Thị Xã Vùng Biên

Lượt đọc: 2677 | 1 Đánh giá: 10/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 16

Chiếc xe đậu im lìm trong màn mưa phũ phàng. Tôi lép nhép tiến lại cái khối bất động đen sì ấy và tôi nghe có tiếng người hỏi:

– Bảy phải không?

– Tôi đây! Tôi nghe giọng anh Tư và bước mau hơn.

Cánh cửa xe mở ra, tôi vội tháo mảnh vải mưa cuộn tròn lại. Một bàn tay thò ra nắm lấy tay tôi, kéo tôi vào xe. Tôi ngồi cạnh anh Tư. Ghế trên có một người nữa ngồi bên lái xe. Mới đầu trời tối quá, tôi không nhìn rõ. Mãi sau, khi đèn pha ô tô bật sáng, tôi mới chú ý đến anh ta . Đó là một thanh niên trẻ, ăn mặc kiểu quần áo dân tộc… Xe rồ máy, từ từ lăn bánh. Tôi ngoái lại, cố nhìn một lần cuối cùng cái thị xã vùng biên của tôi, nơi mà tôi đã sống cùng gia đình và hoạt động trên mười hai năm… Trời vẫn kéo dài những sợi mưa nhỏ li ti, màn đêm trùm kín. Thị xã nằm phía sau, qua chiếc cầu xi măng này, tôi không nhìn thấy gì hết ngoài một đốm lửa leo lét như một vì sao. Không biết đó có phải ánh đèn dầu hắt ra ở nhà tôi và lúc này cả hai mẹ con vẫn còn đứng sững trước cửa với ngọn đèn trên tay cố ý soi đường cho tôi…?

Trời đêm mù mịt, mưa không dừng lại phút nào, đường trơn và lầy lội. Chiếc xe com-măng-ca nghiêng ngả chạy trên con đường ngược lên biên giới.

Anh Tư vẫn in lặng ngồi bên tôi, xe lắc lư, hai chúng tôi đập vai vào nhau. Bàn tay của anh Tư vẫn nắm lấy bàn tay tôi. Anh chẳng nói gì cả, tôi cũng nín thinh. Tôi biết anh Tư đang lo nghĩ nhiều về tôi, còn tôi lại suy nghĩ đến người bạn trẻ là Huy.

Tôi hỏi:

– Có tin tức gì của Huy chưa, anh Tư?

Anh lắc đầu; ngồi thừ ra. Tôi nói tiếp để anh yên tâm: - Nhưng tôi nghĩ rằng không có chuyện gì xảy ra đâu, anh Tư ạ! Cậu huy bản lĩnh lắm, chẳng thế mà chúng nó đặt tên cho cậu ấy là Triệu Tử Long…

Lâu lâu anh Tư mới lên tiếng:

– Mình cũng nghĩ vậy… Dù sao cũng rất sốt ruột… Lần này mình đã cử một đồng chí đi cùng. Nếu không gặp được Huy thì đồng chí ấy sẽ đi cùng với các cậu biên giới… Đồng chí ấy ngồi ghế trên đó, người dân tộc Tày rất quen thuộc vùng này – Nông Viết Sơn, tên là Sơn. Lát nữa hai đồng chí làm quen với nhau…

Như vậy, chuyến vượt biên này của tôi đã được cấp trên rất quan tâm. Anh Tư thật sự lo lắng cho tôi, nên anh đã cử thêm người giúp đỡ tôi… Tôi ngồi im, bồi hồi…

Xe chạy hết đêm mới tới đồn biên phòng. Lúc ấy hãy còn quá sớm, mưa vẫn dăng trắng xóa. Các chiến sĩ vừa ngủ dậy đang tập thể dục trong hiên nhà cho nóng người. Chiếc xe của chúng tôi ậm ạch bò lên đồi, bốn bánh xe bê bết những bùn đất nhão nhoét. Đồng chí đại úy đồn trưởng đích thân chạy ra mở cổng và đưa chúng tôi vào phòng riêng. Anh chạy đi chạy lại đem nước rửa mặt và nước sôi pha trà.

Anh Tư vẻ nôn nóng giữ anh lại và hỏi thăm về Huy. Đồng chí đại úy vội lấy trong xà cột một mảnh giấy đưa anh Tư. Thư của Huy để lại: “K8 gửi K4. Con gấu bị lạnh đã ra khỏi hang. Nó đi theo đường đã định trước – Đường này K7 đã biết. Tôi vẫn bám theo để bảo vệ nó và tìm cách kìm chân nó – Các anh nên lấy lão thợ ảnh dẫn đường để theo tôi”.

