Hơn mười năm sau…
Thời gian trôi đi rất nhanh khiến nhiều khi bản thân tôi phải giật mình khi liếc mắt nhìn trong gương thấy mái tóc mình đã trụi hói, trơ ra mảnh trán nhẵn hằn những nếp nhăn, khi thấy con gái tôi đứng cạnh mẹ nó, hai mẹ con đã cao ngang nhau, không Tú Hoa của tôi còn cao hơn mẹ nó, thân hình nó phổng phao, hai má đỏ căng tràn đầy sinh lực. Còn mẹ nó, cô giáo của trường cấp II Quảng Yên năm nào, người vợ thân thương của tôi cũng đã luống tuổi, lưng đã hơi còng xuống và những nếp chân chim mờ mờ hiện ra ở hai đuôi mắt.
Mười năm qua, ít người tính đến thời gian, bởi nó đi quá nhanh chăng? Không, bởi tất cả chúng ta trong khoảng cách thời gian ấy đều đắm mình trong cuộc chiến tranh ác liệt chống lại cuộc xâm lược và nô dịch của nửa triệu lính Mỹ và non nửa triệu lính chư hầu, lính ngụy. Và chúng ta đã thắng, mùa xuân năm 1975 là cái mốc lớn trong lịch sử Việt Nam, cuốn hút mọi suy tưởng của tất cả mấy chục triệu con người. Và sau đó lại dồn dập bao nhiêu là công việc, là niềm vui của những cuộc gặp gỡ, và cả nỗi buồn của những buổi chia ly…
Ở cái thị xã vùng biên bé nhỏ và thơ mộng của tôi, cuộc sống mười năm qua cũng sôi động trong sự sôi động chung của cả nước. Còn bản thân tôi thì sự sôi động phải nhân lên gấp ba, bởi vì tôi đang phải sống với ba con người. Nói cho chính xác hơn, tôi phải có ba bộ mặt khác nhau trong cuộc sống. Thứ nhất, bộ mặt hợp pháp nhất của tôi, bộ mặt phải phơi ra hàng ngày để tiếp xúc, nói năng, trò chuyện với xã hội. Tôi là một cán bộ lâm nghiệp, một đảng viên Cộng sản Việt Nam, đồng thời tôi là một người Việt gốc Hoa. Điều này ai ai cũng biết – từ đứa trẻ nhỏ đến bà con thị xã. Đã lâu, tôi không còn làm việc bên Ty lâm nghiệp tỉnh nữa. Trước kia tôi đã giữ trọng trách phó ty, làm mãi rồi cũng đến lúc được thăng lên trưởng ty. Nhưng ở cương vị lãnh đạo một cơ quan của tỉnh, tôi rất khó làm việc – nhất là công việc ấy không phải là nhiệm vụ chủ yếu của tôi. Hơn nữa tôi lại là “người Việt gốc Hoa”. Những năm sau này, từ khi Nich-xơn sang thăm Bắc Kinh, bắt tay với các lãnh tụ vĩ đại của Trung Quốc, những người Hoa sống trên mảnh đất rực lửa vì bom đạn của Mỹ luôn luôn có mặc cảm mình là kẻ phản trắc.
Qua sự đạo diễn của anh Tư, tôi được chuyển về làm chuyên viên ở Ủy ban Khoa học của tỉnh, được phân công nghiên cứu một số đề tài về rừng. Tôi rất mừng vì từ nay tôi có nhiều thời gian hơn để làm nhiệm vụ của mình. Tôi có nhiều dịp đi lên các huyện vùng biên để sưu tầm tư liệu giúp cho việc nghiên cứu và cũng là dịp để tiếp xúc với “các đồng chí” của tôi trong các “tổ cách mạng văn hóa”.
