Trước lúc lên đường, tôi nói với anh Tư rằng số phận của tôi vẫn còn bị ràng buộc với số phận của Tạ. Nếu như lão trốn thoát thì ở bên kia tôi sẽ bị đi tong. Anh Tư nắm tay tôi:
– Đó là trách nhiệm của bọn mình. Cậu không phải lo…
Thật ra kế hoạch trước kia của tôi là cho đến phút cuối cùng, tôi không dằn mặt với Tạ. Và như thế, dù còn sống hay chết, dù bị bắt hay chạy thoát, lão vẫn không có cơ sở gì để ngờ vực tôi. Bây giờ thì khác rồi… khác ở chỗ lão không còn chút hi vọng gì để trở về nữa…
Anh Tư nhắc lại với tôi một lần nữa, người mà tôi sẽ bắt liên lạc hoặc sẽ tìm đến bắt liên lạc với tôi sau này. Người ấy hình dạng ra sao, chính anh cũng chưa thể biết được. Tất cả chỉ có những quy định về ám hiệu, mật hiệu để tìm đến nhau mà thôi. Và tôi lại phải chờ như tôi đã từng chờ đợi người của tôi ở bên kia cử sang. Thời gian chờ đợi nào có ngắn ngủi lắm đâu, phải tính hàng năm, hàng chục năm… Nhưng xưa kia tôi còn trẻ, tóc tôi còn xanh; còn bây giờ đã trên năm chục tuổi rồi và mái tóc đã hói, đã điểm bạc… Lần này chắc chắn sự chờ đợi của tôi sẽ ngắn hơn: chúng ta chẳng hề có âm mưu xâm chiếm tiến công hay lật đổ gì đối với họ, chúng ta chỉ muốn biết những âm mưu ấy để mà giữ thân. Chúng ta chẳng có gì để “trường kỳ mai phục” cả…
Tuy nhiên, bước đầu tiên là tôi phải nán lại hai ngày. Trước hết để cho vết thương ở bả vai của Huy đỡ nhức nhối. Cũng may lúc ở trong hang, anh đứng chênh chếch bên cạnh Tạ, nên tên vệ sĩ của lão không dám bắn thẳng và viên đạn mới lướt vào vai Huy. Dứt khoát Huy đòi đưa tôi qua biên giới, đó là sự gắn bó suốt mười mấy năm giữa hai chúng tôi. Suốt mười hai năm ấy, ở đây chỉ có hai chúng tôi biết nhau, thông cảm với nhau và an ủi động viên nhau. Vậy thì việc anh đòi đưa tôi đi không ai từ chối được. Nhưng việc nán lại của tôi còn một lý do khác nữa: phải đợi việc hủy lệnh phong tỏa biên giới có hiệu lực, các đội tuần tra và các tổ chốt dọc đường biên rút về, việc kiểm soát các cửa khẩu, các đường đi ngang tắt lơ là lỏng lẻo. Và như thế sự vượt biên của tôi mới tỏ ra hợp lý…
Cuối cùng thì cũng đã đến giờ phải lên đường. Chỉ có anh Tư đứng tiễn chúng tôi. Tôi ôm chặt lấy anh như ôm chặt tất cả mọi người thân yêu nhất của tôi, vợ con gia đình bạn bè đồng chí và cả nhân dân, cả Tổ quốc mến thương… Cuộc ra đi bí mật nên ngoài anh Tư chẳng còn ai khác nữa. Lúc đó đã xế chiều… Từ đây đến chặng nghỉ cuối cùng của lão Tạ không còn bao xa nữa…
Tôi và Huy mỗi người một ngựa lóc cóc ra đi. Trời vẫn mưa phùn và gió bấc. Mưa rét tuy có làm khổ cho thân xác tôi, nhưng cũng rất thuận tiện cho việc ra đi này…
Không hiểu tại sao, hai ngày nay tôi luôn bị ám ảnh bởi cái nhìn của Tạ. Đôi mắt lão nhìn tôi trước lúc bị dẫn đi, đôi mắt già nua và lút sâu trong tròng mắt bỗn quắc lên đầy vẻ căm giận và tức tối. Lão thù hận tôi giống như một tên tướng cướp bị sa cơ thù hận người đã bắt hắn.
