(Theo lời kể của Đại úy Vũ Quang Huy – tức K8)
Trung tuần tháng Hai năm 1979, tôi từ Cao Bằng về Hà Nội. Công việc mà tổ chức giao cho tôi lần này là lo liệu chỗ ở và nơi làm việc lâu dài cho cô giáo Kim Liên (tức chị Bảy) và cháu Tú Hoa. Đó là trách nhiệm của tôi trước cơ quan, mà cũng là trách nhiệm của bản thân tôi với anh Bảy. Tôi đã hứa với trong cái đêm anh vượt biên, tôi phải làm tròn lời hứa trang trọng ấy.
Hai mẹ con chị Bảy đều làm nghề dạy học, nên tôi đã nhanh chóng liên hệ được với cơ quan giáo dục thành phố, bố trí trường lớp cho cả hai người. Còn nhà ở, tôi cũng xin được cho chị ấy một căn hộ trong khu nhà mới xây ở phía nam thành phố, một căn hộ xinh xắn, đủ tiện nghi, lại gần trường học.
Như vậy tôi đã gần như làm tròn trách nhiệm của mình. Đối với loại công việc này, tôi thực hiện không khó khăn cho lắm. Với lại cũng có sự giúp đỡ rất tận tình của các cơ quan đặc trách. Bây giờ tôi chỉ còn mỗi việc là quay lên Cao Bằng đón hai mẹ con chị Bảy dọn về. Một chiếc xe con là thừa đủ…
Lẽ ra việc di chuyển mẹ con chị Bảy đã được tiến hành sớm hơn sau ngày anh Bảy ra đi. Làm sao có thể sống và làm việc dưới những đôi mắt nghi kỵ thậm chí khinh miệt của mọi người. Hơn nữa cũng phải tính đến sự trả thù của bọn địch nếu như chúng biết sự thật về anh. Tôi và anh Tư đã định lo liệu từ sớm nhưng hai người phụ nữ ấy, mỗi người có mối ràng buộc chưa thể đi ngay được. Chị Bảy muốn ở lại thị xã cho đến hết năm học, chị đang là chủ nhiệm một lớp chuyên toán của trường cấp II thị xã, chị không muốn học sinh bị dở dang nửa chừng. Từ nay đến hết năm học chỉ còn một học kỳ nữa, chị muốn tiếp tục công việc miễn là ở trường, người ta còn tin cậy chị… Đó cũng là một lý do khiến việc di chuyển phải chậm lại.
Còn cô gái Tú Hoa là cán bộ giảng dạy của trường cao đẳng sư phạm. Điều làm cho cô chưa muốn rời khỏi nơi đây là do một người con trai. Người yêu của cô, một trung úy đại đội trưởng đại đội pháo cao xạ của Quân khu vừa được điều về bảo vệ thị xã. Đơn vị của anh đóng ngay lưng chừng đồi, cách trường của cô không đầy một ki-lô-mét. Vậy mà cô lại phải ra đi để không bao giờ quay trở lại nơi đây nữa, lại ra đi ngay lúc này?...
☆ ☆ ☆
Đúng ngày chuẩn bị lên Cao Bằng, tôi nhận được cái tin dữ dội – quân đội Trung Quốc đã nhất loạt tiến công sáu tỉnh biên giới phía Bắc. Tôi phóng xe đạp như điên ra ga Hàng Cỏ, người ta cho biết đoàn tàu Lạng Sơn chỉ lên được ga Đồng Mỏ. Thôi thì cứ đi, được đến đâu hay đến đấy, đoạn đường còn lại từ Đồng Mỏ đi tiếp lên Lạng Sơn, rồi từ Lạng Sơn lên Cao Bằng sẽ tính sau…
Tôi quay ngay về cơ quan báo cáo với anh Tư. Anh nói:
– Mình đã điện lên Cao Bằng, trên ấy trả lời cho biết các cơ quan tỉnh và nhân dân thị xã đều sơ tán về hướng Ngân Sơn, Bắc Cạn. Cậu phải đi lối khác mới gặp được chị Liên và cháu Tú Hoa. Đi theo đường Một khó gặp nhau đấy…
Tôi nói luôn:
– Thế thì tối nay em đi tàu lên Thái Nguyên, rồi từ Thái Nguyên lại sang Bắc Cạn đi Ngân Sơn. Nhất định em sẽ tìm được chị ấy và cháu…
– Vậy cậu đi luôn đi… Mọi phương tiện phải tự túc thôi, bám lấy bộ đội mà đi. Xe cộ của cơ quan bị xung công cho mặt trận hết rồi.
