Tòa án Tối cao tỉnh British Columbia, Canada có văn phòng đăng ký tại thành phố Vancouver. Đúng 4 giờ chiều mỗi ngày, những cánh cửa gỗ sồi khổng lồ của tòa án đều đóng chặt lại.
Một ngày sau chuyến thăm thứ hai của Alan Maitland tới Thuyền trưởng Jabeck và Duval, vào lúc 3 giờ 50 phút chiều (cùng thời điểm đó, tức 6 giờ 50 phút tối giờ Washington, vợ chồng Holden đang thay trang phục để chuẩn bị dự tiệc tại Nhà Trắng), Alan kẹp một chiếc cặp tài liệu, bước vào văn phòng đăng ký.
Bước vào trong, anh thoáng ngần ngại, đưa mắt quan sát căn phòng dài. Trần nhà cao vút, một bức tường xếp đầy các tủ hồ sơ, một quầy gỗ sáng bóng trải dài gần như suốt chiều dài căn phòng. Anh tiến lại gần quầy, mở cặp, lấy ra vài tờ giấy. Trong lúc làm những việc này, anh cảm thấy lòng bàn tay mình có phần ẩm ướt hơn bình thường.
Nhân viên duy nhất trong văn phòng là một thư ký lớn tuổi. Ông ta bước tới. Dáng người ông gầy gò thấp bé, trông như một vị thổ địa, đôi vai hơi khom xuống như thể việc canh giữ tòa án suốt bao năm qua đã khiến ông phải chịu đựng sức nặng của luật pháp. Ông hỏi một cách lịch sự: "Ngài là..."
"Tôi tên là Maitland," Alan nói, rồi đưa xấp tài liệu đã chuẩn bị sẵn cho ông ta. "Phiền ông đăng ký vào hồ sơ giúp tôi. Tôi cũng muốn ông dẫn tôi đi gặp thẩm phán trực ban."
Người thư ký kiên nhẫn nói: "Thẩm phán làm việc từ 10 giờ sáng, và các vụ án cần xét xử hôm nay đều đã giải quyết xong rồi, thưa ông Maitland."
"Xin lỗi ông," Alan chỉ vào tập hồ sơ vừa đưa qua, "đây là một vụ án liên quan đến quyền tự do thân thể. Tôi tin rằng mình có quyền yêu cầu xét xử ngay lập tức." Ít nhất về điểm này, anh tin mình có cơ sở. Trong bất kỳ vụ án nào liên quan đến quyền con người và giam giữ trái phép, pháp luật không cho phép bất kỳ sự trì hoãn nào, thậm chí nếu cần thiết, có thể gọi thẩm phán rời khỏi giường vào đêm khuya để thụ lý.
Người thư ký lấy một cặp kính không gọng từ trong hộp ra, đeo vào rồi loay hoay một hồi, sau đó mới đứng thẳng dậy. Vẻ mặt ông không chút tò mò, như thể chẳng điều gì có thể làm ông kinh ngạc. Một lát sau, ông ngước nhìn lên: "Xin lỗi ngài, ông Maitland. Ngài nói đúng, không vấn đề gì cả." Ông kéo một cuốn sổ bìa vải lại gần. "Không phải ngày nào chúng tôi cũng tiếp nhận đơn xin cấp lệnh bảo vệ thân thể (Habeas Corpus)."
Sau khi đăng ký vào sổ, người thư ký lấy chiếc áo choàng đen trên tường khoác lên người. "Xin mời đi theo tôi."
Ông dẫn Alan rời khỏi văn phòng đăng ký, đi dọc theo hành lang có ốp ván, băng qua cánh cửa lò xo kép để vào đại sảnh tòa án, nơi có cầu thang đá rộng lớn dẫn lên tầng trên. Tòa nhà rất yên tĩnh, tiếng bước chân của họ vang vọng khắp nơi. Giờ này hầu hết các phòng xử án đã đóng cửa, một số đèn trong tòa nhà cũng đã tắt.