☆ ☆ ☆
Đêm ấy, tôi và Huy ngủ trong một ngôi nhà sàn đầu bản. Chủ nhà này cũng là thành viên trong những tổ quỷ do Tạ đích thân tổ chức. Những tổ quỷ ấy vừa qua đã bị lực lượng an ninh biên phòng hót sạch. Ngôi nhà lúc này do một người của Huy đến ở để đón lõng các vị khách từ bên kia tạt sang. Chủ nhà dọn cơm cho chúng tôi ăn và dọn chỗ cho chúng tôi nằm. Ông ta cũng chỉ biết Huy chứ không biết tôi nhưng không hỏi han, nói năng gì hết. Chúng tôi đi nằm sớm và trò chuyện bình thường, không một ai trong chúng tôi đả động đến việc ra đi của tôi. Mà cũng chẳng có gì để nói, mọi chuyện đã được bàn tính, đã trao đổi tới tất cả các chi tiết nhỏ nhất. Còn về tình cảm ư? Lại càng không nên đả động tới, không nên nói ra miệng những tình cảm trong sạch và thiêng liêng, hãy để chúng nằm ở trong trái tim mình và hãy truyền cho nhau qua nụ cười, ánh mắt. Và suốt buổi tối, nằm bên tôi, Huy cứ nắm lấy bàn tay tôi y như sợ tôi biến mất.
Tôi đã luống tuổi mà Huy cũng không còn trẻ nữa, gần bốn mươi rồi. Chúng tôi đều biết tự kiềm chế tình cảm của mình. Huy thì đơn giản hơn, anh chỉ có mến thương tôi, nuối tiếc tôi. Chứ tôi thì có bao nhiêu điều day dứt. Lúc này tôi không hề nhớ đến một con người cụ thể nào, mặc dù khi nghĩ rằng vào giờ này vợ tôi và con tôi chắc chưa ngủ, hai mẹ con đang ngồi bên nhau nhắc lại những kỷ niệm đẹp đẽ nhất về tôi, nhưng tất cả đều không làm cho tôi day dứt, bồn chồn bằng khi tôi chợt nghĩ rằng, đây là đêm cuối cùng tôi nằm trên mảnh đất thiêng liêng của Tổ quốc. Bằng giờ này ngày mai, tôi sẽ ở đâu nhỉ? Chắc chắn phải trên một mảnh đất nào đó không phải Tổ quốc mình, tôi là một con người khác, gốc tích khác, quê hương Tổ quốc khác…
Có lẽ Huy không hề chợp mắt, anh chỉ nằm im lặng bên tôi. Khoảng ba giờ sáng, Huy trỗi dậy bấm đèn nhìn đồng hồ rồi chui ra khỏi chăn, lần đến chỗ ông chủ nhà nằm ngủ. Huy đánh thức ông ta dậy, nói khẽ điều gì đó. Người đàn ông lẳng lặng khoác thêm tấm áo rồi tụt xuống sàn ra đi… Tôi hiểu ông ta đi trước chúng tôi để bám đường…
Một giờ sau đến lượt tôi và Huy. Chúng tô mò mẫm đi bộ, hai con ngựa đã cột chặt dưới gầm sàn. Ánh đèn pin của Huy họa hoằn lắm mới lóe sáng rồi vụt tắt. Trời không còn mưa nhưng rét, rét kinh khủng. Tôi vốn sinh trưởng ở miền Cực nam, tuy đã ra Bắc hăm lăm năm rồi, vẫn không thể nào quen được với cái rét dứt thịt dứt da này, rét buốt, tê cứng cả mặt mũi chân tay.
