính trị, tôi sẽ trả lại nó cho ông."
Sau đó họ bước ra—Harvey Wallender thực hiện bài diễn văn từ bỏ cuộc đua—đó là bài diễn văn xuất sắc nhất trong sự nghiệp chính trị của ông—James Holden đắc cử, ông được mọi người reo hò khiêng ra khỏi hội trường bằng ghế.
Mọi chuyện đã qua nhiều năm, danh tiếng của James Holden ngày càng cao, trong khi danh tiếng của Harvey Wallender ngày càng giảm sút. Tuy nhiên, cả hai đều tuân thủ nghiêm túc thỏa thuận quân tử của họ. Ngày nay, người ta khó lòng nhớ được Wallender từng là đối thủ cạnh tranh quan trọng cho vị trí lãnh đạo đảng; tất nhiên, giờ đây trong hàng ngũ kế cận cũng không còn chỗ cho ông ta. Nhưng chuyện kiểu này thường xảy ra trong chính giới; nếu một người thất thế trong cuộc cạnh tranh quyền lực, hình ảnh của ông ta dường như cũng sụp đổ theo thời gian.
Xe của họ rẽ khỏi khuôn viên phủ Toàn quyền, hướng về phía nam tới số 24 đại lộ Sussex, phủ Thủ tướng của ông.
"Đôi khi em nghĩ," Margaret tự nhủ, "không biết Harvey Wallender có phải hơi điên rồi không."
Rắc rối nằm ở chỗ đó, Holden nghĩ; Harvey quả thực hơi điên, và chính vì điều này mà ông luôn lo lắng, có một ngày Harvey sẽ công khai mảnh giấy thỏa thuận viết vội 9 năm trước. Không hề bận tâm rằng làm như vậy sẽ hủy hoại chính ông ta.
Holden thật muốn biết sau nhiều năm, bản thân Harvey cảm thấy thế nào về giao kèo đó? Theo những gì ông biết, trước đó Harvey Wallender trong chính giới vẫn luôn trung thực. Nhưng từ đó về sau, cháu trai Harvey sở hữu đặc quyền truyền hình, có tin đồn là đã kiếm được cả gia tài. Có thể tưởng tượng được Harvey chắc chắn cũng kiếm được rất nhiều; hiện nay mức sống của ông ta vượt xa mức lương của một thành viên nội các. Tuy nhiên may mắn là ông ta luôn cẩn trọng, không để mọi người nhìn ra việc ông ta đột nhiên giàu có.
Vào thời điểm đặc quyền truyền hình được trao cho cháu trai ông ta, đã gây ra rất nhiều chỉ trích và nghi ngờ. Nhưng không tra ra được vấn đề gì, hơn nữa nhờ chính phủ Holden mới đắc cử chiếm đa số ghế tại Hạ viện, nó đã áp dụng biện pháp cứng rắn với những chỉ trích. Cuối cùng, như ông đã nghĩ từ đầu, mọi người dần cảm thấy chán ngán với vấn đề này, sau đó cũng chẳng còn ai để ý đến nó nữa.
Nhưng Harvey còn nhớ chuyện đó không? Liệu có một lương tâm bất an nào đang quấy rầy ông ta không? Có lẽ ông ta đang dùng một phương pháp cực đoan không bình thường nào đó để cải tà quy chính?
Gần đây Harvey có chút bất thường—đam mê đến mức gần như ám ảnh về những chuyện "công bằng", và rất tuân thủ pháp luật, ngay cả trong những khía cạnh nhỏ nhặt nhất. Gần đây trong các cuộc họp nội các thường xuyên xảy ra tranh chấp—luôn là Harvey nhảy ra phản đối các kế hoạch hành động mang tính thủ thuật chính trị; Harvey tranh luận rằng mỗi điều khoản hạn chế trong mỗi đạo luật đều phải tuân thủ một cách tỉ mỉ. Mỗi khi tranh cãi như vậy xảy ra, James Holden luôn cho rằng đó là do tính khí thất thường ngẫu nhiên của ông ta mà không suy nghĩ kỹ. Nhưng giờ đây, nhớ lại Harvey tối nay uống quá chén, rồi lại kiên quyết yêu cầu thực thi luật nhập cư từng câu từng chữ, Holden bắt đầu thực sự cảm thấy nghi ngờ.
"Jamie, anh yêu," Margaret nói, "Harvey Wallender đang nắm thóp gì của anh phải không?"
"Không!" Ông nghi ngờ biểu cảm của mình có quá u sầu không, bèn nói thêm, "Chỉ là anh không muốn bị người khác thúc ép đưa ra kết luận vội vàng. Chúng ta sẽ xem ngày mai có phản ứng gì. Dù sao thì, những người có mặt đều là người trong vòng tròn của chúng ta."
Ông cảm nhận được ánh mắt Margaret đang nhìn mình. Ông có chút chột dạ, không biết liệu bà có biết ông đang nói dối hay không.
Họ đi qua cửa chính có mái che bước vào tòa nhà xây bằng đá, đây là phủ Thủ tướng nhiệm kỳ của ông. Quản gia Yarrow bước lên, đón lấy áo khoác của họ rồi nói: "Thưa ngài, Đại sứ Mỹ luôn cố gắng liên lạc với ngài. Đại sứ quán đã gọi hai lần, nói là có việc quan trọng."
James Holden gật đầu. Có lẽ Washington cũng đã biết tin từ giới báo chí. Nếu vậy, điều đó sẽ khiến lời giải thích của Arthur Lexington dễ dàng hơn nhiều. Ông chỉ thị: "5 phút nữa, anh thông báo cho tổng đài là tôi đã về."