Họ trang nghiêm bước từng bậc thang lên trên. Alan cảm thấy lo lắng một cách lạ thường. Anh chợt có ý nghĩ muốn quay đầu bỏ chạy như một đứa trẻ. Khi chuẩn bị bản bào chữa, anh từng cảm thấy lập luận của mình rất thuyết phục, chỉ là căn cứ pháp lý có vẻ chưa đủ vững chắc. Thế nhưng lúc này, anh bỗng thấy lập luận của mình thật tầm thường và ngây thơ. Chẳng lẽ anh định làm trò cười trước mặt vị thẩm phán của Tòa án Tối cao uy nghiêm sao? Nếu anh làm hỏng chuyện thì hậu quả sẽ thế nào? Không thể tùy tiện đùa giỡn với thẩm phán, việc tổ chức một phiên điều trần đặc biệt cần phải có lý do xác đáng.
Anh lại thấy hối hận vì đã chọn thời điểm này trong ngày, anh nghĩ có lẽ đến sớm hơn sẽ tốt hơn, vào buổi sáng hay đầu giờ chiều, tòa án luôn ồn ào hơn. Có lẽ nhìn thấy những người khác ở đó, sự can đảm của anh sẽ tăng lên. Nhưng thời điểm này đã được anh tính toán kỹ lưỡng nhằm tránh sự chú ý của công chúng và báo giới. Vào lúc này, việc làm ầm ĩ rất có thể sẽ gây bất lợi. Anh hy vọng giờ này, hầu hết phóng viên các báo đều đã về nhà. Hôm nay có vài phóng viên gọi điện cho anh, nhưng anh đều thận trọng tránh nhắc đến kế hoạch của mình.
"Hôm nay thẩm phán trực ban là Thẩm phán Willis," người thư ký nói. "Ngài có quen ông ấy không, ông Maitland?"
"Tôi chỉ mới nghe danh, chỉ vậy thôi," Alan đáp. Anh biết thẩm phán trực ban thường xuyên thay đổi, các thẩm phán Tòa án Tối cao sẽ luân phiên trực ban trong thời gian tòa nghỉ. Vì vậy, gặp được vị thẩm phán nào hoàn toàn phụ thuộc vào vận may.
Người thư ký dường như muốn nói gì đó nhưng rồi lại thôi. Alan khích lệ: "Ông có điều gì muốn nhắn nhủ tôi sao?" "Ồ, thưa ngài, chỉ là một lời khuyên nhỏ, nếu ngài không thấy phiền..."
"Xin cứ nói," Alan thúc giục.
Họ đã lên đến đỉnh cầu thang, bắt đầu đi dọc theo hành lang mờ tối. Người thư ký hạ thấp giọng: "Được rồi, ông Maitland. Thẩm phán Willis là một quý ông cao quý. Ông ấy rất chú trọng thủ tục, đặc biệt ghét người khác ngắt lời mình. Khi ngài trình bày, ngài muốn nói bao lâu cũng được, ngài cần bao nhiêu thời gian ông ấy sẽ cho bấy nhiêu. Nhưng một khi ông ấy đã bắt đầu nói, ông ấy không thích bất kỳ ai lên tiếng, thậm chí không cho phép ngài đặt câu hỏi, phải đợi cho đến khi ông ấy nói xong. Nếu ai đó cố tình ngắt lời, ông ấy sẽ rất tức giận."
"Cảm ơn ông," Alan nói với vẻ biết ơn. "Tôi sẽ ghi nhớ."
Người thư ký dừng lại trước một cánh cửa lớn có ghi dòng chữ: "Miễn phận sự miễn vào." Ông gõ cửa hai lần rồi vươn cổ lắng nghe. Từ bên trong vọng ra tiếng "Vào!" mơ hồ. Người thư ký mở cửa, để Alan bước vào.