– Anh không lo, em có bao giờ dùng xe cơ quan đâu…
Tôi về chỗ ở, thay quần áo. Tôi mặc bộ quân phục dã chiến nhưng lên quân hàm quân hiệu hẳn hoi, cả súng ngắn, cả ba lô nhét đầy bánh mì. Đã lâu lắm tôi mới dùng đến bộ quân phục chính thức của mình. Quá nửa đêm ngày 17, tôi mới tới thành phố Thái Nguyên. Thành phố công nghiệp như không ngủ trong suốt cả đêm hôm ấy. Nơi nào cũng thấy rậm rịch của sự di chuyển nặng nề. Và xe vận tải chở người và súng đạn cứ nhằm phía trước lăn bánh, phía ấy đang là mặt trận…
Tôi xông thẳng đến phòng trực ban của Bộ chỉ huy quân sự tỉnh. Người ta báo cho tôi biết, nếu tôi muốn đi Cao Bằng thì phải có mặt ngay tại gần cầu Gia Bảy. Một tiểu đoàn tự vệ được trang bị đầy đủ sắp sửa hành quân lên chi viện cho Cao Bằng.
Chỉ mới biết có thế, tôi đã vù đi ngay và nhanh chóng tìm đến tiểu đoàn tự vệ. Chính trị viên tiểu đoàn là một người đã đứng tuổi dứt khoát không chịu để cho tôi đi theo đơn vị của anh.
– Ôi chào! Làm sao mà tin vào mấy tờ giấy của anh. Bọn thám báo Trung Quốc nó có đủ cả quần áo, mũ mão y như bộ đội mình, mà giấy tờ cũng không thiếu đâu… Thám báo thì như rươi, thời buổi này làm sao mà phân biệt được địch ta…
Cứ qua khẩu khí của ông ta thì có lẽ ông ta đã bị những luồng tin ngỡ ngẩn nào đó hù dọa, đến nỗi nhìn ai cũng ngỡ là thám báo của địch. Hơn nữa cung cách ấy không phải là dân lính hoặc đã có thời làm lính chiến. Ông ta có thể là bí thư chi bộ của một phân xưởng nào đó, nay được phong làm chính trị viên cái tiểu đoàn tự vệ này… Người như thế làm sao mà đánh giặc được…
Tôi tức đến điên người mà không dám nổi khùng, cố tự kiềm chế và tìm gặp tiểu đoàn trưởng. Số may không nỡ bỏ rơi tôi. Chẳng phải người xa lạ, tiểu đoàn trưởng vốn là lính cũ của tôi ngày xưa, nay đã phục viên về làm thợ đúc. Khi nghe tôi phàn nàn về đồng chí chính trị viên, tiểu đoàn trưởng cười, xin lỗi tôi:
– Thôi anh đừng trách anh ta làm gì. Anh ta mới xây xong căn nhà ở bên Lưu Xá đang sợ máy bay Tàu đến ném bom… Cha này chỉ loanh quanh, chẳng có nghề ngỗng gì hẳn hoi, anh em vẫn gọi lão là Xuân “cung quăng”. Vậy mà xây được nhà gạch, thế mới thánh chứ?
Rồi anh mời tôi lên ngồi ca-bin xe cùng với anh và dọc đường, tôi được hút thuốc và bánh kẹo thỏa sức. Thuốc và bánh của nhân dân ủng hộ anh em ra mặt trận nhiều vô kể.