Đồn trưởng biên phòng chờ cho anh Tư đọc xong, nói:

– Thư này tôi mới nhận được tối hôm qua. Tôi định điện về tỉnh nhưng nghe tin thủ trưởng đang trên đường lên đây nên tôi lại thôi…

Anh Tư hỏi:

– Tình hình biên giới thế nào?

– Báo cáo thủ trưởng, chúng tôi đã được lệnh khóa chặt biên giới từ tuần trước, đến nay tình hình vẫn ổn định. Đồn chúng tôi và đồn 17 đã phối hợp tuần tra, canh gác ở các trọng điểm hăm bốn trên hăm bốn. Các cửa khẩu, các cột mốc và các khe suối mọi đường đi lối lại, chúng tôi đều bố trí các tổ chốt, bảo đảm không một kẻ nào lọt qua được…

Anh Tư gật đầu:

– Tốt lắm… Bây giờ đồng chí cho bọn tôi ăn tạm chút gì đó. Rồi kiếm cho ba con ngựa tốt cho ba chúng tôi. Ăn xong, chúng tôi đi ngay. Bây giờ là năm giờ mười lăm, muộn nhất là sau giờ phải lên đường đuổi theo…

– Báo cáo, thủ trưởng có cần đến sự chi viện của chúng tôi?

– Cho thêm một tổ phối hợp cùng đi…

– Tôi sẽ đi cùng với hai chiến sĩ nữa, được chứ ạ?

– Tùy đồng chí thu xếp… Không cần nhiều người, ít nhưng phải một chọi mười.

Sáu giờ, mưa đã ngớt nhưng mù còn rải trắng xóa và gió rét không ngừng từ bên kia biên giới thổi về. Sáu con ngựa gõ móng vượt ra khỏi đồn. Tôi dẫn đầu cả đoàn, đi theo con đường mà Tạ đã vạch sẵn. Trước khi lên đường tôi đã nghiên cứu tỉ mỉ trên tấm bản đồ của đồng chí đồn trưởng biên phòng. Con đường bí mật do Tạ chuẩn bị từ lâu, con đường sinh tử của y, thật hiểm hóc mà chỉ những người thật thông thuộc và am hiểu núi rừng mới dám đi. Nó đã được Tạ chia ra làm nhiều chặng nghỉ, như những trạm của ta, men dọc theo đường biên để tới một quãng vươt. Huy đã bám theo Tạ đi trước chúng tôi gần một ngày và một đêm, khoảng hai mươi tiếng đồng hồ. Nhưng họ đi bộ và mưa rét đã cản bước chân của họ. Còn chúng tôi đi ngựa, tốc độ có thể nhanh gấp ba, gấp bốn họ; ấy là ngựa đi luồn rừng và leo dốc, không được thả sức phóng nước đại như những nơi bằng phẳng. Trong thư để lại, Huy không nghĩ là tôi đang dẫn anh em bám theo anh, Huy không biết mãi đêm qua tôi mới thực hiện kế hoạch “chạy trốn”, nên anh đã viện tới sự có mặt của Voòng Cắm Sềnh.

Anh Tư luôn luôn thúc ngựa theo sát tôi. Tôi biết tuy không nói ra nhưng anh đang sốt ruột, phần thì lo cho Huy, phần thì sợ lão Tạ chạy thoát. Kế sau anh là Nông Viết Sơn, người bạn đồng hành mới của tôi mà chúng tôi vừa làm quen với nhau.

Mặc dù đi ngựa nhưng con đường chưa có dấu chân người, chúng tôi đi theo la bàn, rừng núi chỗ thì hiểm trở, nơi thì lầy lội, đất ướt nhão như thoa mỡ trên những phiến đá, móng sắt ở chân ngựa đặt vào cứ bị trôi tuột, tốc độ của chúng tôi bị giảm sút khá nhiều. Tôi nhìn đồng hồ, ước lượng kiểu này chỉ có thể đi một giờ được khoảng mười cây số không hơn.