Đây là một căn phòng rộng, tường ốp ván, sàn trải thảm, có một lò sưởi bằng gạch men. Trước lò sưởi đặt một chiếc lò điện di động, hai bộ phận phát nhiệt đang đỏ rực. Giữa phòng là một chiếc bàn viết bằng gỗ gụ, trên đó chất đầy hồ sơ và sách vở. Chiếc bàn nhỏ phía sau lại càng chất thêm nhiều sách và giấy tờ. Rèm nhung nâu kéo sang hai bên, để lộ những khung cửa sổ kính chì. Ngoài cửa sổ đã là hoàng hôn, ánh đèn từ thành phố và bến cảng bắt đầu lấp lánh. Trong phòng chỉ có một chiếc đèn bàn đang sáng, tỏa ra một vùng sáng nhỏ. Khi người thư ký dẫn Alan bước vào, một bóng người cao gầy, thẳng lưng đang đứng ngoài vùng sáng, khoác áo choàng, đội mũ, chuẩn bị tan làm.
"Thưa ngài, ông Maitland gửi một đơn yêu cầu cấp lệnh bảo vệ thân thể."
"Vậy sao," câu trả lời chỉ có vỏn vẹn hai chữ, và được phát ra bằng giọng trầm đục. Người thư ký và Alan đứng chờ, Thẩm phán Stanley Willis cẩn thận cởi áo khoác và mũ, treo chúng lên giá phía sau. Sau đó, ông bước đến vùng sáng trước bàn rồi ngồi xuống, nghiêm giọng nói: "Ông Maitland, mời tiến lên phía trước."
Alan ước chừng vị thẩm phán này khoảng 60 hoặc 62 tuổi, mái tóc bạc trắng, vóc người gầy gò nhưng đôi vai rộng với những khớp xương nhô cao, cộng với dáng đứng thẳng tắp khiến ông trông cao hơn thực tế. Ông có khuôn mặt hình chữ nhật, cằm rất nổi bật, lông mày trắng dài, đôi môi mím chặt đầy cương nghị. Ánh mắt ông sắc sảo, thấu suốt mọi thứ nhưng không bộc lộ bất cứ điều gì. Toàn thân ông toát lên vẻ uy nghiêm.
Dù Alan cố gắng trấn an bản thân nhưng vẫn cảm thấy rất căng thẳng. Anh bước về phía bàn, còn người thư ký vẫn đứng lại trong phòng theo quy định. Alan lấy từ cặp ra bản sao đánh máy của đơn đăng ký và bản tuyên thệ đã được văn phòng đăng ký thụ lý, hắng giọng nói: "Thưa ngài, đây là tài liệu của tôi, đây là những lời khai của tôi."
Thẩm phán Willis khẽ gật đầu, nhận lấy tài liệu, ghé sát vào ánh đèn để đọc. Alan và người thư ký lặng lẽ đứng đó, âm thanh duy nhất trong phòng là tiếng lật giấy.
Sau khi đọc xong, Thẩm phán Willis ngước nhìn lên, khuôn mặt vẫn không chút biểu cảm. Ông hỏi bằng giọng cứng nhắc như lúc nãy: "Cậu còn định trình bày bằng miệng không?"
"Nếu ngài cho phép."
Thẩm phán lại gật đầu. "Mời nói."
"Thưa ngài, sự việc là như thế này." Alan dựa vào những gì đã chuẩn bị, mô tả theo thứ tự tình hình của Henry Duval trên tàu "Vastvik", việc thuyền trưởng hai lần từ chối đưa Duval lên bờ gặp quan chức nhập cư, đồng thời đưa ra các bằng chứng và bản tuyên thệ bằng văn bản, chứng minh Duval đang bị giam giữ trái phép, đây là sự vi phạm nhân quyền.
Alan biết, mấu chốt của toàn bộ sự việc nằm ở chỗ chứng minh việc hiện tại giam giữ Henry Duval trên tàu là không đúng trình tự pháp luật, vì vậy là bất hợp pháp. Nếu điểm này được chứng minh là có cơ sở, tòa án sẽ lập tức cấp lệnh bảo vệ thân thể, tức là Thẩm phán Willis phải ra lệnh ngay lập tức, thả Duval khỏi con tàu để anh ta có thể ra tòa tham gia xét xử vụ án của mình.