"Ông Yarrow, chúng tôi muốn uống cà phê trong phòng khách," Margaret nói, "phiền ông mang thêm ít bánh sandwich cho ông Holden, ông ấy vẫn chưa dùng xong bữa tối." Bà dừng lại trong phòng hóa trang ở sảnh chính để chải lại tóc.
James Holden đã đi trước. Ông đi qua vài hành lang đến sảnh thứ ba. Sảnh này có một cửa sổ kính sát đất kiểu Pháp khổng lồ, có thể nhìn xuống con sông phía dưới và dãy núi Gatineau đối diện. Cảnh sắc này luôn khiến ông vui vẻ, ngay cả vào ban đêm cũng không ngoại lệ. Ông nhìn những đốm sáng nhỏ xa xa, như thể nhìn thấy dòng sông Ottawa rộng lớn, lấp lánh; ba thế kỷ rưỡi trước, nhà thám hiểm Étienne Brûlé đã đi trên chính con sông này. Sau đó là Champlain; rồi đến các nhà truyền giáo và thương nhân, họ đi dọc theo con đường huyền thoại về phía tây hướng tới vùng Ngũ Đại Hồ và nơi sản xuất lông thú. Hạ lưu con sông chính là đường bờ biển của tỉnh Québec, nơi lưu truyền vô số câu chuyện cảm động, có nhiều di tích lịch sử. Chúng đã và sẽ tiếp tục ghi chép và chứng kiến rất nhiều biến thiên.
James Holden luôn nghĩ như vậy, người ở Ottawa khó mà không có cảm giác lịch sử. Đặc biệt là bây giờ, thành phố từng một thời xinh đẹp, sau đó bị phá hoại bởi thương mại này đang nhanh chóng khoác lên mình màu xanh mới: nhờ có Ủy ban Thủ đô Quốc gia, những đại lộ rợp bóng cây bằng phẳng hiện nay có thể thấy ở khắp mọi nơi. Phải thừa nhận rằng, các tòa nhà chính phủ về cơ bản đều là những công trình vô vị, một nhà phê bình gọi đó là "nét bút tầm thường của nghệ thuật quan liêu". Nhưng ngay cả như vậy, những tòa nhà này vẫn có một vẻ đẹp thô sơ tự nhiên. Theo thời gian, sự phục hồi của vẻ đẹp tự nhiên, Ottawa với tư cách là thủ đô của một quốc gia có lẽ sẽ có ngày đuổi kịp Washington, thậm chí có thể vượt qua nó.
Phía sau ông, dưới cầu thang uốn lượn rộng rãi, trên một chiếc bàn bên cạnh kiểu Adam (Adam là tên một cặp anh em kiến trúc sư người Anh thế kỷ 18), một trong hai chiếc điện thoại mạ vàng vang lên hai tiếng hài hòa êm ái. Là Đại sứ quán Mỹ gọi đến.
"Alo, 'người giận dữ'," James Holden nói, "tôi nghe nói người của ông đã làm lộ bí mật."
Trong điện thoại vang lên giọng nói chậm rãi đặc trưng của người Boston của Philip Angrove. "Tôi biết rồi, thưa Thủ tướng, tôi vô cùng xin lỗi. May mắn là chúng tôi chỉ thả đầu con mèo ra, còn toàn thân nó vẫn nằm chắc trong tay chúng tôi."
"Nghe ông nói vậy, tôi cũng yên tâm," Holden nói. "Ông biết đấy, chúng ta phải có một bản tuyên bố chung. Arthur đang trên đường đến..."
"Anh ấy hiện đang ở bên cạnh tôi," Đại sứ Angrove trả lời. "Sau khi chúng tôi soạn xong bản dự thảo sẽ liên lạc ngay. Ngài có muốn đích thân phê duyệt bản tuyên bố này không?"
"Không," Holden nói. "Để ông và Arthur quyết định đi."
Họ nói chuyện thêm vài phút, sau đó Thủ tướng đặt ống nghe điện thoại mạ vàng xuống.
Margaret đã vào phòng khách rộng rãi thoải mái trước ông. Trong phòng bày trí sofa bọc vải in bóng lụa, ghế bành kiểu Pháp 30 năm đầu thế kỷ 19 và rèm cửa màu xám trắng mềm mại. Lò sưởi than trong nhà đang cháy rực. Bà đã bật đĩa nhạc nhẹ Tchaikovsky do dàn nhạc Kostelanetz biểu diễn. Đây là bản nhạc Holden thích nhất; những bản nhạc cổ điển nghiêm túc kiểu đó hiếm khi thu hút họ. Vài phút sau, người hầu gái bưng cà phê và một đĩa bánh sandwich lớn bước vào. Margaret ra hiệu, người hầu gái mang sandwich đến trước mặt Holden, ông lơ đãng cầm lấy một miếng.
Sau khi người hầu gái đi khỏi, ông tháo chiếc cà vạt trắng, nới lỏng cổ áo cứng nhắc, rồi đi về phía Margaret đang ngồi bên lò sưởi. Ông thoải mái thả mình vào chiếc ghế mềm, kéo một chiếc ghế đôn bên cạnh, gác hai chân lên. Ông thở dài một tiếng sâu: "Đây mới là cuộc sống. Chỉ có em và anh... không có bất kỳ ai khác..." Ông cúi cằm, theo thói quen dùng tay vuốt ve chóp mũi.
Margaret mỉm cười nhẹ. "Chúng ta nên thường xuyên như thế này, Jamie."
"Nên; rất nên," ông khao khát nói. Sau đó giọng điệu ông thay đổi. "Anh có chuyện muốn nói với em. Không lâu nữa chúng ta sẽ đi Washington một chuyến. Anh nghĩ em sẽ muốn nghe tin này."
