Vào khoảng nửa đêm, một chiếc xe com-măng-ca đợi tôi ở bên kia cầu xi măng, gần cây đa “hộp thư chết” trước kia. Tôi khoác tấm vải nhựa trùm kín cả đầu, lóp ngóp đi trong mưa. Mưa phùn rơi rả rích và tê buốt. Tôi cảm thấy cái rét chui qua áo quần vào hẳn ruột gan khiến hàm răng tôi không ngớt va nhau mặc dù tôi cố nghiến thật chặt. Đột nhiên tôi bỗng nhớ lại một đêm mưa rét giống như đêm nay, cách đây mười hai năm, tôi cũng lóp ngóp đi một mình trong tối tăm để đóng vai một kẻ khác, bắt liên lạc với đồng bọn. Bây giờ, vẫn vai trò ấy, tôi là một “tên điệp viên” bị lộ đang chạy trốn về nước. Ngày mai, ngày kia rồi tuần sau, tháng sau, năm sau, tình hình sẽ ra sao, số phận của tôi sẽ ra sao, tất cả hoàn toàn lệ thuộc vào bản lĩnh, mưu trí và tinh thần chiến đấu của tôi. Suốt bao nhiêu năm, tôi nhập vai một kẻ khác, nhưng tôi vẫn sống ngay trên Tổ quốc mình, sống trong vòng tay bảo vệ của các đồng chí mình. Mười hai năm trước, trong đêm mưa rét, tôi lặn lội một mình đi tìm Tạ Quán Thiên – ông “anh Cả” trưởng nhóm của tôi, tôi vẫn nhận thấy bên cạnh tôi là đồng đội, bóng dáng và hơi thở của Huy vẫn phảng phất quanh tôi. Từ đêm nay trở đi, tôi hoàn toàn bị cô lập, độc lập tác chiến, tự mình chỉ huy mình, tự mình ra lệnh cho mình thi hành. Thành hay bại đều trực tiếp chi phối số phận của mình, tôi có thể đàng hoàng sống trong hang sói, có thể bưng tai bịt mắt được họ, khiến họ hoàn toàn tin cậy vào mình nhưng – điều này không dám nói trước, chỉ vì một sở hở rất nhỏ cũng có thể tôi bị lộ, bị bắt, thậm chí bị giết chết. Đối phương chẳng bao giờ chịu nương nhẹ tôi, nếu như họ biết được tung tích của tôi… Ai sẽ là người báo tin cho anh Tư, cho tổ chức? Ai sẽ là người báo tin cho vợ con tôi? Có thể tôi sẽ chết âm thầm, ngã gục ở một nơi nào đó trên mảnh đất mênh mông rộng lớn kia… Trận đánh sẽ thất bại bởi người chiến sĩ duy nhất là tôi đã không còn nữa…
Thật ra, kế hoạch “chạy trốn” của tôi là do tôi tự đề xuất nằm trong phương án chung. Anh Tư cũng như cấp trên chưa bao giờ một lần gợi ý với tôi. Tự tôi nghĩ ra và bản thân tôi rất tâm đắc về kế hoạch ấy. Tôi đã suy nghĩ trong nhiều đêm thao thức khi anh Tư giao trách nhiệm lập phương án tối ưu. Tất nhiên là cái tổ chức gián điệp cùng với đám dây mơ rễ má của nó phải bị tiêu diệt. Đó là mục tiêu trước mắt của chúng ta, nhưng về lâu về dài, phải làm sao ngăn chặng được những cái vòi độc của con bạch tuộc khổng lồ kia không được với sang ta.
Voòng Cắm Sềnh bị bắt, rồi “anh Cả” của lão cũng phải bị bắt, đến cả Trương Đạt cũng bị bắt nốt thì vai trò của tôi coi như kết thúc, kết thúc cả bao nhiêu năm chúng tôi mai phục nằm chờ. Tôi sẽ được ra công khai, sẽ được sống thoải mái đầy đủ hạnh phúc bên vợ, con, bè bạn và nhân dân. Từ bao năm, tôi chỉ mong được sống như thế, và vợ tôi, con gái tôi cũng mong được niềm hạnh phúc rất bình dị đến như thế… Nhưng còn lợi ích lâu dài của Tổ quốc? Chính vì lợi ích thiêng liêng, vì sự nghiệp cao cả của Tổ quốc mà hàng triệu người con đã hy sinh trong suốt ba mươi năm chiến tranh và tương lai sẽ còn nhiều người nữa cũng phải hy sinh. Dân tộc ta, đang sống bên một vị láng giềng khó tính, tham lam, thiển cận và đầy hiểm độc. Cây muốn lặng nhưng gió chẳng dừng…
Tôi suy nghĩ, tính toán và tự tôi vạch ra kế hoạch “chạy trốn” cho tôi.
Anh Tư nghe tôi trình bày, sắc mặt anh tư lự không nói năng gì cả. Mãi sau anh mới hỏi:
– Cậu đã suy tính hết nhẽ chưa?
– Tôi đã suy nghĩ nhiều lắm rồi. Từ lâu chúng ta muốn cài người sang đó mà chưa có cách … Tại sao bây giờ lại không thực hiện… Chúng ta đang có thời cơ… Bỏ qua thì phí quá, anh Tư.
Anh Tư cúi nhìn xuống trang giấy như muốn tìm kiếm vật gì đó ẩn náu giữa những dòng chữ của tôi. Rồi anh ngẩng lên, chớp chớp mắt sau sau gọng kính trắng:
– Còn chị ấy và cháu? Cậu sẽ phải xa cách lâu dài, thời gian chưa biết bao giờ mới gặp nhau… Bọn mình có trách nhiệm chẳng những với cá nhân cậu mà cả với chị ấy và cháu Túa Hoa… Mình không thể quyết định vấn đề này được, mình phải hỏi ý kiến các anh ấy.
