Tối hôm ấy tôi đi nằm rất sớm nhưng không sao chợp mắt được. Tôi cố ghi nhớ lại mọi điều cần thiết để chuẩn bị cho cuộc gặp gỡ kỳ thú đêm nay. Chuyện xảy ra đã mười mấy năm rồi, khi tôi còn công tác ở Khu 5.
Hồi ấy, sau khi giải phóng lục địa không lâu, ở Trung Quốc người ta đã nghĩ đến chuyện phát triển ảnh hưởng của họ xuống các nước phía Nam và Đông Nam Á. Người ta đã tính đến một lực lượng đặc biệt khá hùng hậu của họ đang nằm rải rác ở các nước lân cận, đó là những Hoa kiều đang làm ăn sinh sống ở Việt Nam, Lào, Thái Lan, In-đô-nê-xi-a, v.v… Họ muốn biến những kẻ tha phương đó thành đội quân thứ năm, hoạt động trong lòng đối phương, trước hết là nắm các nguồn kinh tế chủ yếu rồi nắm các xu hướng chính trị, cột chặt các bè bạn láng giềng vào chính sách chung của họ…
Một loạt các tình báo viên được cử đi để làm nhiệm vụ “nắm” đội quân thứ năm đó. Trong số vào Việt Nam lúc ấy có một anh tình báo trẻ tuổi. Tại sao lại trẻ tuổi? Chính là vì những người đó sẽ phải cắm lâu dài, có khi cả đời người để chuyên tâm hoạt động. Muốn trồng một loại cây mới trên mảnh đất khác, không ai đem trồng cái cây đã quá lứa, người ta phải trồng cây non. Có vậy mới sống lâu và rễ cắm mới sâu, cành lá mới tỏa ra kín đất…
Người tình báo trẻ tuổi kia đã vào Việt Nam bằng con đường hợp pháp, anh ta theo đường biển lọt được vào cảng Hải Phòng, đóng vai con trai một thương gia lớn ở Hồng Công. Hồi ấy, Hải Phòng cũng như các thành phố khác ở Việt Nam đều còn nằm trong vùng tạm chiếm của quân đội viễn chinh Pháp. Một người Trung Hoa dân quốc đến Hải Phòng không làm cho chính quyền chiếm đóng nghi ngờ gì hết, vì số người Hoa ở đây làm ăn buôn bán khá đông, lại luôn có liên hệ với Hồng Công và Đài Bắc…
Người tình báo viên này ở Hải Phòng không lâu vì nhiệm vụ của anh ta không phải ở đó. Anh ta lên Hà Nội và tung tiền ra cho lãnh sự quán Tưởng Giới Thạch kiếm giấy căn cước và hộ chiếu để vào miền Nam Việt Nam. Giữa năm 1952, người tình báo viên lọt được vào thành phố Sài Gòn, anh ta luồn sang Chợ Lớn, “thủ đô” của giới Hoa thương. Lúc đó, chi bộ cộng sản Trung Quốc toàn những người Hoa lao động nghèo khổ. Cuộc cách mạng Trung Quốc vừa thắng lợi, hình ảnh nước Trung Hoa đỏ đang làm ghê sợ chẳng những các nước phương Tây mà ngay cả những tiểu tư sản hay tư sản người Hoa đều hoảng hốt. Rồi tin tức về những cuộc Tam phản, Ngũ phản, về cuộc cải tạo công tư hợp doanh từ lục địa Trung Quốc lan đi càng làm cho những thương gia Hoa kiều nghi kỵ và căm ghét ngay chính tổ quốc của họ…
Người tình báo viên trẻ chỉ có thể dựa vào những người Hoa nghèo hèn nên anh không thể nào với lên được cái tầng lớp thương nhân cỡ lớn đang nắm nhiều nguồn kinh tế và tài chính, lớp người mà anh cần phải tranh thủ và tổ chức thành nòng cốt của đội quân thứ năm, đúng theo như chỉ thị của Bắc Kinh. Anh hoạt động khá vất vả, phải khéo léo thuyết phục lắm mới lôi kéo được một số người tha thiết với tương lai và sự hùng mạnh của đất nước Trung Quốc. Mục tiêu của anh rộng lớn hơn, anh ta muốn từ đất Sài Gòn – Chợ Lớn này gây dựng cơ sở để làm bàn đạp đánh thông sang tận Cam-pu-chia và Thái Lan.