Margaret đang cầm bình cà phê Sheffield rót cà phê ngẩng đầu lên nói: "Hơi đột ngột quá nhỉ?"
"Đúng vậy," ông đáp. "Nhưng đã xảy ra vài chuyện cực kỳ quan trọng. Anh phải nói chuyện với Tổng thống Mỹ."
"Được thôi," Margaret nói, "may mắn là em còn bộ đồ mới," bà trầm ngâm một lát. "Em còn phải mua vài đôi giày, còn một chiếc túi xách phù hợp; còn cả găng tay nữa." Trên mặt bà thoáng hiện vẻ lo lắng. "Có kịp chuẩn bị không, anh?"
"Vừa đủ thôi," ông nói. Sau đó cười lên.
Margaret dứt khoát nói: "Thứ Hai em sẽ đến Montréal, dùng một ngày mua sắm những thứ cần thiết. Đồ ở đó đầy đủ hơn Ottawa. Tiện hỏi anh, tình hình tiền bạc của chúng ta thế nào?"
Ông nhíu mày nói: "Không tốt lắm; chúng ta đang thấu chi ngân hàng, anh nghĩ chúng ta phải đổi thêm vài trái phiếu."
"Đổi thêm sao?" Margaret trông có vẻ lo lắng. "Chúng ta không còn lại bao nhiêu đâu."
"Đúng vậy. Nhưng em cứ đi mua đi." Ông nhìn vợ mình đầy âu yếm. "Mua sắm một lần cũng chẳng sao cả."
"Vấn đề là, nếu anh nắm chắc phần thắng..."
"Anh nắm chắc."
Nhưng James Howden nghĩ, điều duy nhất ông thực sự nắm chắc là sẽ chẳng có ai kiện cáo chỉ vì Thủ tướng chậm trễ thanh toán hóa đơn. Tiền túi của họ không dư dả, đó luôn là điều khiến ông lo lắng. Ngoài khoản tiền tiết kiệm ít ỏi trong ngân hàng ra, vợ chồng Howden không có thu nhập cá nhân nào khác, mà số tiền đó vốn là tích lũy từ những năm đầu ông còn làm luật sư. Đây là một đặc điểm của Canada. Thói keo kiệt của dân tộc này thể hiện ở nhiều nơi, một trong số đó là việc Canada rất hà tiện với thù lao dành cho lãnh đạo quốc gia.
Howden thường nghĩ, với tư cách là Thủ tướng nắm giữ vận mệnh Canada, lương và phụ cấp của ông còn không bằng một nghị sĩ Mỹ, đây quả là một sự châm biếm cay đắng. Ông không có xe công vụ chuyên dụng, phải rút từ khoản trợ cấp ít ỏi của chính mình để mua một chiếc. Ngay cả quy định về nhà ở miễn phí cũng mới được ban hành gần đây. Năm 1950, Thủ tướng Louis St. Laurent buộc phải sống trong một căn hộ chỉ có hai phòng, chật chội đến mức bà St. Laurent phải cất các loại đồ hộp trái cây và mứt của gia đình dưới gầm giường. Hơn nữa, sau cả đời phục vụ tại Quốc hội, một vị Thủ tướng nghỉ hưu mỗi năm chỉ có thể nhận tối đa 3.000 USD tiền lương hưu từ quỹ hưu trí. Đối với quốc gia, kết quả của việc này trong quá khứ là khiến các Thủ tướng khi đã cao tuổi vẫn không muốn rời bỏ chức vụ. Một khi nghỉ hưu, họ phải sống cuộc đời thanh bần hoặc dựa vào sự bố thí của bạn bè. Đãi ngộ dành cho các bộ trưởng nội các và hạ nghị sĩ còn thấp hơn nữa. Dẫu vậy, đại đa số chúng ta vẫn giữ được sự liêm khiết. Howden cảm thấy điều này đúng là một kỳ tích. Ông không khỏi nảy sinh chút cảm thông mơ hồ đối với những việc Harvey Warrender đã làm.
"Giá như ngày trước em lấy một thương nhân thì tốt biết mấy," ông nói với Margaret. "Ngay cả tiền mặt của một phó tổng giám đốc đời thứ hai cũng nhiều hơn anh rất nhiều."
"Em nghĩ chúng ta vẫn còn những sự bù đắp khác." Margaret mỉm cười.
Ông nghĩ, tạ ơn trời, cuộc hôn nhân của chúng ta vẫn khá viên mãn. Sự nghiệp chính trị có thể mang lại cho bạn quyền lực, nhưng đồng thời cũng vắt kiệt của bạn rất nhiều thứ — tình cảm, ảo tưởng, thậm chí là cả sự trung thực. Và nếu một người đàn ông mất đi sự dịu dàng của người phụ nữ bên cạnh, anh ta sẽ chỉ còn là một cái xác không hồn. Ông cố gắng gạt bỏ hình ảnh của Millie ra khỏi đầu, nhưng vẫn không thoát khỏi cảm giác bất an vừa rồi.
"Anh đang nhớ lại cảnh cha em phát hiện ra chúng ta yêu nhau ngày đó. Em còn nhớ ngày đó không?"
"Tất nhiên là nhớ rồi. Trí nhớ của phụ nữ về chuyện đó thật kinh ngạc. Em lại thấy người đáng lẽ phải quên mới là anh."