Khoảng 10 giờ, tôi rời đoàn xe, xuống thị trấn Ngân Sơn. Thị trấn bé nhỏ và ùn ùn những người từ Cao Bằng sơ tán về. Đi chỗ nào cũng đụng phải cơ quan tỉnh. Cả những cơ quan của thị xã cùng dồn về đấy vì vậy tôi nhanh chóng tìm ra nơi tạm trú của cô giáo Kim Liên. Một em học sinh, con gái đồng chí trưởng phòng giáo dục đã dẫn tôi đến một ngôi nhà nằm sâu trong xóm.
– Cô giáo Liên ở đấy chú ạ!
Chị Bảy cảm động đến rân rấn nước mắt khi trông thấy tôi hoàn toàn đổi khác trong bộ đồ quân sự với quân hàm đại úy chững chạc. Thật chẳng giống chút nào với anh chàng Huy lái xe lấc cấc trước kia. Tôi nói với chị Bảy:
– Chị làm em lo gần chết… Em mà không tìm được chị với cháu thì chết với anh Tư, anh Bảy…
– Chú chỉ lo vớ vẩn, hàng vạn con người làm sao mà chết được…
– Thế cháu đâu, Tú Hoa có đi theo chị không?
Chị Liên lắc đầu:
– Tôi đang sốt ruột sốt gan vì nó, chú ơi! Nó nhất định đòi ở lại chiến đấu, nó bảo nó là tự vệ, là đoàn viên không thể đi sơ tán… Nó bảo tôi cứ yên tâm, nó không sao cả… Con bé ương ngạnh lắm, mà nó nói như vậy, chú bảo tôi làm sao được? Chẳng lẽ lại cứ bắt buộc nó đi theo mẹ…
– Chị đừng lo, chiều nay em đi tìm cháu…
– Sao, chú lên Cao Bằng ngay?
– Vâng, em phải đi tìm Tú Hoa… xem nó sống ra sao? Ở đó chưa có chuyện gì đâu, chúng nó chưa tiến được vào thị xã…
– Trời ơi, chị cảm ơn em nhiều lắm… Thôi, chú ngồi nghỉ, chị đi nấu cơm cho mà ăn. Trưa rồi…
Sau này chị kể lại với tôi rằng lúc ấy khi chị ở dưới bếp lên đã thấy tôi đang ngủ. Anh chàng đại úy cứ ngồi trên ghế mà ngủ rất ngon lành, khiến chị vừa thương vừa buồn cười…
Quanh quẩn mãi ở Ngân Sơn, mãi đến tối khuya, tôi mới bám theo một đơn vị đặc công hành quân lên Cao Bằng. Thế là thêm một đêm nữa thức trắng. Suốt buổi chiều ở Ngân Sơn, tôi đã được nghe nhiều nguồn tin loan truyền về tình hình địch. Kẻ thì nói rằng quân Trung Quốc đã vào được thị xã Cao Bằng. Người lại bảo cầu Tài Xìn Hồ đã bị bọn Tàu chiếm rồi, chúng giật mìn phá tung chiếc cầu sắt ấy, ngăn không cho quân ta tiếp viện lên. Rồi chỗ nào cũng có chuyện bắt thám báo, thám báo lẻn cả vào tận bếp ăn của bộ đội, chuyện bọn sơn cước gồm toàn người Hoa dẫn đường cho lính Tàu đi từng nhà chủ tịch, bí thư để đốt phá… Mọi luồng tin đan chéo, chồng chất lên nhau làm nhiễu loạn cả lên…
Nhưng tôi vẫn cứ quyết tâm về Cao Bằng, ở đó có một người con gái của đồng chí mình đi xa cần được bảo vệ. Và tôi hành quân cùng với đại đội đặc công của Quân khu về được tới nơi thì trời hửng sáng. Thị xã vẫn còn nguyên vẹn. Quân Trung Quốc vẫn còn ở xa, nhưng thị xã hoang vắng tưởng không còn sức sống. Tôi vẫn quân phục, quân hàm chững chạc đi dọc mấy đường phố chính, say sưa ngắm từng gốc cây cột điện, từng căn nhà đã gắn bó với tôi từ bao năm nay.