Nhưng đến giữa năm 1953, tức là sau khi anh xâm nhập được tròn một năm thì, mọi tổ chức của anh đều bị bọn Phòng nhì Pháp đánh hơi thấy và phá tan tành. Thì ra đã từ lâu, trong số người mà anh ta tổ chức đó, nhiều kẻ đã bán mình cho các cơ quan gián điệp phương Tây, kẻ theo Phòng nhì1, kẻ bị CIA mua chuộc và có kẻ còn ngoắc tay với bọn tình báo Anh2… Những kẻ ấy vờ theo anh rồi bán tất cả tổ chức của anh cho kẻ thù. Với tuổi đời còn quá trẻ, lại thiếu kinh nghiệm tiếp xúc với giới thương gia, anh không hiểu nổi mọi uẩn khúc của nghề kinh doanh nên không đánh giá hết bản chất thật của họ. Và tất nhiên là anh phải gánh lấy mọi thất bại. Bọn Phòng nhì Pháp chăng lưới để vây bắt anh. May nhờ được một người Hoa yêu nước và tốt bụng báo tin nên anh đã thoát khỏi. Anh chỉ kịp thông báo về trung tâm rồi vù thẳng ra miền Trung. Đó là phương án cuối cùng mà anh đã thỏa thuận với thượng cấp. Tại một thị xã ở miền Trung Việt, anh có mấy gia đình họ hàng, đồng hương, anh có thể đến đấy, nhận họ hàng rồi chờ thời cơ móc nối nhiệm vụ tiếp.
Kẻ địch vẫn theo dõi anh rất chặt. Trên đường từ miền Nam ra, anh đã bị chúng săn đuổi và bị bắn trọng thương. Nhưng anh vẫn đủ sức lết tới một gia đình lao động ở thị xã Phan Thiết. Gia đình đó lại là cơ sở của lực lượng kháng chiến Việt Nam. Họ đã cứu anh như cứu giúp một chiến sĩ cách mạng và báo tin cho các tổ chức hoạt động bí mật trong thị xã. Các chiến sĩ biệt động đã đưa anh lúc đó bị thương khá nặng về căn cứ kháng chiến của Khu 5.
Khi tôi được lệnh đến gặp anh thì anh – người tình báo viên Trung Quốc, đang trong tình trạng sống dở chết dở. Anh bị thương trúng ngay cột sống, không có cách gì cứu chữa. Trong một chiếc lán riêng biệt ở rừng, trên chiếc giường cá nhân có phủ nệm cỏ, anh nằm bất động. Nửa người dưới đã bị liệt hoàn toàn. Nhìn người thanh niên cùng tuổi với mình, đang chết dần vì trúng đạn kẻ thù, lòng tôi vô cùng thương cảm. Lúc đó chúng tôi thực sự coi anh như một người đồng chí cùng lý tưởng. Chúng tôi quyết tâm cứu chữa anh bằng mọi biện pháp có thể được. Anh lắc đầu, anh biết anh không có hy vọng gì sống nổi và nếu có sống cũng chỉ là cuộc sống thoi thóp và tàn phế. Anh không còn hy vọng được đi lại như mọi người bình thường, không còn tiếp tục hoạt động được nữa và không bao giờ có thể trở về được Trung Quốc, trở về với tỉnh Phúc Kiến quê hương anh… Lúc này đây, ở bên ấy, những người cùng tuổi như anh đang tưng bừng xây dựng lại đất nước, tuổi trẻ của anh không được may mắn như họ. Anh phải đi xa tổ quốc để làm một công việc mà chính anh cũng chưa hiểu hết tại sao phải làm. Đất nước của anh rộng mênh mông, suốt từ dãy Hi Mã Lạp Sơn đến giáp bờ Đông Hải, suốt từ Tân Cương đến biên giới Việt Nam. Dân tộc anh lại rất đông, quá đông là đằng khác, lúc đó đã chiếm hơn nửa tỷ người, lại đói, lại rét, biết bao người đang không có nhà ở, không có quần áo mặc, không có miếng cơm ăn và đang có biết bao nhiêu công việc cần phải làm… Vậy mà tại sao người ta lại cử anh đi ra ngoài nước để làm những nhiệm vụ kỳ quặc, chẳng có lợi ích gì cho những người dân bình thường? Người ta muốn mở rộng ảnh hưởng đến những nước xa lạ, buộc những nước này phải chịu lệ thuộc vào Trung Quốc giống như những người da trắng đã đối xử với dân tộc anh khi xưa? Nước anh đã là một nước xã hội chủ nghĩa, chẳng nhẽ một nước xã hội chủ nghĩa lại còn đi rình mò kiềm chế sự tự do phát triển của các dân tộc láng giềng? Tất cả sự thật dường như trái với mọi điều, mọi nguyên lý mà anh được học tập tại trường Đảng và được đọc trên các cuốn sách do chính các đồng chí lãnh tụ của anh đã viết ra. Công việc mà anh vừa tiến hành ở Việt Nam suốt một năm trời nay có giúp ích gì cho cuộc kháng chiến chính nghĩa chống thực dân Pháp của nhân dân Việt Nam? Vậy mà khi anh bị bọn thực dân đuổi bắt, rồi bị bắn trọng thương, thì lại chính những người Việt Nam kháng chiến đã cứu anh…
Trong những ngày cuối cùng của đời mình, người tình báo viên Trung Quốc đã suy nghĩ rất nhiều, đã tỉnh lại, đã chua chát nhận thấy do sự phản trắc của những người lãnh đạo trực tiếp, những Hoa kiều giàu có nên anh đã bị đẩy vào tình thế tuyệt vọng này. Những người mà anh có nhiều kỳ vọng nhất, chẳng riêng anh mà cả các cấp trên của anh cũng vậy, những thương gia cỡ lớn ở Sài Gòn đã bán đứng số phận của anh cho kẻ thù…
Giữa lúc đó, tôi được lệnh đến gặp anh. Anh muốn thổ lộ tất cả với chúng ta, muốn cho chúng ta biết mọi sự thật về anh để đáp lại tấm lòng cưu mang giúp đỡ của nhân dân ta đối với anh. Vả lại anh cũng muốn được thanh thản trước khi từ giã cõi đời này….