Đó là chuyện của 42 năm về trước. Khi đó họ sống ở một thị trấn miền núi phía Tây tên là Medicine Hat, năm đó ông 22 tuổi, tốt nghiệp trường dành cho trẻ mồ côi, là một luật sư mới vào nghề, không có khách hàng, cũng chẳng có hy vọng tìm được khách hàng trong tương lai gần. Margaret khi đó đã 18 tuổi. Bà là chị cả trong gia đình có 7 chị em gái. Cha bà là một nhà đấu giá gia súc, ngoài công việc ra, ông là một người u uất, không giỏi giao tiếp. Theo mức sống thời đó, so với một James Howden nghèo túng sau khi tốt nghiệp, gia đình bà vẫn rất giàu có.
Trước giờ đi lễ vào tối Chủ nhật, chẳng biết làm thế nào mà hai người họ lại chiếm lấy phòng khách. Khi tình cảm dâng trào, họ ôm hôn nhau ngày càng nồng nhiệt. Khi cha của Margaret bước vào tìm cuốn sách cầu nguyện, bà đã hơi xộc xệch y phục. Lúc đó ông chỉ lầm bầm: "Xin thứ lỗi," rồi không nói thêm gì nữa. Nhưng đến tối, khi cả nhà ngồi quanh bàn ăn cơm, ông ngồi ở vị trí chủ tọa, mặt lạnh lùng nhìn quanh bàn rồi nói với James Howden: "Người trẻ tuổi," ông mở lời. Người vợ khỏe mạnh, trầm tĩnh và những cô con gái khác của ông đang đứng bên cạnh nhìn với vẻ đầy hứng thú. "Trong nghề của tôi, khi một người đàn ông đưa tay ra sờ soạng bầu vú của một con bò cái, anh ta không chỉ là muốn xem qua cho biết đâu."
"Thưa ông, con muốn cưới con gái ông," James Howden điềm tĩnh và tự tin đáp. Sự tự tin này đã mang lại cho ông lợi ích to lớn trong sự nghiệp sau này.
Nhà đấu giá gia súc đập mạnh tay xuống bàn ăn đầy ắp thức ăn. "Chốt đơn!" Sau đó, trái với vẻ ít nói thường ngày, ông liếc nhìn bàn ăn và nói: "Đi một đứa, tạ ơn trời! Còn lại 6 đứa."
Vài tuần sau họ kết hôn. Sau này, chính vị nhà đấu giá đã khuất này đã giúp con rể mình thành lập văn phòng luật sư, rồi sau đó bước chân vào chính giới.
Họ đã có con, nhưng bây giờ ông và Margaret hiếm khi đến thăm chúng. Hai cô con gái đã lấy chồng của họ sống ở Mỹ, cậu con trai út James McCallum Howden Jr. đang làm đội trưởng giàn khoan dầu ở Viễn Đông, nhưng trải nghiệm nuôi dạy con cái dường như vẫn tiếp nối ở họ, và đó là điều quan trọng.
Lửa trong lò sưởi không còn cháy mạnh, ông lại ném thêm một khúc gỗ bạch dương vào. Vỏ cây gặp lửa phát ra tiếng lách tách, ngay lập tức một đám lửa bùng lên. Ông ngồi cạnh Margaret, nhìn ngọn lửa nuốt chửng khúc gỗ.
Margaret khẽ hỏi: "Anh sẽ nói chuyện gì với Tổng thống Mỹ?"
"Sáng mai sẽ có thông báo. Thông báo nói đó là cuộc hội đàm về chính sách thương mại và tài chính."
"Thật sự chỉ là hội đàm về khía cạnh đó sao?"
"Không," ông nói, "không phải."
"Vậy là về chuyện gì?"
Về tình hình quốc gia, trước đây ông chưa bao giờ giấu giếm Margaret. Bất kỳ người đàn ông nào cũng cần một người để tin tưởng.
"Chủ yếu là về vấn đề quốc phòng. Một cuộc khủng hoảng thế giới mới sắp ập đến. Trước khi cuộc khủng hoảng này bùng nổ, Mỹ có thể sẽ tiếp quản rất nhiều việc, bao gồm cả những việc mà cho đến nay chúng ta vẫn tự mình thực hiện."
"Là chuyện quân sự sao?"
Howden gật đầu thừa nhận.
Margaret chậm rãi nói: "Điều đó có nghĩa là họ sẽ kiểm soát quân đội của chúng ta... cùng với tất cả những thứ khác, phải không?"
"Đúng vậy, em yêu," ông nói. "Có vẻ như họ có thể sẽ làm như vậy."
Trên trán vợ ông xuất hiện những nếp nhăn lo âu. "Nếu xảy ra cục diện này, Canada sẽ không còn chính sách ngoại giao của riêng mình nữa, có đúng không?"
"Anh nghĩ sẽ không đến mức nghiêm trọng như vậy," ông thở dài. "Đã rất lâu rồi, chúng ta vẫn luôn nỗ lực theo hướng này."
Trầm ngâm một lát, Margaret hỏi: "Đây chẳng phải là ngày tàn của chúng ta sao, Jamie? Ngày tàn của một quốc gia độc lập đã đến rồi sao?"
"Chừng nào anh còn làm Thủ tướng thì sẽ không," ông kiên định đáp. "Tóm lại, chỉ cần có thể làm theo kế hoạch thì sẽ không." Dưới sự thúc đẩy của một niềm tin sắt đá, giọng ông trở nên nghiêm nghị. "Nếu cuộc đàm phán của chúng ta với Washington tiến triển thuận lợi; nếu những quyết sách được đặt ra cho năm sau và năm tới là đúng đắn; nếu bản thân chúng ta đủ mạnh mẽ và thực tế; nếu đôi bên đều có tầm nhìn và trung thực; nếu mọi thứ đều trở thành hiện thực, thì đây sẽ là một khởi đầu mới. Cuối cùng chúng ta sẽ trở nên mạnh mẽ hơn chứ không phải yếu đi. Vị thế của chúng ta trên thế giới sẽ đi lên chứ không phải đi xuống." Ông cầm lấy tay Margaret đặt lên cánh tay mình rồi cười. "Xin lỗi, anh giống như đang diễn thuyết vậy nhỉ?"