Thị xã nằm lọt giữa thung lũng, gọn ghẽ như một chiếc bánh nằm trong lòng chảo. Chung quanh là những dãy đồi trồng đầy sở bao bọc. Mùa xuân, hoa nở trắng xóa như những bông tuyết bám trên cành và lá tả rụng trên thảm cỏ xanh.
Cuối cùng thì tôi cũng tìm ra được người chỉ huy tự vệ của thị xã. Nói tới Trương Tú Hoa, anh ta gật đầu:
– Có, tôi biết. Tối qua cô ấy còn tập trung ở đây để nhận súng và đạn… Chính tôi đã quyết định cấp phát vũ khí và lương thực cho cô ấy, mặc dù nhiều người can ngăn tôi. Họ bảo nó là người Hoa. Tôi bảo đúng nó là người Hoa, nhưng có phải tất cả người Hoa đều xấu bụng đâu. Cô ấy là người Hoa tốt, phải không đồng chí đại úy?
– Đúng, đồng chí nghĩ như vậy, xử sự như vậy là rất đúng. Tôi hoàn toàn nhất trí. Đấy là một cô gái tốt, rất tốt, rất trung thành với Tổ quốc Việt Nam.
– Phải rồi, bố nó bỏ trốn là tội của bố nó chứ. Ai làm người ấy chịu. Việc gì mà quá nghi ngờ nó… Tôi nói vậy đấy…
– Hiện nay cố ấy ở đâu?
– À… nó đi cùng tiểu đội lên phối hợp với đơn vị cao xạ băm bảy ở gần trường sư phạm… Ngay trên sườn đồi phía đông nam kia… Đó, đứng ở đây đồng chí có thể nhìn thấy trận địa, đồng chí thấy chứ?
Tôi gật đầu, rồi vội vã từ biệt đồng chí chỉ huy tự vệ sáng suốt và nhanh nhảu ấy, đeo ba lô ra đi. Vừa bước trên đường phố vắng, tôi vừa cố nhớ họ và tên anh chàng trung úy, người yêu của Tú Hoa. Chắc hản anh ta đang chỉ huy đại đội cao xạ đóng ngay ở đó… Tên là gì nhỉ? Tú Hoa đã có lần nói chuyện với tôi… Là gì nhỉ? À… phải rồi, Phong, cậu ta tên là Phong, Nguyễn Xuân Phong… Gió xuân, hay thật đấy! Mùa này, trời đất đang hây hẩy gió xuân. Mấy ngày nay, thời tiết ấm dần, tạnh ráo, đỡ khổ cho anh em chiến sĩ và bà con mình nơi sơ tán…
Tôi leo lên được trận địa ca xạ băm bảy ly, đúng lúc anh em bắt đầu ăn bữa cơm sáng. Mỗi chiến sĩ một chiếc cặp lồng đựng cơm và thức ăn, anh thì ngồi ngay trên mâm pháo, anh bệt đít trên công sự, có anh vừa ăn vừa đi loăng quăng, mồm miệng như tép nhảy. Tôi cũng nhận thấy có cả mấy cô cậu tự vệ lẫn trong đám ấy…
Khi tôi bước tới nơi, một chiến sĩ nhanh nhảu mời:
– Mời thủ trưởng dùng cơm với anh em…
– Cám ơn, các đồng chí cứ ăn đi, mình ăn rồi… À, cậu cho mình hỏi trung úy Phong có đây không?
– Có đấy ạ, thủ trưởng em đang ăn cơm với cánh tự vệ kia ạ… Đấy thủ trưởng nhìn xem, cái ông cao to và đẹp trai nhất là thủ trưởng Phong của chúng em đấy…
– À phải, mình thấy rồi. Trông thì có mã đấy nhưng chỉ huy ra sao?