Cũng may gần trưa, trời hửng nắng. Chúng tôi đi xuyên qua một thung lũng cỏ gianh bạt ngàn. Anh Tư hạ lệnh người nào đói thì cứ ngồi nguyên trên lưng ngựa, bóc lương khô mà ăn, nước đã sẵn trong bi đông. Chúng tôi tiếp tục đi không nghỉ hy vọng sẽ gặp Huy ở chặng nghỉ thứ hai. Từ chặng nghỉ thứ nhất cách sào huyệt của Tạ - nơi hắn đã trú chân hơn mười năm nay và hắn vừa ra đi – Chừng hai mươi lăm cây số đường rừng. Như vậy, thì ngày hôm qua, hắn đã tới đó, sớm muộn cũng tới được, không hiểu hắn có dám đi tiếp hay nghỉ đêm lại đó. Không hiểu hắn đi ngựa hay đi bộ, bởi khi qua một bãi đất ven suối. Chúng tôi phát hiện có dấu chân ngựa, nhưng chỉ có một con. Có thể Tạ đi ngựa, còn thủ hạ của hắn thì cuốc bộ.

Đi sâu vào một cánh rừng già nguyên thủy, chúng tôi tới chặng nghỉ thứ nhất theo quy định của Tạ. Tôi biết đó là một cái nhà rất sơ sài và rất nhỏ chỉ đủ vài ba người nằm, chênh vênh trên ngọn cây cổ thụ, cheo leo giống như một tổ chim khổng lồ.

Mọi người đã dừng lại gần cửa rừng, chỉ một mình tôi thúc ngựa đi sâu vào trong. Tới gần, tôi đã nhìn thấy một chiếc khăn mặt lấm lem, bẩn thỉu và ướt sũng vắt trên cành cây con sát đất. Tôi cầm lên, nhận ngay được chiếc khăn của Huy. Chiếc khăn này do vợ tôi đưa cho Huy dùng, khi anh ở trên này về thị xã hồi trong tết.

Tôi xuống ngựa và leo lên nhà bằng những cái đinh to đóng sẵn vào thân cây thay cho bậc thang. Trong nhà không có ai, đó đây trên mặt sàn còn vương lại những hạt cơm và những sợi thuốc lá vụn. Góc sàn có bày mấy viên đá sỏi, hình như có bàn tay ai đó đã xếp chúng rất thứ tự, một viên đá lớn bằng bao diêm đặt trước, kế đến ba viên sỏi như cái trứng chim. Đấy là ám hiệu của Huy để lại giống như chiếc khăn của anh vứt dưới gốc cây. Chiếc khăn báo tin anh đã tới nơi đây và đã ra đi, còn bốn viên đá sỏi là tất cả đội ngũ của địch. Viên lớn là lão Tạ cùng con ngựa của lão, ba viên sỏi là thủ hạ đi theo trong đó có Huy.

Tôi còn tìm được mẩu nến vụn đốt cháy dính trên mảnh đĩa vỡ. Nghĩa là đêm qua bọn chúng đã nằm lại đây, trời mưa và rét như thế này, chúng nó không dám liều lĩnh dấn thân trong rừng sâu tối tăm mù mịt. Và, như vậy còn có nghĩa là tuy đánh hơi thấy bị động, Tạ cuốn theo cả đồng bọn ra đi nhưng hắn vẫn còn có vẻ ung dung, tự tin về con đường bí mật này, hắn chưa đến nỗi hoảng hốt chạy trốn, hắn chưa hề nghĩ rằng bọn chúng tôi đang đuổi theo sát nút, hắn chưa có chút ngờ vực vai trò của Huy. Hắn còn tin cậy vào Huy, tất nhiên là hắn vẫn tin vào tôi – chú Ba em út của nhóm. Hắn cũng chưa biết Voòng Cắm Sềnh đã bị bắt cùng với bản sơ đồ của lão… Mọi luồng tin từ trước đến nay vẫn đến với hắn đã bị phong tỏa rất kín và bị chặn đứng…

Có điều còn phân vân là tại sao Tạ lại chuyển chỗ ở lên sát đường biên này? Mà lệnh khởi sự của hắn chưa được phát ra. Cả tôi, cả Cắm Sềnh chưa nhận được chỉ thị ngày giờ cụ thể cho cuộc phản loạn. Chẳng nhẽ Tạ phải rời bản doanh lên tít vùng cao này rồi mới cho lệnh? Hay hắn còn chờ phối hợp hành động với đại quân đang áp sát bên kia biên giới?