"Trông anh sắp bắt đầu rồi đấy. Ăn thêm miếng sandwich đi, Jamie, uống thêm chút cà phê nhé?" Ông gật đầu.
Margaret vừa rót cà phê vừa khẽ hỏi: "Anh thực sự nghĩ chiến tranh sẽ bùng nổ sao?"
Ông không trả lời ngay, mà duỗi người cao lớn của mình ra, vắt chéo chân lên ghế đôn để ngồi thoải mái hơn. "Đúng vậy," ông cũng khẽ đáp, "anh tin chiến tranh sẽ bùng nổ. Nhưng anh nghĩ rất có khả năng sẽ trì hoãn được cuộc chiến này một thời gian — ví dụ như một năm, hai năm, thậm chí là ba năm."
"Tại sao nhất định phải như vậy? Tại sao chứ?" Lần đầu tiên trong lời nói của người vợ xuất hiện sự xúc động. "Đặc biệt là bây giờ, ai cũng biết cuộc chiến kiểu này đồng nghĩa với sự hủy diệt toàn cầu."
"Không," James Howden chậm rãi nói, "nó không nhất định đồng nghĩa với sự hủy diệt toàn cầu. Đó là một quan niệm sai lầm phổ biến."
Cuộc trò chuyện của họ chìm vào im lặng, sau đó ông dùng từ ngữ thận trọng nói: "Em biết đấy, cưng à, ra khỏi căn phòng này, nếu có ai hỏi anh câu hỏi vừa rồi của em, câu trả lời của anh chỉ có thể là không. Anh buộc phải nói rằng cuộc chiến này không phải là không thể tránh khỏi. Bởi vì mỗi lần em lặp lại rằng chiến tranh là không thể tránh khỏi, cũng giống như việc em lại nhấn thêm vào cái cò súng đã được kéo lên vậy."
Margaret đặt tách cà phê trước mặt ông, mở lời: "Vậy cách tốt nhất chính là không thừa nhận chủ nghĩa đó, ngay cả với chính mình cũng không thừa nhận. Sống mãi trong ảo tưởng chẳng phải rất tốt sao?"
"Nếu anh chỉ là một công dân bình thường," chồng bà đáp, "anh cũng sẽ tự lừa dối mình như vậy. Làm thế không khó, không cần phải hiểu biết gì về bản chất và sự phát triển của sự vật. Nhưng với tư cách là người đứng đầu chính phủ thì không thể chơi trò lừa dối xa xỉ này được; huống hồ anh còn phải phục vụ những người dân luôn tin tưởng mình. Đây là trách nhiệm của anh."
Ông khuấy tách cà phê, nhấp một ngụm mà không thèm nếm thử, rồi đặt tách xuống.
"Chiến tranh sớm muộn gì cũng sẽ xảy ra," James Howden thong thả nói, "bởi vì chiến tranh chưa bao giờ là không thể tránh khỏi. Chỉ cần con người còn khả năng tranh cãi và hành động, dù là vì lý do gì đi chăng nữa, cũng sẽ dẫn đến việc bùng nổ chiến tranh. Em biết đấy, bất kỳ cuộc chiến nào cũng là một cuộc tranh cãi nhỏ nhặt được phóng đại lên một triệu lần. Muốn tiêu diệt chiến tranh, em phải loại bỏ được những tàn dư cuối cùng của sự phù phiếm, ghen tị và thù hận trong lòng con người. Mà điều này thì không thể làm được."
"Nếu anh nói vậy," Margaret phản bác, "thì mọi thứ đều trở nên vô nghĩa, tất cả mọi thứ."
Chồng bà lắc đầu. "Không phải. Sự tồn tại là có ý nghĩa, bởi vì tồn tại nghĩa là đang sống, mà sống chính là mạo hiểm." Ông quay đầu lại, ánh mắt tìm kiếm trên gương mặt vợ. "Chúng ta cũng luôn mạo hiểm. Em không định thay đổi điều đó, đúng không?"
"Đúng vậy," Margaret Howden nói, "em nghĩ em không định thay đổi nó."
Lúc này giọng ông trở nên mạnh mẽ. "Ồ, anh có nghe nói về một cách nói như thế này về chiến tranh hạt nhân, người ta bảo chiến tranh hạt nhân sẽ hủy diệt tất cả, tuyệt diệt mọi sự sống. Nhưng hãy nghĩ xem, trong quá khứ mỗi khi có một loại vũ khí mới ra đời, luôn có người tiên đoán rằng ngày tận thế của thế giới sắp đến. Từ lựu pháo nạp đạn phía sau cho đến bom máy bay, tất cả đều như vậy. Em biết không, khi súng máy vừa được phát minh, có người tính toán rằng 200 khẩu súng máy bắn trong 1.000 ngày sẽ tiêu diệt sạch bách toàn bộ nhân loại trên thế giới."
Margaret lắc đầu. Howden không dừng lại mà tiếp tục nói.