– Chưa biết thế nào, thủ trưởng ạ. Còn đợi thử lửa đã mới biết nhưng thường ngày đối với lính tráng chúng em thì tốt đấy, cũng đùa tếu như ai. Chỉ phải cái, bố ấy nguyên tắc lắm. Sĩ quan mới bóc tem ở trường ra mà, điều lệnh hắc lắm…
Tôi cười rồi từ biệt chàng lính trẻ lém lỉnh, đi thẳng tới chỗ đám đông. Trong đám tự vệ quần áo màu xanh đủ kiểu ấy bỗng bật ra tiếng gọi:
– Chú Huy! Chú Huy!
Một cô gái chạy lại. Đúng là Tú Hoa rồi.
– Làm sao chú biết cháu ở đây?
– Biết chứ! Chú cứ tìm đến trận địa băm bảy là thấy cháu mà…
Tú Hoa đỏ mặt, lườm tôi. Rồi cháu dẫn tôi đến giới thiệu với mọi người. Tôi bắt tay Phong, anh chàng cao lớn khỏe mạnh chỉ huy đại đội pháo cao xạ này. Phong đứng nghiêm rất đúng lễ tiết và báo cáo rất đúng điều lệnh:
– Báo cáo đồng chí đại úy, tôi trung úy Nguyễn Xuân Phong, đại đội trưởng…
Rõ là một sĩ quan mới bóc tem vừa được ra lò như cậu chiến sĩ nói lúc nãy. Tuy vậy tôi rất mến cái dáng vẻ quân sự của Phong. Tôi chào lại và nói:
– Tôi đại úy Vũ Quang Huy, sĩ quan Bộ Tổng tham mưu. Xin lỗi đồng chí Phong nhé. Tôi đến đây có chút việc riêng với cháu tôi là Trương Tú Hoa…
Không hiểu sao sắc mặt của Phong cũng đỏ rực lên. Lát sau chỉ còn lại tôi và Tú Hoa. Tôi đưa cho cháu bức thư của anh Tư và thư của chị Bảy giục cháu phải theo ngay tôi về Hà Nội.
Cô gái xịu mặt xuống, lâu lâu mới nói:
– Cháu rất chịu ơn sự săn sóc của chú Tư và chú… Nhưng nếu chú ở vào địa vị của cháu, thì chú có bỏ nơi này mà đi không, nhất là trong khi bọn Tàu đang tiến công chúng ta ở các nơi. Chúng nó rục rịch tiến đánh vào thị xã… Chú đừng nghĩ là cháu muốn ở lại vì có anh Phong…
– Không, chú không nghĩ về cháu như vậy… Mà chú cũng không có quyền để cháu ở lại đây. Chú lên đây theo lệnh của chú Tư, tìm và đón cháu với mẹ cháu về Hà Nội…
– Vậy chú cứ coi như không tìm thấy cháu…
– Làm sao có thể “cứ coi” như vậy được…
– Chú nán cho cháu ở lại vài ngày…
– Cũng không thể được…
– Vậy hết ngày hôm nay, được không chú Huy?
Cô gái hạ dần yêu sách xuống. Tôi ngẫm nghĩ và gật đầu.
– Hết ngày hôm nay thì có thể chấp nhận, mà quyền hạn của chú cũng chỉ có thể chấp nhận được đến thế… Chú giao hẹn nhé, đêm nay hoặc sáng sớm mai, hễ chú liên hệ được xe thì hai chú cháu cùng đi… Tú Hoa này, dễ cháu nghĩ rằng chú không muốn ở lại thị xã trong lúc khó khăn này sao? Chú đã lên đây sau ngày ba mẹ cháu mới lên và cháu còn bé tí, chẳng lẽ chú không có gì gắn bó với thị xã? Mười hai năm rồi, chú đã quá quen thuộc với tất cả, mọi đường ngang lối tắt, mọi người dân sinh sống ở đây. Chú là con người chứ có phải gỗ đá? Lúc thị xã bình yên thì mình ở, lúc có chiến sự mình lại bỏ đi. Chẳng lẽ chú lại quá tồi tệ như vậy sao? Nhưng chú là một sĩ quan phải đặt nhiệm vũ lên trên hết, phải gác tình riêng vì nhiệm vụ chung, cháu hiểu chứ?