Alan trình bày bằng chứng, viện dẫn các quy định pháp luật liên quan để ủng hộ lập luận của mình, dần dần cảm thấy sự tự tin ban đầu đã quay trở lại. Anh thận trọng chỉ bàn vấn đề dưới góc độ pháp lý, tránh dùng tình cảm để tô vẽ cho số phận của Duval. Tại nơi này, thứ quyết định tất cả là pháp luật chứ không phải cảm xúc. Trong lúc Alan nói, vị thẩm phán vẫn dửng dưng lắng nghe, vẻ mặt không hề thay đổi.
Alan chuyển chủ đề từ việc giam giữ trái phép sang tình trạng hiện tại của Duval. Anh chỉ ra: "Thưa ngài, Bộ Di trú cho rằng, vì khách hàng của tôi là người nhập cư lậu, lại không có bất kỳ giấy tờ tùy thân nào, nên anh ta không có bất kỳ quyền lợi hợp pháp nào, cũng không có quyền yêu cầu tổ chức phiên điều trần tại bất kỳ cửa khẩu nào của Canada để điều tra tình trạng nhập cư của mình như những người khác. Nhưng tôi cho rằng, mặc dù Duval là người nhập cư lậu và không rõ nơi sinh của mình, nhưng những sự thật đó không hề phủ nhận quyền hạn nêu trên của anh ta."
"Xin ngài cân nhắc khả năng này: Một người sinh ra đã là công dân Canada đi du lịch nước ngoài, bị giam giữ trái phép, giấy tờ bị lấy mất. Lúc này, anh ta phát hiện ra cách duy nhất để thoát khỏi số phận nghiệt ngã là lẻn lên một con tàu mà anh ta biết là đang hướng về Canada. Chẳng lẽ chúng ta có thể chỉ vì thân phận hiện tại của anh ta là người nhập cư lậu, không có giấy tờ, và vì Bộ Di trú không tổ chức phiên điều trần, không thể chứng minh anh ta có quyền hợp pháp để nhập cảnh Canada, mà cho rằng anh ta không tồn tại sao? Thưa ngài, tôi cho rằng nếu suy luận một cách logic từ quyết định hiện tại của Bộ Di trú, thì sự phi lý này chắc chắn sẽ xảy ra."
Đôi lông mày rậm của thẩm phán nhướng lên. "Có phải cậu đang ám chỉ rằng, khách hàng của cậu, Henry Duval, là một công dân Canada?"
Alan ngần ngại một chút rồi thận trọng đáp: "Đó không phải ý của tôi, thưa ngài. Tuy nhiên, phiên điều trần của Bộ Di trú có khả năng sẽ phát hiện ra anh ta là người Canada, nhưng sự thật này chỉ có thể được xác lập thông qua việc tổ chức phiên điều trần trước." Alan nghĩ, khi bạn biết lập luận của mình không đủ vững, thì dù là một cọng rơm cũng phải nắm chặt lấy.
"Hừm," Thẩm phán Willis nói, trên khuôn mặt ông lần đầu tiên lộ ra một chút bóng dáng của nụ cười. "Đây quả là một lập luận độc đáo, dù có hơi khiên cưỡng. Chỉ có vậy thôi sao, ông Maitland?"
Trực giác mách bảo Alan: Thắng thì nên dừng. Anh khẽ cúi đầu. "Thưa ngài, tôi xin trình bày xong."
Thẩm phán Willis lặng lẽ ngồi trầm tư trước bàn. Nụ cười ngắn ngủi kia đã biến mất từ lâu, khuôn mặt ông như lại bị bao phủ bởi một chiếc mặt nạ u ám. Ông dùng ngón tay phải gõ nhẹ lên mặt bàn. Một lúc sau, ông lên tiếng: "Tất nhiên, còn liên quan đến yếu tố thời gian, đó là vấn đề thời điểm khởi hành của con tàu..."