"Nhân loại đã trải qua nhiều kiếp nạn, về mặt logic thì có nhiều lần lẽ ra không nên xảy ra: ví dụ như Kỷ Băng hà và trận Đại hồng thủy được nhắc đến trong Kinh Thánh, đây là hai ví dụ lớn mà chúng ta đã biết. Hậu quả của chiến tranh hạt nhân là không thể tưởng tượng nổi, vì vậy, chỉ cần có thể, anh sẽ dùng cả mạng sống của mình để ngăn chặn cuộc chiến này. Nhưng cuộc chiến nào mà chẳng không thể tưởng tượng nổi, mặc dù bất cứ ai trong chúng ta cũng chỉ có thể chết một lần, nhưng có lẽ cái chết sẽ dễ dàng hơn cách chết của tổ tiên, như bị mũi tên bắn xuyên qua mắt, hay bị đóng đinh trên thập tự giá."
"Tuy nhiên chiến tranh sẽ khiến văn minh nhân loại thụt lùi. Không ai có thể phủ nhận điều đó. Có lẽ chiến tranh sẽ đưa chúng ta quay trở lại thời Trung cổ. Chúng ta còn mất đi nhiều kỹ thuật sinh tồn, bao gồm cả kỹ thuật thả bom nguyên tử, nhưng điều này trong một thời gian nào đó cũng chưa hẳn là chuyện xấu."
"Nhưng nhân loại tuyệt diệt, không thể nào! Anh tuyệt đối không tin điều đó, luôn có những thứ sống sót, bò ra từ đống đổ nát, và tiếp tục sinh tồn. Tệ nhất cũng chỉ đến thế mà thôi, Margaret, anh tin chắc rằng chúng ta có thể xử lý việc này tốt hơn. Nhưng điều này đòi hỏi chúng ta ngay bây giờ phải làm những việc đúng đắn, và tận dụng tối đa thời gian mình có."
Nói những câu cuối cùng này, James Howden đứng dậy, đi lại qua lại trong phòng.
Margaret đứng bên cạnh nhìn ông và khẽ nói: "Anh sẽ tận dụng tối đa thời gian, thời gian còn lại của chúng ta, phải không?"
"Đúng vậy," ông thừa nhận. "Anh sẽ làm thế." Biểu cảm của ông dịu lại. "Có lẽ anh không nên nói với em những điều này. Nó làm em bất an sao?"
"Em cảm thấy rất buồn. Thế giới, nhân loại, hay bất cứ cái tên nào khác mà anh gọi, tóm lại chúng ta có rất nhiều, nhưng chúng ta sẽ hoang phí tất cả những thứ đó." Bà dừng lại một chút, rồi lại dịu dàng nói: "Anh chỉ muốn nói chuyện với ai đó thôi, đúng không?"
Ông gật đầu thừa nhận. "Người anh có thể thẳng thắn trò chuyện không nhiều."
"Vậy em rất vui vì anh có thể nói với em." Theo thói quen, Margaret gom những dụng cụ dùng để uống cà phê lại với nhau. "Muộn rồi. Anh có nghĩ chúng ta nên lên lầu không?"
Ông lắc đầu. "Không vội. Nhưng em cứ lên trước đi, lát nữa anh lên."
Margaret bước ra khỏi phòng khách, giữa đường bà dừng lại. Trên một chiếc bàn chơi bài Sheraton đặt một chồng báo và bài báo cắt dán, những thứ này được gửi đến từ văn phòng Quốc hội của Howden vào sáng nay. Bà cầm một cuốn sách nhỏ mỏng lên xem.
"Anh thực sự không nên xem loại thứ này, Jamie, có phải không?"
Trên bìa sách ghi tựa đề "Nhà Chiêm tinh", xung quanh tiêu đề là mười hai cung hoàng đạo của chiêm tinh học.
"Trời đất, không!" Mặt chồng bà hơi đỏ lên. "Nhưng thỉnh thoảng anh cũng lật xem — chỉ để giải trí thôi."
"Nhưng bà lão thường hay gửi loại thứ này cho anh trước đây đã chết rồi, phải không?"
"Anh nghĩ là có người tiếp tục gửi những thứ này cho anh." Trong giọng của Howden có một chút bực bội. "Một khi em đã nằm trong danh sách gửi thư thì rất khó để bị xóa bỏ."
"Nhưng cái này là đặt mua dài hạn," Margaret không nhượng bộ. "Anh nhìn xem — đây là gia hạn; có thể thấy rõ từ ngày tháng trên nhãn."
"Đúng vậy, Margaret, nhưng làm sao em biết được là đặt mua vào lúc nào, địa điểm nào, bằng cách nào chứ? Em có biết một ngày có bao nhiêu thư từ gửi đích danh cho anh không? Anh căn bản không kiểm tra, thậm chí còn chẳng buồn liếc qua. Có lẽ là ai đó trong văn phòng đã tự ý làm mà không báo với anh. Nếu việc này khiến em phiền lòng, thì ngày mai anh sẽ bảo họ đừng gửi loại thứ này đến nữa."
Margaret bình tĩnh nói: "Không cần phải nổi giận như vậy, và việc này cũng chẳng làm em phiền lòng chút nào. Em chỉ hơi tò mò, đã là anh thực sự xem loại thứ này, tại sao lại phải làm ầm ĩ lên như vậy? Có lẽ cuốn sách này có thể dạy anh cách đối phó với Harvey Warrender." Bà đặt cuốn sách xuống. "Bây giờ anh thực sự không muốn đi ngủ sao?"
"Ừ. Anh còn nhiều kế hoạch phải lập, mà thời gian cũng không còn nhiều."
Vẫn là bộ dạng đó. "Chúc ngủ ngon, cưng à," bà nói.