Thế là chú cháu chúng tôi đã thỏa thuận sẽ ở lại đây hết ngày hôm nay. Mà biết đâu hôm nay chúng tôi chẳng được đón tiếp các vị khách “thiên triều” đến thị xã chúng tôi. Đây là một trong những mục tiêu đánh phá chủ yếu của chúng trong đợt tiến công này. Tôi đã nghe rất nhiều tiếng nổ vang động chung quanh thị xã. Chúng đã bắn không tiếc đạn đủ các loại pháo lớn nhỏ, kể cả hỏa tiễn H 12. Quân Trung Quốc cậy động người, nhiều của mở cuộc hành binh trừng phạt ở khắp sáu tỉnh biên giới, hòng cứu nguy cho bọn tay sai của chúng ở Campuc hia. Chúng muốn kéo chủ lực của ta từ phía tây nam quay về đối phó với cuộc tiến công của chúng, để cho bọn tàn quân Pôn Pốt có cơ hội ngóc đầu dậy…
Mặc dù đã dự đoán trước thế nào địch cũng tiến đánh vào thị xã, nhưng chúng tôi không nghĩ rằng chúng nó đánh sớm như vậy, tuy rằng đây mới chỉ là một mũi thăm dò…
Lúc đó vào mười bốn giờ, tôi đang ngồi nói chuyện với Phong ngay trên bờ công sự. Anh phàn nàn rằng khó lòng mà đơn vị cao xạ của anh có dịp lập công. Bọn Tàu lấy đâu ra máy bay chiến đấu để oanh tạc mình, nó đâu phải là thằng Mỹ. Vậy mà cấp trên vẫn cứ điều đại đội của anh về nằm ở đây. Súng cao xạ, làm sao có thể đánh nhau với bộ binh được?
Tôi nói đùa với anh ta:
– Thị cậu hãy tìm cách chúc nòng xuống mà bắn vậy? Bắn được không?
Đại đội trưởng cao xạ gật gù:
– Kể ra mình bố trí trên đồi cao cũng có thể chúc nòng xuống mà bắn được đấy. Nhưng ở trường người ta không hề dạy chúng tôi bắn kiểu cách ấy…
Tôi cũng tưởng nói đùa chơi chơi với nhau thế thôi. Ai ngờ mà không lâu nữa, những khẩu pháo cao xạ băm bảy ly đã phải nổ súng theo đúng kiểu cách đấy và đã thu được kết quả tốt… Đó là chuyện về sau. Lúc đó có một người nào đó kêu lên:
– Xe tăng kìa…
Mấy người nhổm lên thành công sự, che mắt nhìn xuống con đường nhựa chạy từ cầu xi-măng về thị xã. Có hai vật gì đang di động trên đường cái, hai chiếc xe tăng, chiếc nọ cách chiếc kia chừng dăm chục mét.
– Xe tăng của ta…
Một người tinh mắt nói to. Trung úy Phong giơ ống nhòm và chính anh cũng nói:
– Xe tăng của ta anh ạ! Quái nhỉ, sao lại có xe tăng của ta từ phía ấy chạy về?...
Anh trao ống nhòm cho tôi, tôi nhìn về đường cái. Hai chiếc xe tăng chạy rầm rầm, nghiến xích trên mặt đường. Sườn xe đều có sơn ngôi sao vàng nền tròn đỏ và tháp xe, lá cờ đỏ sao vàng bay phấp phới. Trên tháp xe đi đầu, tôi còn nhìn rõ một người đeo AK ngồi giữ lấy cán cờ…
Một mối ngờ vực gieo vào lòng tôi. Tôi được nghe nhiều chuyện về bọn Tàu thường đóng giả làm bộ đội ta để tập kích bất thình lình. Tôi bảo Phong:
– Cẩn thận, bọn nó ngụy trang giả là mình đấy. Đồng chí cho anh em về vị trí sẵn sàng chiến đấu…
– Rõ!