Alan chen vào: "Thưa ngài, về con tàu đó..." Anh định giải thích việc tàu "Vastvik" chậm trễ ở Vancouver là do sửa chữa, nhưng đột nhiên im bặt. Ngay khi anh vừa ngắt lời thẩm phán, khuôn mặt ông lập tức phủ đầy mây giận dữ, đôi mắt dưới hàng lông mày rậm tối sầm lại. Alan dường như cảm thấy người thư ký ở phía bên kia căn phòng đang trách móc mình. Anh nuốt nước bọt, nói: "Xin ngài tha lỗi."
Thẩm phán Willis lạnh lùng nhìn vị luật sư trẻ, rồi tiếp tục: "Tôi vừa định nói, mặc dù ở đây có vấn đề về giới hạn thời gian, tức là thời điểm khởi hành của con tàu, nhưng điều này tuyệt đối không được ảnh hưởng đến quyền lợi công bằng của con người."
Tim Alan đập loạn xạ. Có phải điều này nghĩa là ông sắp cấp lệnh bảo vệ thân thể không? ... Như vậy anh có thể từ từ tiến hành các thủ tục pháp lý, từng bước một, trong khi tàu "Vastvik" sắp khởi hành, để lại Henry Duval ở đây?
"Tuy nhiên," vị thẩm phán tiếp tục nói một cách bình thản, "như là một chính sách xã hội của chúng ta, để công bằng với công ty tàu biển đó, vì họ cơ bản là người ngoài cuộc vô tội trong sự kiện này, chúng ta cũng cần áp dụng mọi biện pháp khả thi để đẩy nhanh thủ tục pháp lý, nhằm đảm bảo có được mọi kết quả cuối cùng trước khi con tàu rời cảng đúng thời hạn."
Vừa nãy vui mừng quá sớm rồi. Alan chán nản nghĩ, không chỉ Edgar Cramer, mà ngay cả vị thẩm phán trước mắt cũng đã nhìn thấu thủ đoạn trì hoãn của anh.
"Tôi cho rằng sự thật về việc giam giữ trái phép vẫn chưa được xác lập," thẩm phán kéo tài liệu mà Alan chuẩn bị lại phía trước, dùng bút chì đánh dấu lên đó. "Nhưng nó cũng không thể bị bác bỏ. Tôi muốn nghe thêm những lập luận khác. Vì vậy tôi sẽ cấp một lệnh 'Nisi' (Lệnh tạm thời có điều kiện)."
Như vậy là không thất bại, mà là thắng lợi một phần. Một làn sóng nhẹ nhõm dâng lên trong lòng Alan. Đúng vậy, anh không hoàn toàn đạt được điều mình mong muốn, nhưng ít nhất không làm trò cười. Lệnh "Nisi" là một thủ tục pháp lý cổ xưa của Anh, ý nghĩa gốc của nó là "trừ khi". Mặc dù chỉ dựa vào lệnh này vẫn chưa thể thả Henry Duval khỏi tàu để anh ta ra tòa, nhưng nó thực sự yêu cầu Edgar Cramer và Thuyền trưởng Jabeck phải ra tòa giải thích hành vi của mình. "Trừ khi" lập luận của họ — hoặc lập luận của đại diện pháp lý của họ — có thể đứng vững, nếu không lệnh bảo vệ thân thể để thả Duval sẽ lập tức có hiệu lực.
"Ông Maitland, theo kế hoạch dự kiến, khi nào con tàu khởi hành?"
Ánh mắt Thẩm phán Willis đang nhìn chằm chằm vào anh. Alan dừng lại, tự nhủ phải suy nghĩ, lúc này anh mới nhận ra câu hỏi này nhắm thẳng vào mình.
"Theo tôi được biết, thưa ngài, con tàu sẽ còn ở lại đây hai tuần nữa."
Thẩm phán gật đầu. "Đủ rồi."
"Vậy khi nào phiên điều trần về lệnh bảo vệ thân thể sẽ diễn ra, thưa ngài?"
Thẩm phán Willis kéo cuốn lịch bàn lại. "Tôi nghĩ, chúng ta định vào 3 ngày sau. Như vậy có tiện không?" Đây là sự thảo luận bình thường giữa thẩm phán và luật sư, dù luật sư có trẻ đến đâu cũng phải làm theo cách này.
Alan nghiêng đầu. "Tiện, thưa ngài."