Margaret bước lên cầu thang rộng và cong. Sau khi kết hôn, bà không biết mình đã trải qua bao nhiêu đêm cô đơn như thế này; đã lên giường đi ngủ như thế này. Có lẽ bà chưa bao giờ tính toán. Đặc biệt là trong vài năm gần đây, thức khuya đã trở thành một thói quen đối với James Howden. Ông thức suốt đêm để suy ngẫm về chính trị và đại sự quốc gia, đến nỗi thường thì khi ông đi ngủ, Margaret đã ngủ say, hiếm khi tỉnh giấc. Bà dùng sự thẳng thắn của phụ nữ để tự nhủ với mình rằng, điều bà khao khát không phải là chuyện ân ái trên giường; tóm lại, những chuyện đó họ đã học cách giải tỏa phù hợp từ nhiều năm trước. Nhưng sự bầu bạn sớm tối giữa vợ chồng là một sự ấm áp mà phụ nữ vô cùng trân trọng. Cuộc hôn nhân của chúng ta vẫn còn nhiều điều viên mãn để nói, Margaret nghĩ, nhưng cũng luôn đi kèm với sự cô đơn.
Cuộc trò chuyện về chiến tranh để lại trong bà một cảm giác lo âu khác thường. Bà nghĩ, đối với cuộc chiến không thể tránh khỏi, đàn ông có thể chấp nhận, nhưng phụ nữ thì mãi mãi sẽ không bao giờ chấp nhận. Chính đàn ông tạo ra chiến tranh, chứ không phải phụ nữ, chỉ có rất ít ngoại lệ. Tại sao lại như vậy? Chẳng lẽ vì phụ nữ sinh ra là để chịu đựng đau khổ và gian nan, còn đàn ông lại phải tự mình tạo ra đau khổ và gian nan sao? Bà đột nhiên nảy sinh khao khát muốn gặp các con mình; không phải muốn đến để an ủi chúng, mà là muốn chúng xoa dịu chính mình. Đôi mắt bà đẫm lệ, một ham muốn được quay trở lại tầng dưới trỗi dậy mạnh mẽ; muốn yêu cầu Howden chỉ cần ở bên bà một đêm thôi, vì trong lúc ngủ này, bà không nên chịu đựng sự cô đơn giày vò như vậy.
Một thoáng suy nghĩ, bà lại thầm nghĩ: Mình có đang ngốc nghếch không, Jamie có thể sẽ thuận theo, nhưng ông ấy sẽ không bao giờ hiểu được.
Vợ vừa rời đi, James Howden vẫn ngồi trước lò sưởi, mặc cho dòng suy nghĩ của mình bay bổng, ngọn lửa trong lò sưởi đã lụi dần, thứ còn lại chỉ là than hồng — điều Margaret nói là đúng, trò chuyện là một sự an ủi, huống hồ những chuyện tối nay nói ra có những điều là lần đầu tiên được nhắc đến. Nhưng lúc này ông phải lập kế hoạch cụ thể. Không chỉ cho cuộc hội đàm ở Washington, mà còn cho những vấn đề mà đất nước phải đối mặt trong thời gian tới.
Tất nhiên, quan trọng nhất là củng cố quyền lực của mình; giống như là định mệnh đang gọi tên ông. Nhưng liệu người khác có nhìn nhận vấn đề này như vậy không? Ông hy vọng họ có cùng cách nhìn với ông, nhưng ông cần phải làm rõ, đó là lý do tại sao ngay cả vào lúc này, ông vẫn phải vạch ra một đường lối chính sách thận trọng và có phương án dự phòng cho chính trị trong nước. Vì lợi ích quốc gia, việc đảng của ông giành chiến thắng trong cuộc bầu cử vài tháng tới là chuyện sống còn.
Dường như để đưa suy nghĩ của mình vào những việc nhỏ nhặt, tư tưởng của ông lại quay về cuộc tranh cãi với Harvey Warrender tối nay. Ông phải ngả bài với Harvey, ông cho rằng tốt nhất là vào ngày mai. Có một điều ông đã quyết định, đó là chính phủ không thể vì sự bất tài của Cục Di trú mà liên tục rơi vào tình thế khó xử được nữa.
Tiếng nhạc dừng lại, ông đi đến chỗ dàn âm thanh hi-fi, thay một đĩa nhạc khác. Ông chọn bản "Everlasting Love" do ban nhạc Mantovani trình diễn. Khi quay lại, ông nhặt cuốn tạp chí mà Margaret vừa chê bai.
Những điều ông nói với Margaret không hề giả dối. Mỗi ngày đều có một lượng lớn thư từ gửi đến văn phòng của ông. Nhưng đó đều là những mẩu tin vặt vãnh vô vị. Tất nhiên, rất nhiều bài báo cắt dán và tạp chí không bao giờ đến tay ông, ngoại trừ những tờ báo, tạp chí hoặc hình ảnh có giá trị tham khảo nhất định đối với ông. Nhưng mấy năm gần đây Millie Friedman đã đưa cuốn tạp chí đặc biệt này vào danh sách ít ỏi còn sót lại sau khi đã sàng lọc. Ông không bao giờ nhớ mình từng bảo cô làm vậy, nhưng ông cũng chưa bao giờ phản đối. Ông còn nghĩ, mỗi khi tạp chí này đến hạn, chắc chắn là Millie đã chủ động gia hạn lại.
Thực tế, loại thứ này đều là không thực tế. Cái gọi là chiêm tinh học, thuật bí ẩn của nó, cũng như những lời chú và thủ thuật liên quan đến nó đều như nhau cả. Nhưng nhìn thấy người khác cả tin và bị lừa gạt như thế nào cũng rất thú vị. Đó là lý do duy nhất khiến ông hứng thú với chiêm tinh học, tuy nhiên điều này rất khó giải thích rõ ràng cho Margaret.