Và Phong lệnh cho mọi người về vị trí. Tôi liếc nhìn tiểu đội tự vệ, mấy cô mấy cậu đang tỳ súng lên chiến hào căng mắt ngó xuống đường…
Đúng là xe tăng Trung Quốc đóng giả thật. Chạy đến đầu thị xã, cả hai dừng lại và bắn đại bác vào dãy phố hai bên đường. Tôi nghe có nhiều tiếng súng con, tiểu liên và cả đại liên từ nhiều phía bắn lại. Nhưng đối với hai khối thép khổng lồ ấy, các cỡ đạn của bộ binh đều không làm cho chúng bị xây sát.
Hai chiếc xe lại rùng rùng chuyển xích. Tôi hỏi Phong:
– Có B 40 không?
Phong lắc đầu:
– Đại đội tôi đến đại liên cũng chẳng có, lấy đâu ra B 40…
– Bên tự vệ có không?
– Không, bên ấy toàn CKC…
Như vậy thì không cách gì đánh lui được hai chiếc xe tăng kia. Chiếc đi đầu chạy thêm một trăm mét nữa thì dừng lại trước một hiệu ảnh. Tôi biết đó là hiệu ảnh của Voòng Cắm Sềnh. Tên cắm cờ ban nãy khi bị súng bộ binh của ta bắn, nó chui tọt vào xe, nay lại từ trong xe chui ra. Ngọn cờ không còn nữa, tháp pháo xe quay tròn và bắn liên hồi vào các trận địa trên sườn đồi…
Tôi thoáng trông thấy một bóng người từ trên nóc xe tăng tụt xuống đường. Nó lom khom chạy vọt vào trong hiệu ảnh… Hình như có ai kêu to điều gì đó và bên tôi, đại đội trưởng đang ra mệnh lệnh. Các chiến sĩ í ới gọi nhau và khi nhìn lại đã thấy ba cái nòng cao xạ dài nghêu từ từ hạ xuống. Câu chuyện đùa vui ban nãy lúc này đang được Phong thực hiện. Anh trực tiếp lấy phần tử bắn và giơ cao cờ phất mạnh cho cả ba khẩu pháo nổ súng nhất loạt, mỗi khẩu bắn liền năm phát… Mười lăm trái đạn cùng một lúc bay đi, nhằm thẳng chiếc xe tăng đi đầu đang đỗ trước hiệu ảnh của lão Cắm Sềnh. Ít ra thì cũng có vai ba viên trúng đích. Chiếc xe tăng rùng lên một cái như bị lay mạnh và một luồng khói bốc ra mờ mờ đen đặc. Tháp pháo nổ tung, khó từ đó chui ra ngày một nhiều. Và cũng từ đó, ba bốn tên địch cuồng cuồng vọt ra khỏi xe. Chúng la hét, kêu la điều gì đó và chạy vội về phía sau, nơi có chiếc xe tăng thứ hai đang đậu. Chúng nhảy cả lên nóc xe và nằm bẹp xuống. Ba cái nòng cao xạ chuyển làn về chiếc thứ hai, một loạt đạn xé gió lao tới. Nó hốt hoảng, vội bỏ mặc đồng đội bị trọng thương, cuốn xích lùi lại và thoắt một cái, nó dùng một bên xích làm trụ quay ngoắt lại, chạy biến.
Chiếc xe thứ nhất bắt đầu phụt ra những lưới lửa. Lửa lem lém cháy trên mình nó. Còn lúc ấy, tôi vẫn theo dõi cánh cổng nhà Cắm Sềnh, chờ đợi tên địch vừa chui tọt vào đó quay lại. Mà nó quay ra thật, lần này tay nó cầm vật gì trăng trắng như lá cờ. Nhìn thấy chiếc xe bốc cháy, nó đứng sững lại và giật lùi ra xa. Một tiếng nổ rất lớn rồi tiếp những tiếng nổ khác bung ra, có lẽ những trái đạn đại bác trong xe bén lửa.