Tôi nhìn lại anh rồi nói tiếp:
– Tôi đâu có phải gỗ đá, anh Tư. Tôi cũng là con người, yêu vợ thương con, muốn sống bên gia đình vợ con. Tuổi tôi cũng không còn trẻ trung gì nữa, trên năm mươi rồi… Nhưng vì lợi ích của cách mạng và tôi thấy cần phải đặt lợi ích cách mạng lên trên… Với lại, anh Tư ạ, hồi đánh Mỹ, biết bao đồng chí ở ngoài Bắc này vào chiến trường miền Nam. Có mấy ai nghĩ trước được ngày trở về… Mà thôi, mọi việc nếu cứ tính mãi cũng chẳng giải quyết thêm được gì. Chẳng có cái gì trọn vẹn cả anh Tư ạ, cái được và cái mất, biết thế nào mà suy đi tính lại…
Anh Tư không nói thêm điều gì. Anh về Hà Nội hai ngày. Khi quay lên gặp tôi, tôi thấy anh có vẻ bứt rứt thế nào ấy, vẻ như có lỗi với tôi… Tôi chủ động nói trước với anh:
– Tôi đã nói hết với nhà tôi và cháu rồi, Anh Tư ạ!
– Cậu nói chuyện gì? – Anh Tư hỏi, giọng hơi thảng thốt.
– Tôi nói về kế hoạch “chạy trốn” của tôi ấy mà… Tôi đã giải thích, đã động viên và an ủi cả hai mẹ con…
– Chị ấy và cháu thế nào?
– Tất nhiên là buồn lắm, nhưng đều bình tĩnh và an tâm. Dù sao thì từ ngày hiểu rõ công việc của tôi; vợ tôi và cháu đều tỏ ra cứng cáp hơn trước rất nhiều. Và, tin rằng, nếu tôi đi xa thì ở nhà vẫn có các anh giúp đỡ….
Anh Tư lẳng lặng nhìn tôi và nói:
– Phương án của chúng mình đã được cấp trên chấp nhận không thay đổi một chi tiết gì cả, chỉ có quy định ngày giờ nổ súng mà thôi… Đây, cậu ngồi mà đọc lại phương án đi…
Anh rút cặp lấy ra một tập giấy mỏng đưa cho tôi. Đó là toàn bộ phương án được đánh máy rất sạch sẽ. Ở bìa ngoài có dòng chữ lớn:
“Phương án M x 1” với cái dấu “Tối mật” đỏ chói. Bên dưới có mấy dòng tiếp theo: “Tác giả phương án: Trung tá Lê Chí Phúc (K7). Người thuyết trình: Đại tá Trần Hữu Quân (Tư). Người duyệt cuối cùng: Thiếu tướng…”
Anh Tư đi sang phòng bên để lại tôi một mình với tác phẩm của tôi. Tôi lặng lẽ đọc lại từng dòng. Đây là tất cả công sức không riêng của cá nhân tôi mà của chung trong nhóm: tôi, anh Tư và Huy. Tất cả mọi ý nghĩ được hiện ra minh bạch rõ ràng trên trang giấy, bằng những dòng chữ đánh máy đều tăm tắp giống như những hình người xếp hàng tuần tự và lặng lẽ lướt đi dưới mắt tôi. Chưa bao giờ ý nghĩa của những con chữ lại nổi lên sinh động như vậy và nhờ đó, tôi biết rằng mọi chi tiết đều rất ăn khớp với nhau, giống như những bánh xe răng của một cỗ máy, không có một chi tiết nào bị kênh lên hoặc bị thừa…
Vậy thì việc tôi “chạy trốn” còn gì phải băn khoăn suy tính nữa.
Vừa nãy tôi thuật lại với anh Tư cuộc nói chuyện của tôi với vợ và con gái tôi vẻ như rất đơn giản. Thật ra không đơn giản chút nào, ngay bản thân tôi khi ngồi trước vợ và con, tôi thấy lúng túng mãi mới nói ra mọi suy nghĩ của mình. Đúng là đêm ấy, chúng tôi nói bằng lời rất ít. Nhưng nhìn vào thái độ từng người, tôi biết ngay cả tôi nữa cũng đều tự kiềm chế mình, tránh không bộc lộ tình cảm thật và nghĩ thật của mình trước sự biến động lớn lao này. Người nó muốn nâng đỡ tình cảm cho người kia. Người ở lại làm vẻ thật bình tĩnh và yên tâm để yên lòng người ra đi. Và người ra đi cố làm nhẹ những khó khăn nguy hiểm đang chờ mình ở phía trước, để giảm bớt mối lo âu cho người ở lại. Và chúng tôi đều đạt được mục đích, chúng tôi đều mang niềm tự hào về mình, về người thân của mình, xác định được – tuy bằng lý trí – trách nhiệm của mình và gắng làm tròn trách nhiệm đó…
Đêm ấy, tôi ôm hôn vợ tôi, ôm hôn con gái tôi, tôi lặng lẽ lên đường. Tôi không dám nói một lời nào hết, bởi vì một lời nói lúc này đều không đủ mà hàng nghìn câu nói cũng không thể đủ được… Tôi lặng lẽ ra đi trong đêm mưa, đi mà không quay đầu nhìn lại. Ấn tượng suốt những năm tháng tiếp theo của tôi là hình ảnh vợ tôi và con tôi, những khuôn mặt điềm tĩnh, những nụ cười buồn, những đôi mắt có ngấn nước, hai bóng phụ nữ trong căn phòng vô cùng quen thuộc lờ mờ trong ánh đèn dầu… Tất cả sẽ theo tôi mãi mãi…