Sự hứng thú của Howden đối với chiêm tinh học bắt nguồn từ nhiều năm trước khi ông còn ở Medicine Hat. Lúc đó địa vị của ông trong giới luật sư đã được xác lập, và đang bắt đầu sự nghiệp chính trị. Một lần ông nhận một vụ án dịch vụ luật sư miễn phí, đây là một trong vô số vụ án ông làm lúc đó. Bị cáo là một bà lão tóc bạc trắng, hiền từ như mẹ, bà bị cáo buộc giả làm khách hàng để ăn cắp trong cửa hàng. Bà rõ ràng là có tội, và có hồ sơ dài về những tội danh tương tự, vì vậy xem ra chẳng còn cách nào khác, chỉ có thể thừa nhận sự thật phạm tội, để mong được khoan hồng. Nhưng bà lão tên là Ada Zide này lại kịch liệt tranh luận, bà chủ yếu quan tâm đến việc phiên điều trần của tòa án có thể trì hoãn một tuần hay không. Ông hỏi bà tại sao.
Bà nói với ông. "Bởi vì đến lúc đó thẩm phán sẽ không tuyên bố ta có tội đâu, đồ ngốc." Dưới sự truy vấn liên tục của Howden, bà giải thích: "Cưng à, ta là tín đồ của cung Nhân Mã. Tuần sau là ngày tốt của tất cả những tín đồ cung Nhân Mã. Cậu cứ chờ mà xem."
Để đáp ứng yêu cầu của bà lão đó, ông đã trì hoãn vụ án này, rồi sau đó đưa ra kháng cáo vô tội. Điều khiến ông kinh ngạc không thôi là, sau khi lắng nghe phần bào chữa không thể đứng vững hơn, vị thẩm phán vốn rất khó tính đó đã bác bỏ cáo buộc của nguyên đơn.
Kể từ sau lần đó, ông không bao giờ gặp lại bà lão này nữa, nhưng trong suốt nhiều năm, bà vẫn đều đặn gửi thư cho ông, đưa ra những lời khuyên về sự nghiệp của ông cho đến tận khi bà qua đời. Lý do bà làm vậy là vì bà phát hiện bản thân Haughton cũng sinh ra dưới chòm sao Nhân Mã. Mặc dù ông đọc mọi bức thư bà gửi, nhưng ông không hề để tâm, chỉ coi đó như một cách giải trí. Tuy nhiên, có một hai lần những lời tiên đoán của bà lão trở thành sự thật, khiến ông vô cùng kinh ngạc. Sau đó, chính bà lão này đã lấy tên ông để đặt mua một tạp chí chiêm tinh. Khi bà không còn gửi thư nữa, tạp chí vẫn tiếp tục được gửi đến.
Ông lơ đễnh lật cuốn tạp chí đến tiêu đề "Biểu đồ thiên cung của bạn - từ ngày 15 đến ngày 30 tháng 12". Đối với mỗi ngày trong hai tuần này, bài viết đều đưa ra một đoạn lời khuyên để những người quan tâm đến ngày sinh có thể tham khảo. Ông lật đến biểu đồ thiên cung của ngày mai, trang 24, và đọc: "Hôm nay là một ngày quan trọng để đưa ra quyết định, đồng thời cũng là cơ hội tốt để xoay chuyển sự việc theo hướng có lợi cho bạn. Khả năng thuyết phục người khác của bạn sẽ được thể hiện đầy đủ, vì vậy những thành tựu vĩ đại có thể hoàn thành lúc này không nên trì hoãn thêm nữa. Đây là thời điểm để họp bàn. Nhưng hãy cẩn thận với đám mây đen nhỏ chưa bằng bàn tay người đó."
Ông thầm nghĩ, đây quả là một sự trùng hợp hoang đường. Hơn nữa, chỉ cần suy nghĩ một cách sáng suốt một chút là có thể thấy những lời này rất mơ hồ và có thể áp dụng cho mọi tình huống. Nhưng ông đúng là đang phải đưa ra quyết định, và ông đúng là đang cân nhắc việc triệu tập cuộc họp Ủy ban Quốc phòng Nội các vào ngày mai, đồng thời ông cũng thực sự cần thuyết phục người khác. Ông suy ngẫm xem đám mây đen nhỏ chưa bằng bàn tay người đó có ý nghĩa gì.
Có lẽ là chuyện gì đó liên quan đến Harvey Warrender. Ông lập tức gạt bỏ ý nghĩ đó. Thật quá nực cười. Ông đặt cuốn tạp chí xuống, không suy nghĩ về nó nữa.
Tuy nhiên, việc này làm ông nhớ đến một chuyện: Ủy ban Quốc phòng. Có lẽ cuộc họp này thực sự nên tổ chức vào ngày mai, bất chấp việc ngày mai là đêm Giáng sinh. Thông báo về cuộc gặp tại Washington sắp được công bố, vì vậy ông nhất định phải thuyết phục các thành viên nội các đồng ý với quan điểm của mình, giành được sự ủng hộ trong nội các. Ông bắt đầu lên kế hoạch về những gì sẽ nói tại cuộc họp. Suy nghĩ của ông tiếp tục chạy dài.
Hai tiếng sau ông mới đi ngủ. Margaret đã ngủ say, ông không gọi bà dậy, tự mình cởi quần áo và chỉnh chiếc đồng hồ báo thức nhỏ đầu giường đến 6 giờ sáng.
Ban đầu ông ngủ rất sâu, nhưng khi gần đến rạng đông, giấc ngủ của ông bị quấy rầy bởi một hình ảnh kỳ quái cứ lặp đi lặp lại - những đám mây đen, từ từ bay lên từ bàn tay nhỏ bé, biến thành một khung cảnh u ám, đầy bão tố.