Anh Tư và tôi ngồi riêng ra một nơi bàn bạc và trao đổi. Trước hết, anh Tư cũng đồng ý với nhận định của tôi về sự ra đi của Tạ; do đó việc tôi bám sát và tạt đến chỗ Tạ là việc hợp lý, nên làm. Anh cũng nhất trí cho rằng Tạ rời hang ở cũ lên sát đường biên này để dễ dàng phối hợp với đại quân. Hình như mọi công việc chỉ huy của cái ổ phản loạn, chỉ huy trực tiếp các đội sơn cước đã được giao cho một nhân vật nào đó. Người ấy có thể phán đoán được, đó là Lưu Nghị - Rõ ràng tên này vẫn lẩn quất đâu đây, hoặc như một con thú thậm thụt qua lại đường biên.

Cũng có thể lệnh khóa chặt đường biên đã làm cho Tạ hốt hoảng lo sợ, nên đã giống như một con cá nghẹt thở phải ngoi lên mặt nước.

Anh Tư hỏi tôi về khoảng cách của chặng nghỉ thứ hai. Theo bản đồ thì còn phải đi tiếp chừng ba giờ trên ngựa mới tới. Cũng trên bản đồ, đó là một dãy núi đá cao ngất, tôi không hiểu cái trạm ấy được Tạ bố trí ở đâu?

Anh Tư gọi Nông Viết Sơn đến ngồi trước tấm bản đồ vùng với đại úy đồn trưởng đồn biên phòng. Anh thanh niên người Tày chăm chú lắng nghe anh Tư nói và nhìn theo ngón tay anh đang lần lần những vệt xanh mờ in trên bản đồ.

Sơn gật đầu:

– Vùng này tôi biết. Thuở bé tôi đã nhiều lần theo bố đi săn thú có qua lại đấy. Ở dãy núi đá ấy, có một cái hang rất sâu nằm tít trên cao. Leo lên mệt lắm đấy, trời mưa lại càng khó… Nhưng tôi biết, tôi với bố tôi đã ngủ đêm ở đó. Lạnh lắm, phải đốt lửa để sưởi. Dơi núi bay ra từng đàn…

Anh Tư hỏi:

– Từ chỗ ta ngồi đến đó có đường phóng ngựa không?

– Có, nhưng xa… Ngựa thồ còn đi được. Ngày trước cửa hàng mậu dịch vẫn thồ hàng lên đấy… Đi ngựa nhanh lắm, chỉ hai giờ là đến nơi, ngựa chạy được mà…

– Thế này nhé, các đồng chí ạ… - Anh Tư nhìn đồng hồ và quyết định. – Bây giờ đồng chí Sơn đi cùng với anh em công an vũ trang phóng theo đường ấy. Đồng chí Sơn dẫn đường. Cố gắng đi nhanh, càng nhanh càng tốt… Nhưng chú ý một điều: Các đồng chí không được tự ý hành động. Nếu gặp địch giữa đường mà không tránh được, thì các đồng chí coi như đang làm nhiệm vụ tuần tra biên giới. Điều nay ta đề phòng khả năng địch bỏ trốn, vượt biên giới sang bên kia. Nếu chúng nó vào hang thì các đồng chí nhanh chóng hình thành thế bao vây ngay. Tôi với đồng chí Bảy bám theo con đường rừng này, tức là khóa chặt đuôi chúng nó lại… Đội hình của chúng ta như vậy là chia làm hai mũi để tiếp cận địch. Mọi phương án hành động như đã bàn ở nhà, không có gì thay đổi…

Anh Tư cởi chiếc áo biên phòng đổi cho Nông Viết Sơn lấy chiếc áo bông chàm. Sau nửa ngày chui rúc trong rừng, quần áo mũ và mặt mũi chúng tôi đều ngấm nước. Trông anh Tư lúc này giống hệt như hình dạng của tôi, rõ là hai ông lão người Nùng, mặt mũi hốc hác, nhợt nhạt vì giá rét và râu ria lởm chởm…

Chỉ còn lại hai anh em, chúng tôi tiếp tục cuộc hành trình săn đuổi. Lại lom khom trên mình ngựa, len lỏi trong rừng rậm. Con ngựa bước xiêu vẹo và những cành cây luôn luôn quệt vào mặt vào vai tôi, người tôi nghiêng ngả, hai cẳng chân kẹp chặt lấy mình ngựa cho khỏi ngã. Anh Tư theo sau tôi, đầu ngật ngưỡng và đôi mắt cúi xuống như đang ngủ, phó mặc cho con ngựa bước tập tễnh…


Nguồn: TVE 4U
Được bạn:Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 14 tháng 11 năm 2025

« Lùi
Tiến »