Trong cái lán giữa rừng, cách những lán thương binh khác một con suối, chỉ có tôi và anh với một vài bác sĩ, y tá ngày ngày đến thay băng và tiêm thuốc cho anh. Gương mặt người thanh niên Trung Quốc lúc đó thật dễ thương, nước da trắng nhợt vì mất máu, mái tóc đen nhánh và đôi lông mày lưỡi mác, đôi mắt đen và dài.
Khi tôi tự giới thiệu anh cười, nụ cười nhợt nhạt và nắm lấy bàn tay tôi rất lâu:
– Đồng chí, xin cảm ơn đồng chí…
Anh nói nhỏ bằng tiếng Việt Nam khá thạo, chứng tỏ anh đã được chuẩn bị khá chu đáo trước khi rời Trung Quốc.
Tôi kéo chiếc ghế gỗ ngồi bên giường anh và nói với anh rằng: Theo yêu cầu của đồng chí, tôi được cấp trên cử xuống trước hết là thăm sức khỏe của đồng chí, sau nữa xin nghe đồng chí nói. Có điều, tôi xin lưu ý đồng chí rằng: việc này hoàn toàn do tự nguyện của đồng chí. Điều gì đồng chí thấy cần nói cho chúng tôi biết thì đồng chí nói, còn điều gì mà đồng chí cảm thấy không nên nói thì đồng chí không nói. Tôi sẽ không hỏi gì hết. Hai nữa, đồng chí nên nói bằng tiếng Trung Quốc, như vậy vừa đảm bảo được bí mật và đồng chí đỡ mất sức khỏe hơn…
– Cám ơn đồng chí… Những điều tôi muốn nói và sẽ nói với đồng chí, tôi đều đã suy nghĩ kỹ và nếu đồng chí biết tiếng Trung Quốc thì tốt quá. Bởi vì, tuy tôi biết tiếng Việt Nam nhưng nếu nói ít thì được, nói nhiều tôi chưa quen và cũng phải suy nghĩ rất mệt… Cám ơn sự chu đáo của các đồng chí…
Lúc mới tới, tôi chỉ nghĩ tôi sẽ ở đây chừng hai, ba ngày là nhiều. Về sau, khi đã đi sâu vào vấn đề của anh, tôi đề nghị và cấp trên cũng chấp thuận, tôi đã sống bên anh suốt hai tuần liền. Tôi ngủ ngay trong lán của anh, trên một chiếc giường của viện điều trị. Tôi ăn cùng với anh em trong viện, người ta đã coi tôi như một bệnh nhân.
Chúng tôi sống bên nhau suốt cả quãng thời gian ấy, hàng ngày trò chuyện với nhau và dần dà, tôi đã hiểu hết về anh. Anh cũng không giấu tôi điều gì, tất cả mọi bí mất nghề nghiệp anh đều nói lại. Cả quê hương anh, cả cuộc sống hồi thơ ấu của anh, cuộc sống nghèo khổ của cha mẹ anh và anh đã phải bán cho gia đình người bác, hầu hạ họ như kẻ tôi tớ trong nhà cho đến khi người bác ấy bỏ sang Việt Nam, nghe đâu về một thị trấn của miền Trung này, nơi mà vừa rồi anh định tới làm nơi ẩn náu. Anh còn cho tôi cả “cây gia hệ” của anh, nhờ “cây gia hệ” ấy, anh có thể tìm đến những gia đình họ mạc thân thuộc mặc dù họ ở khắp nơi trong nước hoặc ngoài nước… Bây giờ, tôi có thể hình dung được hết mọi hoạt động của anh và chẳng sót điều gì về anh mà tôi không thuộc, cứ như tôi là anh vậy.
Sau khi tôi từ biệt anh được gần một tháng, tôi được tin anh đã tới giây phút hiểm nghèo. Anh đã lâm vào tình trạng hôn mê, luôn luôn hôn mê. Mọi thứ thuốc điều trị mà chúng ta kiếm được trong hoàn cảnh lúc bấy giờ, không thể làm bệnh tình anh thuyên giảm được. Vết thương mỗi lúc một trầm trọng, tàn phá cơ thể anh rất dữ dội. Người ta chỉ còn trông cậy vào sức lực và nghị lực của chính bản thân anh. Nhưng sức người cũng có hạn. Một tuần sau, anh từ trần. Khi tôi được tin, cuốc bộ hơn hai mươi cây số đường rừng để đến với anh thì anh không còn nữa… Anh đã được mai táng như một chiến sĩ cách mạng. Một vòng hoa rừng đặt trên nấm mồ anh, nầm mồ vì điều kiện bí mật không đặt mộ chí, không khắc tên tuổi và nghề nghiệp cũng như năm sinh và ngày mất. Mồ của một chiến sĩ vô danh.