Bộ mặt thứ hai của tôi là gì? Là một trong ba anh em “Kết nghĩa vườn đào”, là người chiến sĩ trung kiên của Mao Chủ tịch. Điều này rất bí mật bởi nó bất hợp pháp, chỉ có mấy người trong bọn họ biết và Huy, lẽ tất nhiên là cả anh Tư, đồng chí phụ trách của tôi. “Huynh trưởng” rất hài lòng về kết quả công việc của tôi. Những tổ và tiểu tổ “cách mạng văn hóa” được xây dựng rải rác ở nhiều huyện trong tỉnh. Có đủ loại người nằm trong đó, thanh niên các dân tộc, cả phụ nữ và người già. Tôi đã đưa “Tạ tư lệnh” trực tiếp xuống kiểm tra một số tổ sát biên và ông ta có vẻ rất khoái về những lời phát biểu hăng hái và cuồng nhiệt của các tổ viên, tưởng những tất cả tấm lòng của dân tộc Việt Nam đã từng bị các quan phương Bắc cai trị hàng nghìn năm, bây giờ vẫn một lòng một dạ hướng về “mặt trời đỏ”, tất cả đều bừng bừng khí thế như một lò thuốc súng, chỉ cần có mồi lửa nhỏ là bắt nổ kinh khủng. Như vậy là tôi đã làm tròn nhiệm vụ tổ chức và gây dựng lực lượng trong “bộ tư lệnh” phản loạn này. Nhưng còn nhiệm vụ chính yếu của tôi thì vẫn dang dở. Tôi vẫn chưa nắm được bản sơ đồ ghi những điểm cất giấu vũ khí hiện còn nằm trong tay lão chủ hiệu ảnh. Chưa có cách gì moi được ở nó, mặc dù tôi là một đồng chí tin cẩn của nhóm “Lưu – Quang – Trương”. Có thể lão tuy tin tôi, thật sự tin tôi nhưng vì nguyên tắc bí mật “ai biết việc người ấy” của nhóm mà lão không thể hở ra cho tôi biết. Phải đợi đến giờ G nào đó, giờ khởi sự, tôi mới nắm được các kho vũ khí để điều quân tới lấy và trang bị cho họ. Khi tôi tỏ vẻ nôn nóng và sốt ruột, “Tạ tư lệnh” lại trấn an tôi ngay:
– Đồng chí phải tuyệt đối tin tưởng vào tổ chức. Vũ khí sẽ được trao cho đồng chí trước khi cần nổ súng không quá một khắc.
Và cũng có thể Cắm Sềnh chưa thật tin tôi. Suốt từng ấy năm, thái độ của lão đối với tôi rất dè dặt. Đúng là mối quan hệ công khai của tôi với lão chả có gì đáng gọi là thân thiết bởi vì cương vị của tôi khác với cương vị của lão trong cái thị xã vài ngàn dân này. Tôi là một cán bộ lâu năm, là một tri thức; còn lão, một chủ hiệu ảnh. Chúng tôi không thể đi lại giao du thân thiết với nhau được. Chỉ trừ có hai đứa con chúng tôi, thằng Voòng Chuýn con trai lão và cháu Tú Hoa nhà tôi, hai đứa là bạn học cùng lớp cùng trường… Thế nhưng bên trong tôi với Cắm Sềnh là đồng chí của nhau, cùng chiến đấu trên trận tuyến thầm lặng này, vậy mà trong các lần gặp gỡ bí mật với tôi hoặc với cả “Tạ tư lệnh”, Cắm Sềnh vẫn rất dè dặt. Lão chỉ báo cáo vắn tắt công việc đã làm, đang làm, rất chung chung dường như mọi chi tiết cụ thể khác, lão đã nói riêng với “anh Cả”. Tôi cũng buộc phải làm theo lão, không nói gì ngoài những số liệu và tư tưởng của những người mà tôi phụ trách. Tất nhiên, những cuộc gặp gỡ tay ba như vậy rất hiếm vì “anh Cả” không muốn cả ba chúng tôi ngồi chung một nơi. Ông ta tỏ ra rất cảnh giác và rất sắc sảo trong công tác bí mật. Mọi công việc đều được truyền đạt qua Huy…