Tôi vẫn bám chặt lấy tên địch đang rúm lại trước cửa nhà Cắm Sềnh. Khoảng cách giữa nó và chiếc xe tăng cháy không xa nên khi đạn nổ, tôi thấy nó loạng choạng – có lẽ nó bị mảnh đạn văng phải – tựa vào cây cột trước hiên nhà. Nó khuỵu xuống và nằm vật ra. Cái mảnh trong tay nó văng sang một bên, bị hơi lửa tạt lại bay lất phất như tàu lá chuối khô…
Buổi chiều, đại đội trưởng Phong cùng các khẩu đội trưởng kéo nhau xuống phố. Họ đứng vây quanh chiếc xe tăng cháy, kiểm tra hiệu quả của mấy loạt đạn cao xạ. Mấy anh bộ đội cười nói nhộn nhạo. Mới chỉ thử sức chơi chơi như vậy mà thằng địch đã phải để lại cả cái khối thép đen xì nằm chềnh ềnh ra đó.
Tôi và Tú Hoa đi theo anh em. Chúng tôi đứng trước cửa nhà Cắm Sềnh, ngôi nhà quen thuộc cũ. Xác tên địch nằm còng queo ngay đó, nơi trước kia có treo hai khung kính lớn lồng các thứ ảnh mẫu. Chúng tôi nhận ra người quen cũ. Voòng Chuýn, người con trai độc nhất của lão thợ ảnh, gã thanh niên đã có một thời mơ tưởng đến cuộc sống huy hoàng vương giả ở Hồng Công, Úc và Ca-na-da. Bây giờ thì gã nằm sóng sượt ngay trên mảnh đất đã sinh ra và nuôi dưỡng gã từng ấy năm trời. Gã nằm đó, ruột thòi ra một đống đen đặc và tanh lợm, khuôn mặc xưa kia đẹp đẽ, thanh tú nay biến dạng hẳn. Mái tóc dài của gã không còn nữa, nó bị gọt trọc, ngắn cũn và lởm chởm như cái đầu ông sư phá giới. Ai đã biến gã thành một tên biệt kích chuyên dẫn đường cho bọn giết người?
Chúng tôi phỏng đoán là khi theo địch về tới nhà, gã vội nhảy xuống để tìm kiếm cha mẹ gã. Nhưng ngồi nhà này chẳng còn ai hết. Cha gã đang nằm trong trại giam và mẹ gã đã theo mọi người sơ tạn về đâu chẳng biết. Di vật mà xưa kia bố gã thường nâng niu là bức tranh Quan Công “thân tại Tào doanh, tâm tại Hán”. Gã vào nhà thấy bức tranh đã vơ vội rồi chạy ra ngoài để đón nhận cái chết từ mấy trái đạn của lính Trung Quốc. Bức tranh vẫn nằm bên xác gã, nó bị rách mướp và hoen ố vết máu.
Hoặc có thể chính Lưu Nghị đã sai Voòng Chuýn về nhà lấy bức tranh mà hắn vẫn hi vọng bản sơ đồ bí mật còn được giấu kín bên trong. Vậy thì gã chính ủy này cũng có thể cùng ngồi với Voòng Chuýn trong chiếc xe tăng bị bắn cháy. Hắn đã trốn khỏi cái chết trông thấy.
Đây mới là trận thử sức đầu nên hắn trốn thoát. Cuộc chiến đấu này chưa chấm dứt, liệu hắn còn có thể trốn thoát mãi ư? Tôi nghĩ rằng đến một ngày nào đó, tên biệt kích nguy hiểm ấy và đồng bọn của hắn sẽ phải trả giá trên những tội ác mà chúng đã gây ra cho các dân tộc sống trên bán đảo này…
Mùa xuân 1986
HẾT