"Tất nhiên, cậu còn phải soạn thảo văn bản."
"Nếu ngài muốn xem qua, tôi đã viết xong rồi." Alan mở cặp tài liệu.
"Là lệnh 'Nisi'?"
"Vâng, thưa ngài. Tôi đã dự tính trước khả năng này."
Câu này vừa thốt ra, anh đã hối hận vì sự thể hiện quá trẻ con của mình. Trong điều kiện bình thường, văn bản của lệnh này sẽ được đánh máy vào ngày hôm sau và gửi cho thẩm phán ký. Alan đã dự tính chuẩn bị sẵn một lệnh bảo vệ thân thể để thẩm phán ký tại chỗ, còn Tom Lewis thì khuyên anh chuẩn bị thêm một lệnh "Nisi". Lúc này, Alan không mấy tự tin đặt những tờ giấy đánh máy đã ghim lại với nhau lên bàn thẩm phán.
Biểu cảm của Thẩm phán Willis không thay đổi chút nào, chỉ có khóe mắt hơi nheo lại. Ông lạnh lùng nói: "Nếu vậy thì tiết kiệm được thời gian đấy, ông Maitland, nên tôi đề nghị phiên điều trần tổ chức sớm hơn. Ngày kia thế nào?"
Alan thầm chửi rủa sự ngu ngốc của chính mình trong lòng. Anh không những không thúc đẩy được sự trì hoãn như mong đợi mà còn làm mọi thứ diễn ra nhanh hơn. Anh nghĩ mình có lẽ có thể đòi thêm chút thời gian, nói rằng cần thời gian chuẩn bị. Lúc này anh liếc thấy ánh mắt của người thư ký, thấy ông ta lắc đầu một cách khó nhận ra.
Alan nghĩ thôi bỏ đi, bèn nói: "Được, thưa ngài, ngày kia."
Thẩm phán Willis đọc xong lệnh "Nisi" do Maitland soạn thảo, rồi cẩn thận ký tên vào đó. Người thư ký bước tới, dùng giấy thấm mực để thấm khô, rồi thu lại văn bản. Alan đứng bên cạnh quan sát, nhớ lại kế hoạch về việc chuyển giao quyết định của tòa án mà anh đã sắp xếp từ sớm. Tom Lewis sẽ đến tàu "Vastvik", mang theo bản sao quyết định của tòa án cho Thuyền trưởng Jabeck để giải thích ý nghĩa của nó. Tom vẫn luôn muốn lên con tàu đó, để gặp thuyền trưởng và chính Henry Duval.
Về phần Alan, anh để dành cho mình công việc mà anh cho là một niềm vui đặc biệt: đi đến trụ sở Bộ Di trú, đích thân giao lệnh của tòa án cho Edgar Cramer.
Bóng tối hòa lẫn với hơi ẩm bao trùm lên bến cảng và toàn bộ khu vực trung tâm Vancouver, nhưng tại Tòa nhà Di trú bên bờ biển, đèn trong văn phòng Cục trưởng vẫn sáng.
Edgar Cramer dù tuân thủ nghiêm ngặt giờ làm việc mỗi ngày, nhưng lại hiếm khi kết thúc công việc tại văn phòng đúng giờ. Cho dù là ở Ottawa, Vancouver hay bất cứ nơi nào khác, ông luôn ở lại ít nhất một tiếng sau khi các nhân viên khác đã về, một mặt là để tránh cảnh đông đúc của những người vội vã về nhà, mặt khác là để ngăn chặn việc giấy tờ chất đống trên bàn làm việc. Với tư cách là một công chức chuyên nghiệp, lý do khiến Cramer đạt được thành công đáng chú ý, trong đó có hai nguyên nhân là thói quen làm việc đầu cuối rõ ràng và xử lý giấy tờ kịp thời. Trên con đường thăng tiến của mình bao năm qua, có nhiều người ghét ông, một vài người thậm chí cực kỳ thù hằn, nhưng không một ai có thể tìm ra lý do thích đáng để chỉ trích ông lười biếng hay trì hoãn công việc.