Từ đây ra tới cột mốc đường biên chừng hơn hai cây số. Đó là quãng vượt theo quy định của Tạ. Non một giờ nữa tôi sẽ vượt theo quãng ấy, Huy cho biết ở đó chạy dọc theo một con suối mùa này đã cạn khô. Hết con suối, rẽ lên tay trái, chừng ba ki-lô-mét đã có nhà dân rồi…
Chúng tôi chui hẳn trong một vùng toàn cỏ gianh bạt ngàn. Lá cỏ sắc lẹm và ướt sũng quệt vào mặt tôi, xót và buốt như dao cứa. Mặt tôi càng tê cứng.
Chợt Huy dừng lại kéo tôi ngồi xuống. Đó là một mảnh nương mới tỉa của dân. Có tiếng tặc lưỡi như mối kêu đâu đó. Huy bảo tôi ngồi im và anh lần lần đi lên phía trước. Lát sau, Huy quay lại:
– Tốt rồi anh Bảy ạ… TÌnh hình rất êm… Anh cứ đi thẳng hết mảnh nương này, rẽ tay phải chừng một trăm mét là tới cột mốc… Nhưng thôi, em dẫn anh đi, bao giờ chạm cột mốc em quay về.
Tôi gạt đi:
– Thôi Huy ạ… Đừng tiễn thêm một đoạn đường nữa làm gì… Cũng không hơn gì cả, em ạ! Trước sau cũng phải chia tay…
– Thế thì anh ngồi nán đây với em dăm phút nữa rồi hãy đi…
– Ừ…
– Anh có dặn gì nữa không?
– Dặn à?... Dặn cậu năm nay phải lấy vợ đi. Băm sáu tuổi rồi, trẻ trung gì nữa… khi mình về, chắc chắn mình phải trông thấy cậu có gia đình vợ con đàng hoàng…
– Em xin hứa sẽ lấy vợ năm nay…
– Đã có ai chưa?
– Chưa… Nhưng sẽ có… Anh Bảy này!
– Gì?
– Anh cứ yên tâm về chị và cháu. Ở nhà em với anh Tư sẽ lo liệu chu đáo, anh không có gì phải băn khoăn…
– Cám ơn em… Thôi anh đi, cho anh gửi lời chào anh Tư, chào tất cả các anh… Từ biệt em, chúng ta nhất định sẽ gặp nhau…
Tôi ôm choàng lấy Huy và Huy ghì chặt tôi, gục mặt vào vai tôi y như một chú bé. Rồi anh rời tôi và đứng lên…
Tôi nắm tay Huy lần cuối cùng. Tôi quay người nhìn lại phía trước, tối mù mịt và gió cứ thổi thốc vào mặt. Cứ thế tôi bước đi, chân bập bõm trong đám nương. Khoảng mười lăm phút sau, tôi mới lần ra tới cây cột mốc. Nó đây rồi!
Tôi ngồi hẳn xuống ôm lấy cái cột mốc xi măng chênh vênh trên lưng chừng đồi. Sau lưng tôi là Tổ quốc, là đất nước thân yêu. Tôi quay đầu nhìn lại một lần nữa mảnh đất đã sinh ra tôi, chẳng có gì khác ngoài một màu đen của đêm tối. Bên kia cũng mù mịt như vậy… Bằng mắt thường chẳng làm sao có thể phân biệt được ranh giới giữa hai nước, đâu là đất nước của mình, đâu là của người. Nhưng chỉ với linh cảm, và với trái tim, lúc này tôi thấy rõ nơi tôi vừa ra đi trời hửng sáng và đất ấm chân người.
Khi tôi tụt xuống lòng con suối cạn, hai tay lần lần những tảng đá lổn nhổn, hai chân mò mẫm tìm đương, tôi có cảm giác như mình đang chui vào một cái hầm rất sâu và rất dài. Cứ thế mà đi… Tôi đang là một người lính trên đường ra trận tuyến, con đường suối cạn này rất giống như một chiến hào. Đã là người lính thì chỉ có xông lên và chiến thắng…