Ví dụ hôm nay có thể minh chứng rất rõ ràng việc Cramer xử lý vấn đề kịp thời và hiệu quả thế nào, sự việc này đã được giải thích trong một bản ghi nhớ, tiêu đề thậm chí còn là "Phân bồ câu". Cramer đã đọc bản ghi nhớ này từ sớm, giờ ông đang đọc bản văn bản đã được in ra. Ngày mai, bản ghi nhớ này sẽ được phân phát cho quản lý tòa nhà và các nhân viên liên quan khác. Ông vừa đọc vừa không khỏi đắc ý gật đầu vì sự mưu trí của mình.
Vấn đề này đã thu hút sự chú ý của ông từ hôm qua. Khi ông xem xét bản dự thảo ngân sách hàng năm của Tổng cục Di trú bờ Tây, ông đã nảy sinh nghi vấn về vài khoản chi phí bảo trì tòa nhà, bao gồm một khoản chi tiêu năm nào cũng có: "Phí vệ sinh máng xối và ống thoát nước mưa" là 750 đô la.
Edgar Cramer lúc đó đã tìm đến quản lý tòa nhà. Đó là một người có cái cổ bò, giọng nói oang oang, thà cầm chổi còn hơn ngồi văn phòng. Ông ta lớn tiếng đáp: "Chết tiệt, ông Cramer, số tiền này chi ra đúng là quá nhiều, nhưng tất cả đều là tại phân chim bồ câu." Khi bị hỏi vặn lại, ông ta bước đến cửa sổ văn phòng chỉ tay nói. "Nhìn lũ khốn đó xem!" Họ nhìn thấy bầu trời bên ngoài đen kịt, hàng ngàn con chim bồ câu đang làm tổ, bay lượn, kiếm ăn bên bờ biển.
"Ỉa, ỉa, 24 giờ một ngày không ngừng nghỉ, như thể chúng ỉa không bao giờ hết vậy," người quản lý càu nhàu. "Và hình như cứ đứa nào muốn đi vệ sinh là lại chạy lên mái nhà chúng ta. Cho nên mỗi năm chúng tôi phải dùng hơi nước áp lực cao để phun rửa máng xối và ống thoát nước 6 lần, chúng lại bị phân chim làm tắc nghẽn. Thật tốn kém, ông Cramer."
"Tôi hiểu vấn đề này," Cramer nói. "Đã áp dụng biện pháp gì để giảm số lượng chim bồ câu này chưa? Ví dụ như tiêu diệt bớt?"
"Chúng tôi từng có ý định bắn chết lũ khốn đó," người quản lý nói một cách u ám, "kết quả là gây ra chuyện lớn. Những người thuộc Hiệp hội bảo vệ động vật hay đại loại thế đều kéo đến. Họ nói Vancouver có một quy định địa phương, không cho phép giết chim bồ câu. Nhưng tôi nói cho ông nghe, chúng ta có thể rắc ít thuốc độc lên mái nhà. Khi chúng đến..."
Edgar Cramer nghiêm giọng nói: "Nên dùng từ 'đại tiện' thì hơn."
Người quản lý nói, "Trong sổ sách của chúng tôi ghi là..."
"Và, vì chim bồ câu được pháp luật bảo vệ," Cramer kiên quyết ngắt lời ông ta, "thì phải tuân thủ pháp luật." Ông trầm ngâm. "Chúng ta phải nghĩ cách khác."
Ông đuổi người quản lý đi, tự mình suy nghĩ kỹ lưỡng về vấn đề đó. Có một điều rõ ràng: khoản lãng phí 750 đô la phải được ngăn chặn.
Sau vài lần thất bại và vẽ vài bản phác thảo, cuối cùng dựa trên một nguyên lý mơ hồ, ông đã thiết kế ra một phương án. Cụ thể, phương án của ông là căng những sợi dây thép trên nóc tòa nhà di trú, cứ cách sáu inch lại căng một sợi, mỗi sợi thép được đỡ bởi vài cột trụ nhỏ cao 6 inch. Nguyên lý ở đây là: chim bồ câu có thể thò chân vào giữa các sợi dây thép, nhưng cánh lại không thể thu vào được. Do đó, khi một con chim bồ câu muốn hạ cánh xuống đậu, sợi dây thép khiến nó không thể khép cánh, buộc nó phải lập tức bay đi.
Sáng nay, Edgar Kramer đã tiến hành thử nghiệm quy mô nhỏ trên mái nhà, kết quả rất lý tưởng. Bản ghi nhớ mà ông đang xem chính là những chỉ dẫn để thực thi toàn bộ phương án của mình. Mặc dù chi phí ban đầu sẽ lên tới 1000 đô la, nhưng nó sẽ tiết kiệm vĩnh viễn khoản chi phí 750 đô la mỗi năm, tiết kiệm tiền cho người đóng thuế, chỉ là rất ít người biết đến chuyện này.
Nghĩ đến đây ông cảm thấy vô cùng mãn nguyện, ông luôn hài lòng như vậy sau khi đã làm việc chăm chỉ. Một điều khác khiến ông hài lòng là luật pháp địa phương đã được tuân thủ, ngay cả chim bồ câu cũng được đối xử công bằng theo quy định.
Hôm nay quả thực không còn gì hài lòng hơn, Edgar Kramer nghĩ. Một lý do quan trọng khác là, số lần ông đi tiểu hôm nay rõ ràng đã ít hơn hẳn. Ông nhìn đồng hồ, đã gần một tiếng đồng hồ kể từ lần đi vệ sinh trước, nhưng ông cảm thấy mình vẫn có thể cố thêm một chút, tuy nhiên ông bắt đầu cảm thấy bàng quang có chút áp lực...
Có tiếng gõ cửa, Alan Maitland bước vào. "Chào buổi tối," anh ta lạnh lùng nói, đồng thời đặt một tờ giấy gấp lại lên bàn.
Sự xuất hiện đột ngột của vị luật sư trẻ này khiến ông giật mình. Edgar Kramer vội vàng hỏi: "Chuyện này là thế nào?"
"Đây là lệnh 'có hiệu lực nếu không có phản đối', thưa ông Kramer," Alan bình tĩnh nói. "Tôi nghĩ ông xem qua sẽ hiểu ngay thôi."
Kramer mở tờ giấy ra đọc nhanh. Mặt ông đỏ bừng vì giận dữ. Ông gắt gỏng: "Chết tiệt, anh có ý gì đây?" Đồng thời, ông cảm thấy chút áp lực trong bàng quang lúc nãy giờ đột nhiên trở nên nghiêm trọng.
Alan rất muốn mỉa mai ông vài câu, nhưng vẫn quyết định không làm vậy. Dù sao thì anh cũng chỉ mới thắng được một phần, hiệp đấu tiếp theo vẫn rất dễ bại trận. Anh đáp: "Ông còn nhớ chứ, khi tôi yêu cầu ông tổ chức phiên điều trần cho vụ án của Henry Duval, chính miệng ông đã từ chối tôi."
Kramer nhất thời cũng cảm thấy kỳ lạ, tại sao mình lại thù ghét vị luật sư trẻ ranh trước mắt này đến vậy. "Dĩ nhiên là tôi từ chối anh," ông đáp trả. "Chẳng có lý do gì để tổ chức phiên điều trần cả."
"Nhưng tôi lại không đồng ý với quan điểm của ông," Alan nhẹ nhàng nói. Anh chỉ tay vào quyết định của tòa án. "Thông qua cái này, tòa án sẽ quyết định là làm theo ý ông hay làm theo ý tôi."
Áp lực trong bàng quang đã khiến ông vô cùng đau đớn. Kramer cố gắng chịu đựng, thở hổn hển nói: "Đây hoàn toàn là việc do bộ quyết định, không cần tòa án can thiệp."
Alan Maitland trở nên nghiêm nghị. "Ông có muốn nghe lời khuyên của tôi không?" anh bình thản nói, "Nếu là tôi, tôi sẽ không nói những lời đó với thẩm phán đâu."